Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 24: Gươm Lạc Hồng

Đăng: 01/10/2026 23:14 5,102 từ 25 lượt đọc

Mồng năm tháng Tư, sương xuống dày từ nửa đêm.

Chiều hôm trước, con đường đất từ chân đê vào làng đã được phát quang sạch sẽ. Bụi dứa dại hai bên bị chặt trụi tới gốc, rãnh nước được lấp, ổ gà được đổ đất nện chặt. Sân đình quét ba lượt. Mười hai cái chum sành xếp thành hàng dọc hiên. Ông lý bắt mỗi xóm gánh đầy bốn chum, gánh từ lúc gà gáy, lính tới mà chum xóm nào còn vơi thì xóm ấy chịu tội.

Ông lang dậy sớm hơn mọi ngày. Luân nhóm bếp xong, bước ra sân đã thấy ông ngồi ngoài hiên trong bóng tối, trước mặt không có thớt, không có dao cầu, chỉ có cái điếu cày dựng bên chân.

"Hai đứa ra gánh nước cho đình." Ông nói. "Gánh đầy chum thì về."

"Dạ."

Hai đứa gánh đôi thùng ra tới ngõ thì nghe sau lưng có tiếng động. Luân ngoái lại. Ông lang đã đứng dậy, đi ra cổng, kéo cánh cổng tre khép lại. Rồi có tiếng cái then gỗ trượt vào khấc, cạch.

Thằng Cò cũng ngoái lại.

"Ông cài then." Nó nói.

"Ừ."

"Ông có bao giờ cài then đâu."

Luân không đáp. Nó nhìn cái cổng tre một lúc. Qua kẽ nan, trong sương, nó còn thấy giàn phơi thuốc vẫn dựng giữa sân, lá thuốc phơi dở chưa lật.

---

Giếng đình đông như ngày hội.

Trời chưa rạng. Sương trắng đục như nước vo gạo, đứng cách mươi bước đã không nhìn rõ mặt người. Đuốc cắm dọc thềm đình, ngọn lửa nhòe đi trong sương thành những đốm vàng. Người ta xếp hàng gánh nước. Thùng gỗ, ống bương, cả nồi đồng, vò sành. Đòn gánh va vào nhau lộc cộc. Nước sánh ra ướt nhoẹt cả mặt sân gạch. Con gàu dây thả xuống giếng, kéo lên, thả xuống, kéo lên, cái trục gỗ kêu cót két cót két không ngớt.

Luân với thằng Cò gánh mười tám chuyến. Tới chuyến thứ mười tám thì bốn chum của xóm Trung đầy. Luân đặt đôi thùng xuống, hai vai rát bỏng. Nó định về. Nhưng trời đã hửng, người ta đã đứng kín hai bên đường, chen chân không lọt, và ông lý đang quát mấy đứa trẻ con trèo lên cây đa phải xuống, xuống ngay, quan mà thấy thì chết cả làng. Chẳng đứa nào xuống.

Thằng Cò kéo tay Luân.

"Xem một tí." Nó nói. "Xem xong thì về."

Luân đứng lại.

Ông Bá Hộ đứng ở thềm đình, mặc áo gấm lam, khăn lượt mới tinh, trước mặt bày một cái mâm đồng có cơi trầu với chén nước chè. Ông đứng thẳng, rồi cúi xuống, rồi lại đứng thẳng, như đang tập vái. Thằng Bống ngồi trên vai bố nó, ông phó cả thợ mộc, hai tay túm chặt tóc bố, cổ rướn ra như cổ ngỗng. Thấy Luân, nó vẫy rối rít.

"Anh Luân! Anh Luân ơi! Đứng đây này, đây cao!"

Luân cười, lắc đầu.

Có ai đó huých vào khuỷu tay nó.

Luân quay sang. Ánh Dương đứng ngay cạnh, chen vào giữa nó với thằng Cò từ lúc nào. Con bé khoác cái áo tơi lá ướt sương, hai bím tóc buộc dây vải đỏ giắt gọn vào trong cổ áo, gấu quần lụa đen bắn bùn tới bắp chân. Nó không nhìn Luân. Nó nhìn ra đường, mặt tỉnh bơ, như chỉ tình cờ đứng đấy.

"Tớ trốn u già." Nó nói, môi gần như không mấp máy. "Nhà tớ sang đò từ tờ mờ, đứng ở đầu kia. U già mà thấy tớ đứng với thằng đào mả thì về mách."

"Thế cậu đứng đây làm gì." Thằng Cò nói, cũng không nhìn nó.

