Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 23: Ngăn Thứ Ba

Đăng: 01/10/2026 23:14 4,985 từ 22 lượt đọc

Cuối tháng Tư, lúa chiêm ngoài đồng đã ngả vàng.

Nắng đầu hè đổ xuống Lò Trấu như ai hắt một chậu nước sôi. Chiều nào cũng có mây đen kéo lên ở phía Bắc, sấm rền ùng ục sau dãy đồi, rồi mây tan, chẳng mưa hạt nào.

Từ giữa tháng Tư, người đàn bà xóm Hạ chiều nào cũng ra đầu làng. Bà đứng dưới gốc đa, chỗ con đường đất đỏ rẽ ra đê, một tay che trán, nhìn về phía hạ lưu. Bà đứng tới lúc mặt trời lặn hẳn thì về. Hôm sau lại ra.

---

Luân khỏi ốm đã được nửa tháng.

Nửa tháng ấy, chiều nào nó cũng hái thuốc quanh xóm Trung. Nó không bước qua bãi tha ma lần nào. Có lúc tập xong nó đứng ở cửa điếm, ngước nhìn cái bóng cây gạo đen sẫm trên Dốc Cửa Mả, rồi quay về.

Ông lang không nhắc lại chuyện cũ. Ông vẫn đưa bút cho nó tự gạch mỗi tối. Nó gạch, rồi về bỏ bớt một hòn sỏi. Hàng sỏi ngắn đi, chậm lắm, như người ta múc nước ao bằng cái gáo dừa.

Thằng Cò thì khác trước. Chiều nào Luân đi hái thuốc, thằng Cò cũng lẽo đẽo theo, ngồi trên bờ ruộng, tay cầm cọng cỏ gà nhai nhai, mắt không rời Luân. Có hôm Luân bảo mày về đi, ở đây có ai ăn thịt tao đâu. Thằng Cò nhổ cọng cỏ ra.

"Ai biết." Nó nói. "Mày ngu lắm."

---

Hôm hai mươi tám tháng Tư, đang giữa trưa, có tiếng mõ.

Tiếng mõ dồn dập, gõ loạn xạ như người gõ vừa gõ vừa chạy. Rồi có tiếng người hét từ đầu làng lan vào.

"Phu về! Phu về rồi!"

Luân đang ngồi trong gian thuốc tán bột, cái chày trong tay khựng lại.

Ngoài hiên, ông lang đặt con dao cầu xuống thớt.

---

Cả Lò Trấu đổ ra đầu làng.

Luân với thằng Cò chen lên được tới gốc đa thì người đã đứng kín hai bên đường.

Trên con đường đất đỏ chạy dọc chân đê, trong cái nắng trưa trắng lóa, có một đoàn người đang đi tới.

Họ đi lê lết. Không có ngựa. Không có tên cai. Không có lính. Chỉ có người, gánh quang gánh, đòn gánh cong xuống trên vai, bước thấp bước cao.

Luân đếm.

Nó bấm đốt ngón tay. Mười bảy người đi bộ, kể cả cái bóng đi tụt lại tít đằng sau. Trong số ấy có hai người khiêng chung một cái cáng tre, trên cáng có một người nằm, đắp chiếu tới ngực.

Mười bảy, với một người nằm cáng. Mười tám.

Hai mươi người đi.

Luân đếm lại lần thứ ba. Vẫn mười tám.

Quanh nó, người ta cũng đang đếm. Rồi tiếng người reo. Rồi tiếng người khóc. Tiếng reo với tiếng khóc lẫn vào nhau, không biết đâu là reo đâu là khóc.

---

Người đàn bà xóm Hạ nhận ra thằng cu nhà bà trước cả khi nó nhìn thấy bà.

Thằng cu đen nhẻm, gầy rộc, cái áo nâu rách bươm hai vai. Nó đặt đôi quang gánh xuống. Người đàn bà không ôm con. Bà giơ tay lên, vuốt cái vai áo rách của nó. Vuốt đi vuốt lại một chỗ, như hồi sáng hôm ấy ở sân đình, như sợ có vết nhăn nào ở đấy. Vuốt mãi. Rồi bà mới khóc.

---

Người thứ nhất không về là ông cụ tóc lốm đốm bạc, cái ông mà hôm ở sân đình đã cầm gói lá chuối đưa lên mũi ngửi rồi xoa đầu Luân.

Sốt rét. Người ta bảo thế. Được hơn tháng thì ông lên cơn. Lên cơn mười ngày thì ông đi.

Người thứ hai không về là anh chồng cái chị hôm ấy ngồi xổm dưới chân chồng mà khâu bùa.

