Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử
Chương 30: Lửa Trên Đồi
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
35 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 35/35 chương
Năm hôm, Luân không lên đồi.
Lúa chiêm gặt xong, phơi kín sân đình, kín cả ngõ xóm. Thóc vàng óng, trải mỏng trên những tấm cót, mùi rơm rạ thơm ngai ngái cả làng. Trẻ con đi chân đất cào thóc, gà nhà ai sổ chuồng chạy ra mổ trộm, bị đuổi kêu quang quác. Nhìn thì như mọi năm.
Chỉ có ba người đàn bà là chiều nào cũng ra gốc đa.
Mẹ thằng Nhỡ đứng. Bà góa xóm Thượng, mẹ anh Sáng, ngồi, vì chân bà không đứng lâu được. Vợ ông Thuận thì không đứng, không ngồi, bà vẫn cầm cái rổ như đi chợ về tiện ghé qua, đứng một lúc rồi đi, rồi lát sau lại ghé qua. Ba người đàn bà không nói với nhau câu nào. Ba người cùng nhìn lên Dốc Cửa Mả.
Nhà ông trùm vẫn đóng cổng. Nhưng chiều nào thằng Quý cũng trèo lên cây nhãn đầu ngõ nhà nó, ngồi vắt vẻo trên cành cao nhất, nhìn về cùng một phía.
Đêm mồng hai tháng Năm, có tiếng tù và.
Luân tỉnh dậy trước cả khi biết mình đã nghe thấy gì. Nó nằm im trong ổ rơm, mắt mở trừng trừng trong bóng tối. Rồi tiếng ấy lại tới.
Không phải tù và của lý trưởng gọi dân ra đắp đê. Tiếng này trầm hơn, dài hơn, rền rĩ, như có con trâu nào rống lên ở dưới lòng đất. Nó vọng về từ phía Bắc, từ phía rừng, rất xa, xa tới mức lúc tới được Lò Trấu thì chỉ còn là một làn rung rung trong ngực. Rồi tắt. Rồi lại một tiếng khác, đáp lại, ở chỗ khác.
Chó cả làng tru lên một lượt.
Thằng Cò ngồi bật dậy.
"Cái gì thế?"
Luân không trả lời. Phong Sương Vệ không đánh trống. Phong Sương Vệ cũng không thổi tù và.
Ông lang đã thức.
Gian thuốc sáng đèn. Bếp đỏ lửa. Ba cái nồi đồng to nhất nhà đặt trên ba ông đầu rau, nước sôi sùng sục, hơi bốc mù mịt. Ông lang ngồi xếp bằng bên bếp, trước mặt là một chồng vải cũ, ông xé từng tấm ra thành dải, dải nào cũng rộng ba ngón tay, cuộn tròn lại, xếp vào cái thúng. Thúng đã đầy một nửa.
Luân đứng ở ngưỡng cửa bếp.
"Thầy..."
"Muốn lên xem thì lên." Ông lang nói, không ngẩng đầu. Tay ông vẫn xé. Soạt. Soạt. "Đứng ở đỉnh đồi tranh. Không đi quá."
Luân quay người chạy. Thằng Cò chạy theo.
Qua điếm. Cửa điếm mở. Lão ăn mày ngồi ở ngưỡng cửa, lưng dựa vào khung gỗ, cái chân quấn giẻ duỗi thẳng ra trước, bầu rượu đặt bên cạnh. Lão không ngủ. Lão đang nhìn lên đồi.
Lão không hỏi hai đứa đi đâu. Hai đứa cũng không dừng lại.
Qua bãi tha ma. Đi thẳng, không đứng lại. Qua cây gạo già. Lên đồi tranh. Cỏ tranh ướt sương quất vào chân rát rạt. Hai đứa leo lên tới đỉnh thì thở không ra hơi.
Rồi hai đứa đứng im.
