Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử
Chương 29: Người Đứng Trên Tường
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
35 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 35/35 chương
Chiều hôm gặp con bé áo xanh, con bé đã được lính đưa về doanh từ quá trưa. Luân về nhà thay cái áo rách bùn, rồi ra giếng đình gánh nước. Nó đang thả gàu thì có tiếng vó ngựa từ Dốc Cửa Mả đổ xuống.
Không phải tiếng lách cách đều đều như hôm diễu binh. Tiếng này lộp cộp, lộn xộn, xen lẫn tiếng người cười nói oang oang. Trẻ con trong xóm nghe thấy trước, ùa ra đầu ngõ như ong vỡ tổ.
Năm người lính cưỡi ngựa đi vào làng. Người đi đầu cưỡi con ngựa hồng.
Đi sau cùng, có một người lính dắt theo một con ngựa lạ. Con ngựa ấy to, cao hơn ngựa Phong Sương Vệ một cái đầu, lông đen tuyền, bờm dài chấm vai, yên cương bằng da thuộc có đính những cái khuy đồng hình mặt trời. Nó bước chậm, ngẩng cao đầu, mắt nhìn xuống lũ trẻ con như nhìn một đàn gà.
"Ngựa gì mà to thế!" Thằng Bống kêu lên, rồi nấp ngay sau lưng Luân.
Ngũ Lâm ghìm ngựa trước cổng đình. Ông không đội mũ, áo giáp cởi một bên vai, mặt đỏ au như vừa uống rượu, dù chưa uống giọt nào. Ông cười. Tiếng cười to, khàn, vang từ gốc đa sang tận bờ ao, cười như người vừa trút được gánh nặng trên vai xuống. Luân chưa bao giờ nghe ông cười như thế.
"Bà hàng rượu đâu!" Ông gọi. "Rượu trong làng còn bao nhiêu, quân tao mua hết!"
Bà hàng rượu đầu chợ chạy ra, tay còn cầm cái muôi. Người lính đi cạnh Ngũ Lâm cởi túi tiền bên hông, đếm từng đồng vào lòng bàn tay bà, đếm đủ, đếm cả phần thừa. Bà cầm tiền, đứng ngẩn ra một lúc, như chưa bao giờ thấy lính mua rượu mà trả tiền.
"Quân tao không lấy không của ai." Ngũ Lâm nói.
Người làng lục tục kéo ra. Có người bưng chè xanh. Có người mang ra một rổ ổi. Ông lý khăn lượt áo the chạy lạch bạch từ nhà ra, vái lấy vái để. Cái sân đình mới mấy hôm trước còn nghe tiếng đàn bà khóc, bây giờ râm ran như ngày hội.
Mẹ thằng Nhỡ chen lên hàng đầu. Bà không dám tới gần con ngựa hồng. Bà đứng cách mấy bước, hai tay vò vạt áo.
"Bẩm quan... thằng Nhỡ nhà con..."
Ngũ Lâm nhìn bà, rồi ông nhớ ra.
"Thằng Nhỡ hả?" Ông cười. "Đào hào nhanh nhất đội. Sáng nay quân đuổi giặc, nó vác bó cọc chạy theo tít đằng sau, gọi mãi không quay về. Suýt nữa thì thành lính chiến."
Mẹ thằng Nhỡ chắp tay lên ngực. Bà cười, rồi bà khóc, rồi vừa cười vừa khóc, mà không biết phải làm cái nào trước.
Luân đứng bên thành giếng, đôi thùng nước vẫn chưa gánh lên vai.
Ngũ Lâm nhìn thấy nó. Ông hất hàm về phía con ngựa đen.
"Ngựa Hạo Nguyên." Ông nói. "Sáng nay chúng nó mò sang, bị quân tao đổ ra đuổi chạy tít qua tường, bỏ lại mười hai con. Con này đẹp nhất, tao dắt xuống cho dân xem."
"Thế là mình thắng ạ?"
"Thắng."
Chữ ấy ông nói gọn lỏn, chắc nịch, như đóng một cái cọc xuống đất.
Người lính dắt ngựa cười hề hề. "Bẩm chủ tướng, Đô đốc không xuống uống với anh em ạ?"
Tiếng cười của Ngũ Lâm chùng xuống một chút. Chỉ một chút.
"Đô đốc ở lại coi doanh." Ông nói. "Đô đốc bảo chúng nó chạy nhanh quá." Rồi ông nhún vai, như gạt câu ấy đi. "Ông ấy lo thì để ông ấy lo. Tối nay anh em uống."