Cái chị ấy đứng giữa đường, nhìn từ đầu đoàn tới cuối đoàn, rồi lại nhìn từ cuối đoàn lên đầu đoàn. Người ta đi qua chị cả. Chẳng ai dừng lại.

Rồi cái ông phu chừng bốn mươi, cái ông hôm ấy ngồi vắt vẻo trên đòn gánh hát Ba năm trấn thủ, đặt gánh xuống. Ông đi tới trước mặt chị. Ông lục trong thúng, lấy ra một mảnh vải nâu, gấp làm tư, đưa cho chị.

Chị cầm lấy. Chị mở ra.

Đấy là một mảnh vạt áo, rách toạc ở mép như bị ai xé vội. Trên mảnh vạt áo, ở mặt trong, còn nguyên một lá bùa đỏ, khâu bằng những mũi kim xiêu vẹo, mũi thưa mũi dày, có mũi đâm trượt ra ngoài.

"Sập đất." Ông phu nói. Giọng ông khàn, nói như người đã nói câu ấy trong đầu nhiều lần lắm rồi. "Đêm mưa, đất trên đê sập xuống chỗ mấy người đang đào chân cống. Ba người. Đào lên được hai. Nhà chị thì không kịp."

Chị cầm mảnh vạt áo, không nói gì.

"Chôn luôn ở chân đê." Ông phu nói tiếp. "Người chết ở đấy thì chôn ở đấy. Không có ngày giờ mà khiêng về. Tôi chỉ xé lấy được cái này." Ông ngừng một chút. "Người ta bảo lá rụng về cội. Dưới ấy thì lá rụng đâu chôn đấy, chị ạ."

Cái chị ấy cúi xuống nhìn lá bùa, lấy ngón tay miết lên mấy mũi kim, miết từng mũi một. Rồi chị gấp mảnh vạt áo lại, gấp làm tư như lúc ông phu đưa, ôm vào ngực, quay lưng đi về phía xóm Hạ. Chị đi thẳng, không ngoái lại, không khóc.

Luân đứng nhìn theo chị. Nó nghĩ tới cái chiều ở điếm, cái chiều nó hỏi lão ăn mày đi phu với đi lính có khác nhau không.

Phu chết thì người ta đắp luôn vào đê.

---

Thằng Hợi đi cuối cùng.

Nó đi cách đoàn phu một quãng xa, đi một mình, như hồi ở sân đình nó đứng cuối hàng. Cái thân hình to ngang một người đàn ông nhỏ con giờ tóp lại, da đen cháy như da trâu phơi nắng. Hai cái thúng trên đòn gánh rỗng không, lắc lư theo bước chân.

Luân nhìn cái đòn gánh.

Nó gánh vai trái. Tay phải nó đặt lên đầu đòn phía trước, những ngón tay bấu lấy thân tre. Và ở đầu đòn phía trước, cái quang vẫn buộc bằng cái nút chết mà Luân đã thắt ở sân đình hôm ấy, rút ngắn đi một gang tay, giật thử hai lần cho chặt. Ba tháng, cái nút ấy vẫn nằm nguyên đấy. Chưa ai tháo ra buộc lại.

Thằng Đái lao ra từ đám đông.

Nó chạy chân đất, chạy vấp, suýt ngã, lao tới túm lấy vạt áo anh nó, túm chặt, như cái sáng hôm ấy ở sân đình nó túm vạt áo thằng Hợi trong sương. Nó không khóc. Nó chỉ túm lấy, không buông.

Thằng Hợi dừng lại. Nó nhìn xuống thằng em. Rồi nó giơ bàn tay trái lên, đặt lên đầu thằng Đái, để ở đấy một lúc. Không xoa. Chỉ đặt lên.

Rồi nó ngẩng lên, và nó thấy Luân.

Hai đứa nhìn nhau, cách chừng mươi bước. Quanh chúng, người ta vẫn reo, vẫn khóc. Nhưng giữa hai đứa thì im.

Mặt thằng Hợi tóp lại, hai gò má nhô cao, hai con mắt trũng xuống. Cái nhìn không còn như trước. Không còn cái nhìn hung hăng, trợn trừng, chực lao vào. Cũng không phải cái nhìn khiếp sợ. Nó là một cái nhìn khác, Luân chưa gặp bao giờ, cái nhìn của người vừa đi đâu rất xa về mà chưa về hẳn.

"Tao về rồi." Thằng Hợi nói.

Luân gật đầu.

"Ừ." Nó nói. "Mày về."

Thằng Hợi đứng thêm một lúc. Nó không nói liệu hồn. Nó cũng không nói gì khác. Rồi nó xốc lại đòn gánh trên vai trái, bước đi, thằng Đái vẫn túm vạt áo nó lẽo đẽo theo sau. Hai anh em rẽ vào con đường về Mương Đen.