Phía trước, dưới chân đồi sim, rừng tối đen như mực. Xa hơn nữa, chỗ rừng dâng lên thành núi, chỗ bức tường thành đá vắt ngang sườn núi mà ban ngày trông như một vệt mực nhòe, bây giờ có lửa.
Không phải một đám lửa. Nhiều đám. Chạy dọc theo chân núi thành một vệt dài đứt quãng, như có ai cầm một cây đuốc khổng lồ quệt ngang qua bóng tối rồi quệt không đều tay. Đám thì nhỏ, lập bập như đèn dầu. Đám thì to, bùng lên, rồi lụi xuống, rồi lại bùng lên.
Và có một đám to hơn tất cả.
Luân nhìn chỗ ấy. Nó biết chỗ ấy. Bên dưới đám lửa ấy có một con suối chảy róc rách qua những hòn đá phủ rêu, có một bãi đất bằng nơi năm ngoái nó ngồi ăn nửa nắm cơm, có một hàng rào tre vót nhọn, có một cái chòi canh cao hơn ngọn cây sim, có một lá cờ đen viền đỏ.
Có một cái lán lớn, bốn người lính đứng gác.
"Doanh." Nó nói.
Thằng Cò không hỏi doanh nào.
Gió thổi xuống từ phía núi. Gió mang theo mùi khét. Mang theo cả tiếng, những tiếng rất nhỏ, vụn vặt, lúc có lúc không. Tiếng tù và rền rĩ. Tiếng gì đó như tiếng ngựa hí. Tiếng gì đó như tiếng người hét. Không có tiếng trống. Không có tiếng lách cách của vỏ gươm gõ đều. Chẳng có tiếng gì đều cả.
Luân bước lên một bước.
Thằng Cò túm lấy tay áo nó.
"Mày lên đấy thì tao lại phải đào huyệt cho mày." Thằng Cò nói. Giọng nó run, nhưng tay nó túm chặt. "Mà tao đào huyệt nào cũng méo."
Luân đứng lại.
Nó nghĩ tới thằng Nhỡ vác bó cọc tre, hất hàm chào nó thay cho câu hỏi. Nghĩ tới ông Thuận bước ra khỏi hàng trước khi ai kịp chỉ, bảo thế là đủ bộ. Nghĩ tới con bé áo xanh giơ bàn tay quấn băng lên mà không vẫy. Nghĩ tới cái bàn tay to bè xoa đầu nó, xoa tới mức tóc nó rối bù.
Mấy hôm tới đừng lên đây nữa.
Hai đứa đứng trên đỉnh đồi tranh cho tới lúc trời hửng. Không đứa nào nói thêm câu nào.
Trời sáng thì lửa tắt. Chỉ còn khói. Khói bốc lên dọc chân núi thành những cột xám, gió thổi xiêu xiêu, rồi tan vào mây.
Hai đứa đi xuống.
Lão ăn mày vẫn ngồi ở ngưỡng cửa điếm, y như lúc hai đứa đi lên. Bầu rượu bên cạnh vẫn đầy, không vơi đi chút nào.
"Cháy mấy chỗ?" Lão hỏi.
"Dạ, nhiều lắm ạ. Chỗ doanh cháy to nhất ạ."
Lão ăn mày không nói gì. Lão nhìn hai bàn tay Luân.
"Tay mày run."
Luân nhìn xuống. Hai bàn tay nó run thật, run từ lúc nào nó cũng không biết.
"Run thì ngồi xuống mà thở." Lão nói. "Đừng nhìn lên đấy nữa. Nhìn thì cũng thế thôi."
Rồi lão nhắm mắt lại, lưng vẫn dựa vào khung cửa.
Về tới nhà, cái thúng trong bếp đã đầy. Bên cạnh thúng là một thúng nữa, cũng đầy. Ba nồi nước sôi đã đổ ra chum, lại đun ba nồi khác. Trên án thư trong gian thuốc, những gói thuốc bọc giấy bản xếp thành hàng, hàng này nối hàng kia, dài kín mặt án. Gian thuốc sực nức mùi ngải cứu, mùi nghệ, mùi rượu.