Lính chất rượu lên lưng ngựa, chum nào chum nấy buộc chặt bằng lạt. Ngũ Lâm đưa tay xoa đầu Luân một cái lúc đi ngang qua giếng, rồi thúc ngựa đi trước. Cả đoàn lại lộp cộp kéo lên Dốc Cửa Mả, tiếng cười nói còn vọng lại mãi sau lũy tre.
Luân nhìn theo con ngựa đen.
Con ngựa béo tốt, lông mượt bóng như bôi mỡ, bốn vó sạch sẽ. Trên mình nó không có lấy một vết xước. Nó không giống con ngựa vừa chạy trốn qua một trận đánh. Nó giống con ngựa người ta dắt ra chợ bán.
Luân không hiểu vì sao nó lại để ý chuyện ấy. Nó gánh nước về.
Đêm ấy, trên Dốc Cửa Mả, phía doanh trại, có ánh lửa bập bùng tới khuya, và tiếng hát vọng xuống, lúc có lúc không, không rõ lời.
Gà gáy canh năm, Luân lay thằng Cò.
"Tao lên đồi. Hôm nay đi xa hơn mọi lần."
Thằng Cò mở mắt ngay, như chưa ngủ.
"Xa là bao xa?"
"Dọc tường. Về phía Đông."
Thằng Cò nằm im một lúc, nhìn lên mái bếp đen nhánh bồ hóng.
"Chiều mà mày không về," nó nói, "thì tao lên tìm."
Luân gật đầu trong bóng tối, dù biết thằng Cò không nhìn thấy.
Con bé đã ngồi đợi trên tảng đá nứt từ lúc nào. Nó không mặc áo xanh nữa. Nó mặc một cái áo nâu vải thô, rộng thùng thình, chắc là xin của đứa lính nào nhỏ người nhất doanh, tay áo xắn lên mấy vòng. Tóc búi gọn dưới cái nón lá rách vành. Thanh gươm ngắn giắt ngang lưng, dưới vạt áo. Chỉ có dải băng quấn tay là vẫn trắng, thắt nút ở mặt trong cổ tay, đầu dây giấu kín.
"Muộn." Nó nói.
"Giờ Mão mà."
"Ta tới từ giờ Dần."
"Đêm qua cả doanh uống rượu." Nó nói tiếp, như giải thích mà không cần ai hỏi. "Người canh ta ngáy như kéo bễ lò rèn."
Luân không cãi. Nó đeo lại cái giỏ trên lưng, rút cành ổi ở thắt lưng ra cầm tay, rồi đi. Con bé đi sau.
Men theo chân tường về phía Đông thì không có lối. Bức tường thành đá cứ chạy mãi, lúc cao lúc thấp, lúc lành lúc sạt, chỗ thì rêu phủ xanh rì, chỗ thì cây si, cây sung mọc xuyên qua khe đá, rễ bám chằng chịt như những ngón tay bóp chặt. Dưới chân tường là rừng. Rừng rậm, dây leo giăng mắc, gai móc vào áo, lá mục ngập tới mắt cá. Luân đi trước, lấy dao quắm phát từng nhát. Phát được bụi này thì bụi kia chắn.
Quá chỗ nó hay hái thuốc chừng nửa buổi đường, nó không biết đường nữa.
"Tôi chưa đi quá chỗ này bao giờ." Nó nói.
"Thì bây giờ đi." Con bé nói.
Hai đứa đi tiếp. Mặt trời lên cao, lọt qua tán lá thành những đốm vàng lổ đổ. Có tiếng chim. Có tiếng suối xa xa. Bên kia tường, lúc có lúc không, Luân nghe cái im mà nó biết.
Gần trưa, hai đứa ngồi nghỉ dưới một gốc cây lim. Luân lấy nắm cơm trong giỏ ra, bẻ đôi. Nửa to, nó đưa cho con bé.
Con bé nhìn nửa nắm cơm. Cơm nguội từ sáng, mặt ngoài đã săn lại, lá chuối bọc ngoài lấm đất.
"Ngươi ăn cơm độn à?"
"Không độn. Cơm trắng."
Con bé cầm lấy, cắn một miếng, nhai. Nhai lâu, như chưa ăn nắm cơm nào như thế. Nó không khen, không chê. Nó ăn hết.
"Thầy ta là Bắc Trấn." Nó nói, lúc ăn xong, mắt nhìn lên bức tường.
Luân quay sang.