"Chỗ này nhìn rõ hơn."

Thằng Cò khịt mũi. Luân không nói gì. Nó dịch sang một chút, nhường cho con bé chỗ đứng sát gốc đa, chỗ không ai để ý.

Ở rìa đám đông, người đàn bà xóm Hạ đứng cạnh thằng cu nhà bà. Thằng cu đi phu về chưa được một năm, giờ đã cao hơn mẹ nó một cái đầu. Bà không nhìn ra đường. Bà nhìn con, một tay túm lấy vạt áo nó, túm chặt, như sợ gió thổi mất. Cách đấy mấy bước, ông phu bốn mươi, cái ông đã đi phu ba lần, đứng khoanh tay, không chen lên. Thỉnh thoảng ông lại đưa tay xoa cái vai trái, chỗ ba tháng trời đòn gánh đè xuống.

Trời sáng dần. Sương vẫn chưa tan, chỉ loãng ra, trắng đục, phủ kín mặt ruộng, phủ kín con đê. Người ta đứng chờ, hai tay ôm lấy vai, răng va vào nhau lập cập. Trẻ con ngáp. Có người bảo chắc quân đi đường khác rồi. Có người bảo lính thì biết đâu mà lần, bảo đi sáng thì đi chiều.

Rồi tiếng xì xào bỗng tắt.

---

Không phải tiếng trống.

Luân nghe thấy nó trước khi nhìn thấy gì. Từ phía đê vọng lại, xa, rất xa, một tiếng lách cách, lách cách. Không to. Đều. Đều tới mức thoạt nghe tưởng là tiếng nước nhỏ giọt từ mái hiên xuống một cái chậu đồng. Rồi tiếng ấy gần hơn, dày hơn, và dưới nó có thêm một tiếng khác, trầm hơn, nặng hơn. Tiếng chân. Hàng trăm bàn chân cùng đặt xuống đất một lúc, cùng nhấc lên một lúc, như một người khổng lồ đang đi.

Cả sân đình nín thở.

Ở đầu con đường chỗ rẽ ra đê, trong làn sương trắng đục, một bóng ngựa hiện ra. Rồi một bóng nữa. Rồi sau hai bóng ngựa ấy, sương như dày thêm, xám lại, và cái khối sương xám ấy đang đi.

---

Người đi đầu cưỡi một con ngựa hồng.

Ông ta ngoài ba mươi tuổi, mặt vuông, da sạm như người cả đời cày ruộng dưới nắng. Mũi to, môi dày, lông mày rậm. Tay cầm cương to bè, khớp ngón tay u lên như mấu tre. Ông không đội mũ, không quấn khăn, tóc búi cao. Trên vai trái ông có một miếng kim loại ốp sát vào lớp giáp, ánh lên trong sương. Luân nheo mắt nhìn. Miếng ấy màu bạc, trên mặt có ba cái vạch khắc ngang.

Ông cưỡi ngựa đi qua đám trẻ con vắt vẻo trên cây đa, ngẩng lên nhìn, rồi nhe răng cười. Một đứa trên cây giật mình, suýt ngã.

Người thứ hai cưỡi một con ngựa bạch, trắng tới mức lúc nó mới bước ra khỏi sương, Luân tưởng là sương đặc lại thành hình con ngựa.

Cả sân đình lùi lại một bước. Không ai bảo ai. Luân cũng lùi. Nó không biết vì sao nó lùi. Nó chỉ thấy khi con ngựa bạch đi tới gần thì không khí quanh mình nặng xuống, đặc lại, như lúc trời oi trước cơn giông, như có ai đặt một cái cối đá lên ngực. Nó bất giác kéo hơi thở xuống bụng, chậm, như lão ăn mày dạy. Bên cạnh nó, thằng Cò thở hắt ra một hơi, rồi ho khan.

Con chó vàng nhà ai đang sủa ở góc sân thì cụp đuôi, chui tọt vào gầm chõng.

Người trên lưng ngựa bạch trẻ lắm. Có khi chỉ hơn hai mươi. Ông ngồi thẳng như một cây sào cắm xuống ruộng, lưng không nhúc nhích theo nhịp ngựa. Mặt trắng, sống mũi cao, lông mày đậm và thẳng như hai nét mực. Mắt ông nhìn thẳng về phía trước, nhìn qua đầu cả sân đình, qua mái đình, qua lũy tre, như ở đằng xa kia có một cái gì chỉ mình ông thấy. Trên vai trái ông cũng có một miếng bạc. Hai vạch.