Ông lang vẫn ngồi chỗ cũ. Hai mắt ông đỏ vằn. Ông chưa ngủ.
"Ngủ một canh." Ông nói. "Rồi dậy xé vải."
Luân đứng nhìn ông.
Lão ăn mày bảo đừng nhìn lên đấy nữa, nhìn thì cũng thế thôi. Ông lang không nhìn lên đấy lần nào. Ông ngồi đây cả đêm, xé vải, đun nước, gói thuốc, như biết chắc cái gì sẽ từ trên ấy đi xuống.
Nó không ngủ. Nó ngồi xuống cạnh ông, cầm lấy một tấm vải, xé.
Trưa hôm ấy, có một người cưỡi ngựa phi qua làng.
Người ấy không vào làng. Người ấy phi dọc con đường đê, từ phía Bắc xuống, về phía Nam. Con ngựa sùi bọt mép trắng xóa, người trên lưng ngựa rạp người xuống sát bờm, áo đen, không choàng. Không dừng. Không ngoảnh lại. Người ở ngoài đồng đứng thẳng lưng lên nhìn theo, chưa kịp nhìn rõ mặt thì người ngựa đã thành một vệt bụi đỏ ở cuối con đê.
Chiều, cả làng đóng cửa.
Không ai bảo ai. Ông lý không gõ mõ. Nhưng nhà nào cũng cài then, thóc phơi ngoài sân vội vã cào vào, gà vịt lùa hết vào chuồng. Ngõ xóm vắng hoe. Chỉ có ba người đàn bà vẫn ở gốc đa. Lần này ba người đứng sát vào nhau.
Chiều muộn, Luân ra giếng đình gánh nước cho mấy cái chum trong bếp.
Nó đang thả gàu thì nghe một tiếng leng keng.
Tiếng rất nhỏ, rất trong, như ai rung một chùm nhạc đồng ở đâu đó trên đầu. Nó ngẩng lên.
Trên nền trời đỏ quạch phía Bắc, có một con chim đang bay về phía làng. Con chim nhỏ, nhỏ cỡ con chim én, đuôi chẻ. Lông nó sẫm, xanh sẫm như màu chàm. Nó bay thấp, bay qua ngọn đa, qua mái đình, qua đầu Luân. Lúc nó bay qua, Luân thấy ở cổ nó có mấy chiếc lông trắng, trắng bệch, dựng lên như cái bờm.
Nó bay qua khỏi mái đình được mấy sải tay thì nhạt đi.
Luân nhìn trân trân. Con chim mờ dần, mờ dần, như giọt mực nhỏ vào bát nước, cái đuôi tan trước, rồi đôi cánh, rồi cái đầu. Tiếng leng keng kêu thêm một lần, rồi im.
Trên nền trời chỉ còn mây.
Nó đứng bên thành giếng, sợi dây gàu vẫn trong tay, rất lâu. Nó không biết đấy là con chim gì. Cả đời nó ở Lò Trấu chưa thấy con chim nào như thế.
Đêm ấy không có tù và. Không có lửa. Luân với thằng Cò ngồi xé vải tới canh ba, rồi ngủ gục bên thúng.
Gà gáy canh năm, Luân tỉnh dậy vì một tiếng động. Không phải tiếng tù và. Tiếng người. Tiếng mõ. Mõ đình gõ loạn xạ, gõ như người vừa gõ vừa chạy, như cái hôm phu về.
Nó chạy ra cổng.
Trên con đường đất từ Dốc Cửa Mả xuống, trong cái sương sớm trắng đục của tháng Năm, có một đoàn người đang đi xuống.
Họ đi chậm. Đi lê lết. Không có tiếng lách cách. Không có ai bước cùng một nhịp với ai.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.