Nó nhớ Ngũ Lâm giơ bốn ngón tay lên. Vàng khắc hình hổ. Cả nước có bốn cái. Bốn ông trấn bốn phía. Nó nhìn con bé áo nâu ngồi bên cạnh, cái nón lá rách vành, bàn tay quấn băng bằng vải gấu áo của nó.
"Ông ấy đeo hổ vàng à?"
"Ừ." Con bé nói. "Trên vai trái."
"Thế thì ông ấy mạnh lắm."
"Mạnh nhất phía Bắc." Con bé nói. Rồi nó im một lúc. "Hôm đi, thầy bảo ta: giữ tường, thầy đi thì thầy về. Thầy chưa bao giờ nói mà không làm."
Luân không hỏi thêm. Nó nhìn con bé bóc mấy hạt cơm dính trên lá chuối, bỏ vào miệng, từng hạt một.
Quá trưa thì hai đứa gặp cái xác ngựa đầu tiên.
Nó nằm nghiêng dưới chân tường, bụng trương phình, ruồi nhặng bâu kín, bay lên vo vo khi hai đứa lại gần. Mùi thối xộc lên, lợm giọng. Trên mông ngựa còn cắm một mũi tên. Cán tên đen, lông đuôi tên cũng đen, dài hơn tên của lính huyện Luân từng thấy.
Con bé đứng nhìn con ngựa, mặt trắng bệch. Nó không bịt mũi.
"Ngựa quân ta." Nó nói. "Yên cương của Bắc Trấn."
Đi thêm một quãng, cái xác thứ hai. Rồi cái thứ ba. Không có xác người. Chỉ có ngựa, có mũi tên, có những vệt đất bị giày xéo nát, lấm tấm những vết thâm đen đã khô.
Luân đi chậm lại. Nó cầm cành ổi chặt hơn.
Rồi hai đứa tới một khúc tường sạt.
Tường sạt ở đây rộng, rộng hơn chỗ bên suối gần doanh, đá đổ thành một con dốc thoai thoải, rộng tới mức dăm người có thể trèo qua một lúc. Trên con dốc đá ấy, rêu bị cạo trắng thành từng vệt, như có nhiều người, nhiều ngựa đã đi qua đây, đi sang bên kia.
Dưới chân dốc đá, trong đám cỏ bị giẫm rạp, có một vật nhỏ.
Con bé thấy trước. Nó chạy tới, cúi xuống nhặt lên.
Một con dao ngắn. Dài hơn gang tay một chút, lưỡi thẳng, chuôi bọc da. Sợi dây da buộc chuôi đã đứt, đầu dây cứng lại vì máu khô. Trên thân lưỡi có khắc mấy chữ Nho.
Luân không cần hỏi. Nó biết con dao ấy là gì.
Con bé cầm con dao trong lòng bàn tay, không nói gì, như Ngũ Lâm cầm con dao trong gói vải hôm nào. Nó cầm lâu. Luân nhìn những ngón tay nó khép lại quanh cái chuôi dao, khép chặt, như muốn ủ cho nó ấm lên.
"Chú Tường." Nó nói. Giọng nó không run. "Người dắt ngựa cho thầy. Chú ấy dạy ta cưỡi ngựa."
Nó nhét con dao vào trong áo, sát ngực, chỗ người lính Phong Sương vẫn đeo đoản đao của mình.
Rồi nó quay lại nhìn con dốc đá dẫn lên mép tường.
"Thầy ta đi qua đây." Nó nói.
"Tôi không qua tường." Luân nói.
"Ta không bảo ngươi qua."
Con bé bước lên hòn đá đầu tiên. Luân nắm lấy cổ tay nó, cổ tay có dải băng.
"Cô cũng không qua."
"Buông ra."
"Bên kia không có tiếng chim." Luân nói. "Cô nghe xem."
Con bé đứng im. Nó nghiêng đầu nghe. Bên này tường, chim sâu kêu lích chích trong bụi, gió xào xạc qua tán lá. Bên kia tường, không có gì.
"Thì sao?"
"Chỗ nào không có tiếng chim thì chỗ ấy có cái gì đấy."
"Ngươi biết gì mà nói." Con bé giằng tay. "Ngươi đi qua bên kia bao giờ chưa?"
Luân không trả lời. Con bé nhìn mặt nó, và nó hiểu. Nó hiểu nhanh, nhanh như cái hôm nó hiểu con lợn không phải lợn.
"Ngươi đi rồi." Nó nói.
"Tôi đi rồi. Tôi ốm năm ngày suýt chết."
Con bé nhìn nó thêm một lúc. Rồi nó thôi giằng tay. Nhưng nó không bước xuống. Nó đứng trên hòn đá đầu tiên của con dốc, nhìn lên mép tường.