"Con ông Thái Úy đấy." Thằng Cò thì thào, sát tai Luân. "Trên chợ huyện người ta bảo thế. Mười lăm tuổi đỗ Võ Trạng nguyên."

Luân không đáp. Nó đang nhìn đoàn người đi sau hai con ngựa.

---

Họ đi bốn người một hàng. Hàng này nối hàng kia, dài dằng dặc, đầu hàng đã tới cổng đình mà cuối hàng còn chìm trong sương ngoài đê.

Người nào cũng khoác một tấm áo choàng ngắn màu xám tro, xám như chính cái sương đang trùm lên con đê, vạt áo ướt đẫm, lấm tấm bùn đỏ. Dưới áo choàng là áo giao lĩnh màu đen, vạt ngắn, tay bó, cổ áo và cổ tay viền một đường đỏ sẫm, đỏ như màu nước trầu nhổ xuống đất. Ngực và vai trái che một lớp giáp da, sơn then đen bóng, bóng như lưng con bọ hung. Người nào cũng búi tóc cao, không quấn khăn. Ống chân quấn xà cạp đen. Chân đi dép cói.

Dép cói.

Luân nhìn những bàn chân ấy đặt xuống mặt đường, bước nào cũng đều, cũng cách nhau như ai lấy thước đo. Nó nhớ tới dãy dấu chân ở bờ suối mềm hồi tháng Ba. Nó biết rồi những dấu chân ấy là của ai.

Bên hông trái mỗi người đeo một thanh gươm. Vỏ gươm sơn then đen, không một vết xước. Miệng vỏ bịt đồng đỏ, ánh lên mờ mờ. Mỗi bước chân, vỏ gươm lại gõ vào mép giáp da bên hông, lách cách, lách cách. Mấy trăm thanh gươm cùng gõ một nhịp. Thì ra cái tiếng lách cách tưởng như nước nhỏ giọt, là tiếng ấy.

Ở cổ áo mỗi người lộ ra một sợi dây da mảnh, thả vào trong áo. Dưới lớp áo đen, chỗ ngực trái, có cái gì cộm lên, nhỏ, dài chừng gang tay. Luân không biết là cái gì.

Trên vai trái mỗi người cũng có một miếng kim loại. Nhưng miếng của họ màu đồng, trơn, không có vạch.

Người đứng quanh Luân bảo năm trăm. Có người bảo sáu trăm. Luân không đếm. Nó mải nhìn những miếng đồng trơn nhấp nhô trên những bờ vai, lên xuống theo từng bước chân, đều như sóng gợn trên mặt ao.

Không ai nói chuyện. Không ai ngoái lại nhìn cái sân đình đông nghịt người. Không ai nhìn mâm trầu của ông Bá Hộ. Họ đi như một dòng nước đen chảy qua làng, lặng lẽ, đều đặn, và cái tiếng lách cách cứ thế trôi theo họ.

---

Ở giữa đoàn quân, có một chỗ khác.

Bốn người cưỡi ngựa đi sát nhau thành một hình vuông, giữa hình vuông có một con ngựa nhỏ màu nâu sẫm. Người trên con ngựa nhỏ ấy cũng nhỏ, nhỏ như một đứa trẻ. Và người ấy không mặc màu đen. Người ấy mặc áo màu xanh da trời, xanh như trời tháng Tư lúc tạnh mưa, cái màu duy nhất không phải đen, không phải xám, trong cả một dòng người dài dằng dặc. Một cái nón chóp che kín mặt.

"Con gái kìa!" Một đứa trẻ trên cây đa hét lên.

Người lính cưỡi ngựa đi bên phải quay phắt đầu lại. Chỉ quay đầu, không nói gì. Thằng bé trên cây im bặt, ôm chặt lấy cành đa.

Người nhỏ trên lưng ngựa nâu hơi nghiêng đầu về phía sân đình. Dưới vành nón, Luân chỉ thấy một cái cằm nhỏ, mím lại, và bàn tay nắm dây cương chặt tới mức các khớp ngón trắng bệch ra. Rồi người ấy quay mặt đi, và cả hình vuông bốn con ngựa trôi qua, lẫn vào dòng áo xám.

Luân nghe bên cạnh mình có tiếng thở rất khẽ, như người ta vừa nín thở lâu mới thở ra.

Ánh Dương vẫn nhìn theo cái chấm xanh da trời ấy, nhìn tới lúc nó khuất hẳn giữa những tấm áo choàng xám. Hai bàn tay con bé nắm chặt lấy mép áo tơi.