Thằng Cò đứng cạnh Luân, nhìn theo.

"Nó chẳng nói liệu hồn." Thằng Cò nói, nhỏ.

"Ừ."

"Thế là nó quên hay nó để dành?"

Luân không đáp.

---

Tối ấy, mấy nhà có người về góp nhau luộc một con lợn ở sân đình. Thằng Hợi không ra. Luân ngồi ở bậc thềm, cạnh thằng Cò, nghe.

Người ta kể cơm quan cấp mỗi ngày một nắm, nắm to bằng quả trứng vịt, trộn nửa gạo nửa cám. Kể ba cái cống lớn đào ngay giữa lòng đê, sâu tới mức người đứng dưới đáy nhìn lên chỉ thấy một khoảnh trời nhỏ bằng cái nia.

"Quan bảo làm cống thoát nước." Người phu kể nhấp một ngụm rượu. "Chỉ có điều cống xây bằng đá tảng, đá chở từ trên núi về, cửa cống bằng gỗ lim, dày bằng bàn tay. Tôi đi phu ba lần rồi, chưa thấy cái cống thoát nước nào mà xây như xây thành."

Người ngồi quanh im một lúc. Có người kể thêm một ông quan to trên kinh cưỡi ngựa đen, mặc áo chàm, đi dọc mặt đê, tới chỗ ba người bị sập đất thì dừng ngựa nhìn xuống rất lâu, rồi đi tiếp.

Người ta cũng kể về thằng Hợi. Có hôm tên cai thấy nó gánh đất mà vai phải cứ thõng xuống, lại hỏi, mày mười sáu thật à. Nó đứng thẳng dậy, nhìn thẳng vào mặt tên cai, bảo mười sáu. Không chớp mắt.

"Tối nào nó cũng nằm một mình ở cuối lán." Ông phu nói. "Có đêm tôi dậy, thấy nó móc trong áo ra một cái gói lá chuối, mở ra nhìn, rồi lại gói vào. Gói lá khô quắt, rách tươm. Chẳng biết trong ấy có cái gì mà quý thế."

Luân cúi xuống nhìn hai bàn tay mình.

Nó nghĩ tới gói lá chuối thứ hai mươi. Sốt rét thì sắc lá. Đi tả thì nhai búp ổi. Gừng thì nhai dọc đường.

---

Luân về, ghé qua Mương Đen.

Dưới ánh đuốc nhựa thông sau lò mổ, thằng Hợi cởi trần, đứng dưới mương nước ngập tới đầu gối, cọ lưng con lợn bằng tay trái. Tay phải thõng xuống bên sườn.

Luân đứng khuất sau bụi dứa dại. Những lằn roi da trâu của lão đồ tể ở lưng cũng có, ngắn, cong, quất vội. Nhưng đè lên chúng là những lằn khác. Lằn thẳng hơn, dài hơn, đều hơn, chạy chéo từ vai xuống thắt lưng, từng hàng từng hàng một như những vạch dọc trong quyển sổ. Không phải roi da trâu. Là roi mây. Roi của người khác.

Trong nhà, lão đồ tể nói vọng ra, giọng lè nhè: "Ba tháng mày đi, lợn nó gầy hết cả."

Thằng Hợi không đáp. Luân lùi lại, quay về.

---

Ông lang ngồi ngoài hiên, cái điếu cày dựng bên cạnh.

"Ông cụ tóc bạc không về ạ." Luân nói. "Người ta bảo sốt rét."

Ông lang không đáp ngay. Ông cầm cái điếu lên, tra thuốc, mà không châm lửa.

"Lá thì chỉ đỡ." Ông nói.

Rồi ông quay đầu nhìn vào gian thuốc. Luân nhìn theo. Trong bóng tối, cái tủ ở góc trong cùng đứng im, cái ngăn thứ ba từ dưới lên đóng kín, trong ấy đầy rễ thường sơn, rễ năm năm, lõi vàng. Đầy từ hơn tháng nay.

Hai mươi gói lá chuối gói hôm tháng Giêng, trong ấy chỉ có lá.

Ông lang đặt cái điếu xuống, chẳng rít hơi nào.

---

Đêm ấy, ở điếm, lão ăn mày ngồi trên sạp, nhìn ra bãi tha ma.

"Phu về rồi ạ." Luân nói. "Hai người không về ạ."

Lão ăn mày tu một ngụm rượu.

"Hai thôi à." Lão đặt bầu rượu xuống. "Chôn ở đâu?"

"Dạ, chân đê ạ."