Mặt trời đã xuống thấp, xuống sau lưng hai đứa, về phía Tây. Bóng bức tường đổ dài về phía Đông, đen sẫm trên nền cỏ.
Rừng im bặt.
Không phải cái im của bên kia tường. Cái im này tới từ bên này. Chim sâu đang kêu thì tắt. Gió đang thổi thì lặng. Lá cây đang xào xạc thì đứng im phắc, như có ai vừa nín thở cả khu rừng.
Không có mùi đất mả. Có một cái mùi khác. Lạnh, và hăng hăng, như mùi nhang vừa tắt trong một cái miếu bỏ hoang.
Luân ngẩng lên.
Trên mép tường sạt, trên đỉnh con dốc đá, có một người đứng.
Người ấy cao lớn, mặc giáp. Giáp sẫm màu, chỗ vai trái có một vật gì đó ánh lên, vàng vàng, dưới cái nắng chiều. Người ấy đứng thẳng, hai tay buông xuôi, không cầm binh khí. Mặt người ấy khuất trong bóng tối, không nhìn rõ. Người ấy đứng im. Không động đậy. Không thở. Nhìn xuống.
Con bé kêu lên.
"Thầy!"
Tiếng kêu vang đi, dội vào vách đá, dội vào những gốc cây. Rồi tắt. Người trên tường không trả lời. Không cúi đầu. Không giơ tay. Vẫn đứng im.
Luân nhìn cái bóng người ấy. Rồi nó nhìn xuống đất.
Mặt trời đang xuống ở phía Tây, sau lưng nó. Bóng nó, bóng con bé, bóng cây lim, bóng bức tường, tất cả đều đổ dài về phía Đông. Còn bóng của người trên tường thì đổ xuống con dốc đá, đổ về phía hai đứa. Đổ về phía Tây. Đổ ngược về phía mặt trời.
Luân không biết tại sao cái đó làm hai đầu gối nó mềm ra.
Thấy con gì đứng im mà nhìn mày thì đừng chạy. Lùi.
"Lùi." Nó nói. Giọng nó khô lại. Nó nắm chặt cổ tay con bé. "Đừng chạy. Lùi."
"Thầy ta..."
"Lùi."
Con bé không nhúc nhích. Nó đứng trên hòn đá, ngước lên nhìn cái người trên tường. Luân kéo tay nó. Một bước. Con bé bị kéo xuống khỏi hòn đá, suýt ngã. Nó quay lại định quát, nhưng rồi nó im.
Người trên tường vẫn đứng yên. Chỉ có cái đầu, rất chậm, nghiêng đi một chút. Theo hai đứa.
Luân lùi. Một bước. Hai bước. Nó không quay lưng. Nó không rời mắt khỏi cái người trên tường. Con bé lùi theo nó, cổ tay vẫn nằm trong tay nó, từng bước một, chân giẫm lên cành khô kêu răng rắc.
"Thầy ta chưa bao giờ không trả lời ta." Con bé nói. Nhỏ lắm. Như nói với chính nó.
Luân không đáp. Nó lùi. Lùi qua gốc cây lim. Lùi qua bụi mây. Lùi cho tới lúc tán lá che khuất mép tường, không còn thấy cái người ấy nữa.
Rồi nó vẫn lùi thêm mười bước.
Hai đứa đứng dựa lưng vào một thân cây, thở dốc.
Một con chim sâu kêu lích chích. Rồi con khác. Gió lại thổi. Lá lại xào xạc.
Con bé đứng im rất lâu. Rồi nó bước ra khỏi gốc cây, bước lên phía trước mấy bước, nhìn qua kẽ lá lên mép tường.
Mép tường trống trơn. Chỉ có đá, có rêu, và ánh nắng chiều đỏ quạch.
Con bé đứng nhìn cái mép tường trống ấy cho tới lúc mặt trời lặn hẳn.
"Ngươi thấy không?" Nó hỏi, không quay lại.
"Tôi thấy."
"Đấy là thầy ta."
Luân không nói gì.
"Đấy là thầy ta." Con bé nói lại, to hơn. Rồi nó quay lại, và Luân thấy mắt nó ướt, nhưng không có giọt nào rơi xuống. "Sao ngươi bắt ta lùi? Ngươi biết gì mà bắt ta lùi?"
"Tôi không biết gì." Luân nói. "Thầy tôi dạy thế."
Trời vừa sẩm tối thì có đuốc.