---

Người cưỡi ngựa hồng tới trước cổng đình thì giơ một bàn tay lên.

Cả đoàn quân dừng lại.

Không có tiếng hô. Không có tiếng trống lệnh. Bàn tay ấy giơ lên, và năm trăm người dừng lại trong một bước chân, như năm trăm người là một. Tiếng lách cách tắt ngấm. Sương trôi lững lờ quanh chân ngựa.

Ông lý chạy lạch bạch ra giữa đường, suýt vấp phải vạt áo the, quỳ sụp xuống trước con ngựa hồng.

"Bẩm quan lớn, dân làng Lò Trấu kính cẩn..."

"Đứng lên đi." Người cưỡi ngựa hồng nói. Giọng ông khàn, to, âm quê nặng trịch, nghe như tiếng người gọi trâu ngoài bãi. "Cho quân nghỉ chân một khắc, uống nước. Xong thì đi."

Ông nhảy xuống ngựa, ném cương cho một người lính.

Những người lính rời hàng. Không chen lấn. Từng tốp mười người một lần lượt đi tới dãy chum, mỗi người múc một gáo, uống, múc thêm một gáo đổ vào cái bầu nước đeo bên hông, rồi quay về hàng, nhường chỗ cho tốp sau. Không ai bước vào sân nhà ai. Không ai nhìn cái mâm trầu.

Luân đứng cạnh giếng, cái gàu vẫn còn trong tay.

Người cưỡi ngựa hồng không đi về phía dãy chum. Ông đi thẳng về phía cái giếng.

"Cho xin gáo nước, thằng bé."

Luân giật mình. Nó thả gàu xuống giếng, kéo lên một gàu nước mới, trong vắt, lạnh buốt, rót vào cái gáo dừa, rồi hai tay nâng lên đưa cho ông.

Ông đón lấy, ngửa cổ uống một hơi dài. Nước tràn ra khóe miệng, chảy xuống cằm, xuống cái cổ đen sạm. Ông uống hết, đưa mu bàn tay lên quệt ngang miệng.

"Nước giếng làng mày ngọt." Ông nói. "Mày tên gì?"

"Dạ, bẩm quan lớn, con tên là Minh Luân ạ."

Người ấy nhướn cặp lông mày rậm lên.

"Minh Luân." Ông nhắc lại, rồi cười, cái cười làm những nếp nhăn ở đuôi mắt xếp lại như nếp quạt. "Tên sang nhỉ. Ai đặt cho mày?"

"Dạ, thầy con đặt ạ."

"Thầy mày đặt tên thế thì chắc thầy mày mong mày làm quan to."

Luân không biết trả lời thế nào. Nó đứng im, hai tay buông thõng. Và mắt nó, không biết từ lúc nào, đã rơi xuống thanh gươm đeo bên hông ông. Vỏ gươm của ông cũng sơn then đen như của lính, nhưng miệng vỏ không bịt đồng đỏ. Miệng vỏ bịt bạc.

Người ấy nhìn theo mắt nó, nhìn xuống thanh gươm của mình, rồi lại nhìn nó.

"Thích à?"

"Dạ."

Ông đặt tay lên chuôi gươm. Rồi, như làm một việc chẳng có gì quan trọng, ông rút thanh gươm ra khỏi vỏ chừng một gang tay.

Luân nín thở.

Lưỡi gươm hơi cong, màu xám sẫm, không sáng loáng như nó tưởng mà ánh lên một thứ ánh mờ mờ, như mặt nước ao lúc trời sắp tối. Sát chỗ chuôi, trên thân lưỡi, có khắc một con chim. Con chim cổ dài, mỏ dài, đôi cánh xòe rộng như đang bay. Phía trên đầu nó là một vòng tròn nhỏ, tỏa ra những tia nhọn như mặt trời. Nét khắc mảnh, sâu, sắc tới mức Luân tưởng chỉ cần chạm ngón tay vào là đứt.

Ông tra gươm vào vỏ. Cạch.

"Thích thì lớn lên mà đeo." Ông nói, rồi đưa bàn tay to bè lên xoa đầu Luân một cái, mạnh tay, xoa tới mức tóc nó rối bù.

Rồi ông quay đi.

---

Người cưỡi ngựa bạch không xuống ngựa.

Ông lý bưng cái mâm đồng của ông Bá Hộ, hai tay nâng lên quá đầu, lom khom đi tới, cúi rạp xuống bên chân ngựa.

"Bẩm quan lớn, xin quan lớn xơi chén nước..."

Người trên ngựa bạch không nhìn cái mâm. Một người lính đứng cạnh đã tháo cái bầu nước bên hông mình ra, đưa lên. Ông cầm lấy, uống một ngụm, trả lại.

"Không cần." Ông nói. Hai chữ. Giọng không to, không nhỏ, lạnh như nước giếng Luân vừa kéo lên.

Ông lý đứng đực ra, hai tay vẫn nâng cái mâm, không biết nên hạ xuống hay giơ lên tiếp.

Mắt người trên ngựa bạch lướt qua sân đình một lượt. Lướt qua ông lý, qua ông Bá Hộ, qua đám đông, qua cái giếng. Lướt qua Luân như lướt qua cái cột đình. Rồi dừng lại.

Ông đang nhìn về phía Bắc. Về phía cuối làng, nơi con đường đất chạy vào Ngõ Mương Đen rồi ngoặt lên một quả dốc. Sương đã loãng. Trên đỉnh dốc, ngọn cây gạo già đen sẫm nhô lên khỏi lũy tre, trơ trụi, cành gầy như những ngón tay xương xẩu chĩa lên trời.

Ông nhìn rất lâu.

"Đường lên rừng," ông hỏi, không quay đầu lại, "chỉ có lối ấy?"

Ông lý vội vàng quỳ xuống. "Dạ, bẩm quan lớn, từ làng lên thì chỉ có một lối ấy thôi ạ. Qua bãi tha ma của làng ạ."

Người trên ngựa bạch im. Cái quai hàm ông hơi bạnh ra một chút, rồi thôi.

Người cưỡi ngựa hồng đã lên ngựa lại, thúc ngựa đi tới bên cạnh.

"Sao thế, Phong?"

"Không có gì." Người trên ngựa bạch nói. "Đi thôi, anh Lâm."

---

Đoàn quân lại lên đường. Người cưỡi ngựa hồng giơ tay, hạ tay, và tiếng lách cách lại bắt đầu, đều như cũ.

Họ đi qua sân đình, qua đầu chợ, rẽ vào Ngõ Mương Đen.

Luân chạy theo. Nó không nghĩ. Nó chỉ thấy chân mình chạy. Thằng Cò chạy theo sau nó, vừa chạy vừa chửi, bảo ông dặn gánh xong thì về, về muộn thì chết cả hai. Nhưng nó cũng không dừng lại. Thằng Bống tụt từ trên vai bố xuống, chạy lạch bạch theo, cái chỏm tóc trên đầu nảy tưng tưng. Rồi Luân nghe sau lưng có tiếng guốc gõ lộc cộc trên mặt đường, lộc cộc, lộc cộc, rồi tiếng guốc im, thay bằng tiếng chân trần. Ánh Dương đã tháo guốc ra cầm tay mà chạy.

Đám trẻ con trong làng chạy theo lũ lượt. Người lớn đứng lại ở đầu ngõ, không ai đi theo nữa.

Ngõ Mương Đen hẹp, bốn người một hàng đi vừa khít. Mùi lò mổ nồng nặc, mùi tiết, mùi phân lợn, mùi nước rửa lòng. Những người lính đi qua không nhăn mặt, không bịt mũi, bước chân vẫn đều như ở ngoài đường cái.

Lão đồ tể đứng ở cửa lò, tạp dề da trâu lấm tấm tiết, khoanh tay trước ngực, nhổ một bãi nước bọt xuống rãnh.

Thằng Hợi đứng ngay sau lão, trong bóng tối của gian lò. Nó cởi trần, tay trái còn cầm con dao mổ, lưỡi dao dính tiết chưa lau. Nó không nhìn con ngựa bạch, không nhìn con ngựa hồng. Nó nhìn những người lính đi bộ. Nhìn từng hàng, từng hàng một. Mặt nó không có gì cả. Không thích, không ghét, không sợ.

Rồi mắt nó chạm phải mắt Luân ở bên kia đường.

Hai đứa nhìn nhau trong một cái chớp mắt. Thằng Hợi quay người, đi vào trong lò. Có tiếng dao chặt xuống thớt, côm cốp.

---

Tới điếm thì Luân dừng lại.

Cái sạp tre trống trơn. Không có bầu rượu. Không có cây gậy. Lão ăn mày đi vắng, như lão đã bảo.

Đoàn quân đi qua trước cửa điếm, ngoặt lên Dốc Cửa Mả, rồi đi vào bãi tha ma.