Đuốc đi dọc chân tường từ phía Tây tới, nhiều đuốc, lửa chập chờn giữa các thân cây. Có tiếng người gọi. Có tiếng chân chạy. Rồi trước khi Luân kịp nhìn rõ những bóng người, nó đã thấy trước cái cảm giác ấy. Không khí đặc lại, nặng xuống, như có ai đặt một vật gì lên ngực.
Cao Phong đi đầu. Không cưỡi ngựa, không khoác áo choàng, gươm cầm tay, chưa tra vào vỏ.
Ông nhìn thấy con bé trước. Ông dừng lại, và Luân thấy vai ông chùng xuống một chút, rất nhanh, rồi lại thẳng lên.
"Quốc Nữ." Ông nói.
"Ta bắt nó dẫn đường." Con bé nói ngay, trước khi ai kịp hỏi, cằm hất lên. "Nó không muốn đi. Ta bắt."
Cao Phong nhìn Luân. Cái nhìn lạnh và phẳng như lần trước ở doanh. Nhưng lần này nó dừng lại lâu hơn.
"Ta thấy thầy ta." Con bé nói. "Trên tường. Chỗ sạt ở đằng kia."
Cao Phong quay đầu nhìn về phía con bé chỉ. Ông nhìn rất lâu, lâu như cái hôm ông ngồi trên lưng ngựa bạch nhìn cây gạo trên Dốc Cửa Mả. Rồi ông ra hiệu. Hai người lính cầm đuốc đi lên. Một lúc sau họ quay xuống, lắc đầu.
"Không có ai, bẩm Đô đốc. Chỉ có dấu ngựa đi sang."
Cao Phong không nói gì. Ông quay sang Luân.
"Ngươi thấy gì?"
"Dạ, một người đứng im trên tường ạ." Luân nói. "Không trả lời. Con bảo cô ấy lùi."
"Ai dạy ngươi lùi?"
"Dạ, thầy con ạ."
Cao Phong im một lúc.
"Thầy ngươi dạy đúng." Ông nói.
Rồi ông quay đi, ra lệnh cho lính đưa Quốc Nữ về doanh trước. Con bé đi giữa bốn người lính, không ngoảnh lại. Chỉ đến lúc sắp khuất sau hàng cây, nó mới giơ bàn tay quấn băng lên, không vẫy, chỉ giơ lên, rồi hạ xuống.
Lính đưa Luân về tới mé doanh thì đã quá canh một. Ngũ Lâm đứng ở khe rào, tay cầm một bó đuốc, áo giáp đã cởi, chỉ mặc cái áo đen. Ông nhìn Luân từ đầu tới chân. Bùn. Gai. Áo rách.
Ông không mắng.
"Về đi." Ông nói. "Mấy hôm tới đừng lên đây nữa."
Luân gật đầu.
Ngũ Lâm đưa bàn tay to bè lên, xoa đầu nó một cái, mạnh tay, xoa tới mức tóc nó rối bù, như cái hôm ở giếng đình. Rồi ông quay vào trong doanh.
Về tới đầu Dốc Cửa Mả, Luân thấy có một bó đuốc đang đi lên. Thằng Cò. Nó cầm đuốc, lưng đeo cái cuốc, đi một mình.
Thấy Luân, thằng Cò đứng lại. Nó không hỏi gì. Nó nhìn Luân một lúc lâu dưới ánh đuốc, rồi quay người đi xuống trước.
"Tao bảo rồi." Nó nói, không quay lại. "Chiều không về thì tao lên tìm."
"Mày mang cuốc làm gì?"
Thằng Cò không trả lời.
Ông lang ngồi ở hiên, ngọn đèn dầu đặt bên cạnh. Ông không đứng dậy.
"Qua tường chưa?"
"Dạ, chưa ạ."
Ông lang nhìn nó. Nhìn lâu, như nhìn cái vạch trên đĩa cân.
"Ăn đi." Ông nói.
Nửa đêm, Luân nằm trong ổ rơm, không ngủ được.
Nó nghĩ tới con dao của chú Tường nằm trong áo con bé, sát ngực, nguội lạnh. Nó nghĩ tới cái bóng người trên tường, cái bóng đổ ngược về phía mặt trời. Nó nghĩ tới con bé đứng nhìn cái mép tường trống cho tới lúc mặt trời lặn hẳn.
Nó không biết đấy có phải thầy con bé không. Nó chỉ biết là nếu nó ở chỗ con bé, nếu cái người đứng trên tường kia là ông lang, hay là lão ăn mày, thì nó cũng sẽ không lùi.
Nó trở mình. Ngoài liếp, trăng cuối tháng Tư chưa lên.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.