Luân đứng ở ngưỡng cửa điếm mà nhìn. Nó nhìn những tấm áo choàng xám đi giữa những nấm mả, vạt áo quệt qua ngọn cỏ gà. Nhìn con ngựa hồng, con ngựa bạch đi qua gốc cây gạo già. Người trên ngựa bạch không ngẩng lên nhìn cây gạo. Ông nhìn thẳng về phía trước, lưng vẫn thẳng như cây sào.

Có một người lính ở gần cuối đoàn, còn trẻ, trẻ hơn cả người trên ngựa bạch, đi ngang qua gốc cây gạo thì đưa tay lên ngực, chạm vào chỗ cộm lên dưới lớp áo, chạm một cái rồi bỏ xuống. Người đi cạnh anh ta liếc sang, không nói gì.

Nắng đã lên. Họ đi qua bãi tha ma, lên đồi tranh. Rồi lên đồi sim. Từ cửa điếm, Luân nhìn thấy cả đoàn người như một sợi dây xám vắt ngang sườn đồi, uốn lượn, chầm chậm bò lên. Gió trên đồi thổi mạnh, thổi tung những tấm áo choàng lên, và cả sườn đồi như có một làn sương bị gió cuốn đi, cuốn lên núi.

Rồi làn sương ấy qua khỏi đỉnh đồi sim.

Rồi khuất.

Sương dưới chân đồi tan hết. Tiếng lách cách nhỏ dần, nhỏ dần, rồi không còn. Một lúc lâu sau, trên cây gạo có một con chim chào mào đậu xuống, hót lên một tiếng.

---

Đám trẻ con làng tản dần về. Chỉ còn bốn đứa ngồi lại trên bậc cửa điếm. Ở đây chẳng ai nhìn thấy ai. Người làng không xuống tới cái điếm hoang ở chân Dốc Cửa Mả, trừ lúc có người chết.

Thằng Cò ngồi bệt xuống đất, thở không ra hơi vì chạy.

"Lính gì mà không có trống." Nó nói, giọng ỉu xìu như ai lấy mất của nó cái gì. "Tao cứ tưởng phải có trống, có cờ, có kèn. Đi như đi ăn trộm."

"Em thấy oai!" Thằng Bống nói, hai má đỏ lựng. "Cái ông ngựa hồng xoa đầu anh Luân! Em thấy!"

Ánh Dương ngồi ở mép bậc, hai tay ôm đầu gối, đôi guốc đặt ngay ngắn bên cạnh. Con bé vẫn nhìn lên đỉnh đồi sim, chỗ cái sợi dây xám vừa khuất.

"Người mặc áo xanh ấy là con gái." Nó nói.

"Con gái nhà quan." Thằng Cò bảo. "Con gái nhà quan thì đi đâu chả được."

"Con gái nhà quan thì cũng là con gái."

Thằng Cò mở miệng định cãi, rồi thôi.

Ánh Dương im một lúc lâu. Rồi nó nói, không to, như nói với cái đồi sim.

"Tớ sẽ đi thi. Tớ đỗ trạng nguyên."

Thằng Cò phì cười. "Con gái đi thi à?"

Ánh Dương quay lại nhìn nó, cái nhìn thẳng tưng ấy.

"Hai năm trước thằng Quý cũng hỏi đúng câu ấy." Con bé nói. "Bây giờ nó đọc Tam Thiên Tự còn vấp chữ tồn."

Thằng Bống cười khanh khách. Thằng Cò gãi đầu.

"Chị Dương mà đỗ trạng," thằng Bống nói, mắt sáng lên, "thì em làm cho chị cái biển vinh quy. Em bảo thầy em dạy em khắc chữ. Khắc to thế này này." Nó dang hai tay ra hết cỡ.

"Mày khắc chữ nhân còn xiêu như thằng say." Thằng Cò nói.

"Thì em học!"

"Còn mày?" Ánh Dương hỏi thằng Cò.

"Tao à." Thằng Cò ngả người ra, gối đầu lên hai bàn tay. "Tao làm lái buôn. Buôn rễ thường sơn. Năm quan một lạng. Giàu hơn ông Bá, mua cả cái kho gạo nhà ông ấy về làm chuồng lợn."

Ba đứa cùng cười. Rồi ba đứa cùng quay sang nhìn Luân.

Luân ngồi ở bậc trên cùng, lưng dựa vào cánh cửa điếm mục. Nó nhìn lên đồi sim. Nó nghĩ tới cái miếng đồng trơn nhấp nhô trên những bờ vai. Nó nghĩ tới con chim khắc trên lưỡi gươm, cái vòng mặt trời trên đầu con chim.

"Tao vào Phong Sương Vệ." Nó nói.

Không ai cười.

Thằng Cò nhìn nó từ đầu tới chân. Nhìn cái áo nâu vá hai miếng ở vai, cái quần ngắn cũn cỡn, đôi bàn chân đất đen nhẻm. Rồi nhìn xuống thắt lưng nó.

"Thích thì cũng phải có gươm." Nó nói. "Mày có cái cành ổi."

Luân đặt tay lên cành ổi. Nó không cãi.

"Thế thì cậu phải thi võ." Ánh Dương nói. "Thi võ thì cũng phải biết chữ, phải đọc binh thư. Không đọc được binh thư thì chỉ làm lính trơn."

"Lính trơn thì cũng có gươm." Luân nói.

"Thế thì cậu định làm lính trơn cả đời à?"

Luân không trả lời được. Ánh Dương hất cằm, như vừa thắng một ván.

"Thế thì mai kia," thằng Bống nói, giọng hăm hở, "cả bốn anh chị em gặp nhau ở trên kinh. Chị Dương đỗ trạng, anh Luân đeo gươm, anh Cò bán thuốc..."

"Còn mày?" Thằng Cò hỏi.

Thằng Bống nghĩ một lúc, cái trán nhăn tít lại.

"Em ở nhà." Nó nói. "Kinh xa lắm. Em ở nhà làm biển cho chị Dương, làm xong thì các anh chị về mà treo."

Cả bốn đứa cười. Cười tới mức thằng Cò lăn ra đất, bụi đỏ dính đầy lưng áo.

Rồi ở đằng xa, phía đầu ngõ Mương Đen, có tiếng đàn bà gọi váng lên, gọi một cái tên. Ánh Dương giật thót. Con bé vơ vội đôi guốc, đứng bật dậy, phủi quần.

"U già." Nó nói. Rồi nó nhìn Luân, nhìn nhanh, như lúc ngoái lại trong lớp. "Cậu mà vào được Phong Sương Vệ thì nhớ đứng hàng đầu, cho tớ ngồi trên võng đi qua còn nhìn thấy."

Rồi nó chạy, chân trần, tay xách guốc, hai bím tóc tuột ra khỏi cổ áo, dây vải đỏ phấp phới.

Thằng Cò nhìn theo, lắc đầu.

"Đỗ trạng." Nó lẩm nhẩm. "Con gái."

Nhưng nó không cười nữa.

Thằng Bống chạy về trước. Còn lại hai đứa. Hai đứa quay về.

---

Lúc hai đứa quay về, sân đình đã vắng tanh, mặt gạch lầy lội bùn đỏ. Mười hai cái chum sành trống rỗng. Những bao gạo góp lương đã chất lên mấy cái xe trâu đi ở cuối đoàn, theo quân lên núi. Một bà cụ xóm Hạ ngồi bệt dưới gốc đa, cạnh cái chum cuối cùng, không làm gì, chỉ ngồi. Luân nhận ra bà. Hôm qua bà ôm con gà mái đi bán ở chợ, để lấy tiền mua một thăng gạo.

Cổng nhà ông Bá Hộ mở toang. Trong sân, có tiếng người đếm tiền.

---

Cổng nhà ông lang vẫn cài then.

Luân gõ. Một lúc lâu mới có tiếng bước chân. Rồi tiếng then gỗ rút ra.

Ông lang đứng sau cánh cổng, nhìn hai đứa.

"Đi hết chưa?"

"Dạ, đi hết rồi ạ. Lên núi rồi ạ."

Ông lang gật đầu. Ông kéo cánh cổng mở rộng ra, rộng hơn mọi ngày, rồi quay vào, đi thẳng ra hiên, ngồi xuống trước cái thớt. Con dao cầu đã để sẵn ở đấy từ lúc nào.

Ông không hỏi vì sao hai đứa về muộn.

---

Chiều ấy, lúc lật thuốc trên giàn xong, Luân ngồi xổm ở góc sân, cầm một que tre vạch lên nền đất.

Nó vạch cái cổ dài. Cái mỏ dài. Đôi cánh xòe rộng. Trên đầu con chim, nó vạch một vòng tròn nhỏ, rồi những tia nhọn tỏa ra. Nó vạch đi vạch lại, xóa đi vạch lại, tới lúc con chim trên nền đất trông gần giống con chim trên lưỡi gươm.

Có bóng người đổ xuống cạnh nó.

Ông lang đứng sau lưng nó, tay cầm cái rổ thuốc, nhìn xuống con chim trên nền đất. Nhìn lâu.

"Chim Lạc." Ông nói.

Luân ngẩng lên. "Thầy biết ạ?"

"Trên trống đồng có." Ông nói. Rồi ông im một lúc. "Vẽ cây thuốc thì còn nhớ được cây thuốc. Vẽ con chim ấy thì mày nhớ được cái gì."

Ông không đợi nó trả lời. Ông đi vào gian thuốc, đặt cái rổ xuống.

Luân nhìn con chim Lạc trên nền đất. Nó không xóa. Sáng hôm sau, thằng Cò quét sân, quét luôn cả con chim đi, chẳng để ý.

---

Tối ấy, lão ăn mày đã về. Cái bầu rượu trên sạp đầy căng.

"Xin được nhiều ạ?" Luân hỏi.

"Nhiều." Lão nói. "Lính đi qua chưa?"

"Dạ, qua rồi ạ."

Luân kể. Nó kể từ cái tiếng lách cách, tới con ngựa hồng, con ngựa bạch, tới áo choàng xám, áo đen viền đỏ, vỏ gươm bịt đồng, miếng kim loại trên vai. Nó kể người cưỡi ngựa hồng xin nó gáo nước, rút gươm cho nó xem. Nó kể con chim trên lưỡi gươm.

Lão ăn mày nghe, mắt nhìn ra bãi tha ma tối đen ngoài cửa. Lão không ngắt lời nó lần nào.

"Không có trống à?" Lão hỏi, lúc nó kể xong.

"Dạ, không có ạ. Thằng Cò bảo đi như đi ăn trộm."

Lão ăn mày cầm bầu rượu lên, tu một ngụm.

"Thế thì đi đánh thật." Lão nói.

"Sao chú biết ạ?"

"Trống là để cho dân xem." Lão đặt bầu xuống. "Đi đánh thật thì đứa nào muốn cho giặc nghe tiếng mình."

Luân ngồi im. Nó nghĩ tới cái tiếng lách cách nhỏ dần rồi tắt trên đỉnh đồi sim.

Lão gõ gậy xuống đất.

"Chém."

Luân đứng dậy, rút cành ổi ở thắt lưng ra, đứng tấn. Chém đường thứ nhất. Chém đường thứ hai. Tối nay cánh tay nó như có lửa, nhát nào cũng mạnh, cũng rít lên trong gió, cành ổi quật xuống thân cây chuối đánh bộp, bộp, nhựa chuối bắn ra tung tóe.

"Dừng."

Luân dừng lại, thở dốc.

Lão ăn mày nhìn nó. Nhìn cái cành ổi trong tay nó, nhìn cái thân cây chuối nát bươm.

"Chém cho ai xem?" Lão hỏi.

Luân đứng im.

"Chém cho cái cây chuối ấy thì chém." Lão nói, giọng không to. "Chém cho đứa nào đi qua làng thì về mà ngủ."

Luân cúi đầu. Nó đứng tấn lại, thở bằng bụng, chờ hơi thở xuống đều. Rồi nó chém. Nhát này nhẹ hơn. Chậm hơn. Đúng đường hơn.

Lão ăn mày không nói gì nữa. Lão ngả lưng vào vách điếm, nhắm mắt lại.

---

Khuya ấy, Luân nằm trong ổ rơm, không ngủ được.

Nó nghĩ tới những tấm áo choàng xám bị gió cuốn lên trên sườn đồi. Nó nghĩ tới cái vỏ gươm bịt bạc, cái miệng vỏ bịt đồng đỏ. Nó nghĩ tới cái miếng đồng trơn trên vai những người lính đi bộ, trơn, không có vạch nào.

Trong bóng tối, nó đưa tay phải lên, đặt lên vai trái mình. Vai áo nâu, vải thô, vá một miếng. Chẳng có gì.

Nó để tay ở đấy rất lâu, rồi mới ngủ.

---

Tuổi xanh đã gươm treo yên ngựa,

Khí trong người dồn giữa đập cao.

Làng quê ngước mắt trông vào,

Ngựa phi chẳng ngoảnh lại chào một ai.

Người trên ngựa một mai qua ải,

Có ngoảnh đầu nhìn lại hay không?

Đập kia vỡ một đêm đông,

Nước tràn ai đứng giữa dòng mà ngăn?


0