Lão gật đầu một cái, như người ta gật đầu khi nghe tin trời mưa.

"Thế thì đê chắc." Lão nói.

Rồi lão gõ gậy xuống đất.

"Chém ba đường. Mỗi đường trăm lần."

---

Khuya ấy, ông lang đẩy quyển sổ với cây bút lông về phía mép án, như mọi tối. Luân quỳ xuống, tìm tới cái vạch dọc đầu tiên chưa bị gạch, trong đám bốn mươi sáu vạch mới mọc ra ở cuối trang.

Ngọn bút dừng lại trên trang giấy.

Ông phu bốn mươi còn kể, hôm đoàn phu rời hạ lưu, tên cai lật quyển sổ bìa xanh ra, gọi tên từng người. Người nào không còn thì hắn kéo một nét ngang qua cái tên. Một nét thôi, gọn, thẳng, không ngẩng đầu lên. Còn cái tên thằng Hợi, nằm cạnh con số mười sáu, thì hắn không kéo nét nào.

Ở quyển sổ này, kéo một nét ngang thì mình nhẹ đi một chút. Ở quyển sổ kia, kéo một nét ngang thì có một người không về nữa.

Cùng một nét ngang.

"Gạch đi." Ông lang nói, không ngẩng lên. "Mực khô bây giờ."

Luân gạch. Nét ngang hôm ấy đi chậm, nhưng thẳng.

---

Cái ngăn thứ ba từ dưới lên cạn vào một buổi sáng cuối tháng Hai năm Canh Tý.

Hôm ấy mưa phùn. Ông lang ngồi trước cái tủ ở góc trong cùng, kéo cái ngăn ấy ra, thò tay vào, vét.

Bàn tay ông đi từ đầu ngăn tới cuối ngăn. Rồi đi lại. Lúc rút ra, trong lòng bàn tay chỉ còn một nhúm rễ vụn, vàng khè, cái to nhất không bằng đầu đũa.

Ông đặt nhúm rễ lên đĩa cân tiểu ly. Gẩy quả cân ra một nấc, rồi gẩy vào một nấc. Cán cân vẫn cứ chúc xuống phía quả.

"Thiếu." Ông nói.

Luân ngồi bên cối thuốc, cái chày trong tay dừng lại lưng chừng. Ông lang đẩy cái ngăn vào. Cái ngăn trượt vào trong lòng tủ, kêu một tiếng rột, khô và ngắn.

Gần một năm trước, nó đã nhìn cái ngăn ấy đầy lên. Bây giờ nó nhìn cái ngăn ấy cạn.

---

Năm ngoái, cái ngăn thứ ba đầy tới mức đóng không khít, cân lên được gần sáu lạng. Người bên kia sông sang, ông cắt một ít. Thằng cu xóm Hạ lên cơn giữa mùa gặt, ông cắt một ít. Cái ngăn ấy vơi đi như cái vại gạo nhà nghèo, cứ mỗi bữa lại vét xuống một lượt.

Qua Tết, Luân mười một tuổi. Một năm ấy nó lớn nhanh như cây chuối non sau mưa, ống quần cũ ngắn cũn cỡn tới mắt cá.

Bốn mươi sáu cái vạch mọc thêm hồi tháng Tư, Luân gạch hết trước rằm tháng Sáu. Trang giấy bây giờ vạch đã gạch nhiều hơn vạch còn trơ. Hàng sỏi dưới ổ rơm chỉ còn vừa hai gang tay.

Thằng Cò bây giờ là đứa gánh thuốc lên chợ huyện, phiên nào cũng đi. Tối nào, lúc hai đứa trải ổ rơm, nó cũng liếc xuống hai ống chân Luân một cái, xem có vết cào mới không. Liếc nhanh, rồi thôi, như người ta đếm gà trong chuồng trước khi cài liếp.

Thằng Hợi từ ngày đi phu về không đánh nhau với ai nữa. Người Mương Đen bảo không phải nó hiền ra. Lão đồ tể vẫn đánh nó. Nó đứng im cho đánh, đánh xong thì cúi xuống làm tiếp. Gặp Luân, nó không nói gì, cũng không tránh đường. Câu hỏi của thằng Cò hồi tháng Tư năm ngoái, quên hay để dành, vẫn chưa ai trả lời.

Ở điếm, bài chém ba đường, giờ Luân chém được ba trăm lần mỗi đường mà vai không run. Lão ăn mày không khen.

"Được." Lão nói. "Mai bốn trăm."

Tối nào vận công, cái ấm dưới rốn vẫn nằm yên ở chỗ cũ, không to thêm, không nhỏ đi, y như từ cái sáng nó tỉnh dậy sau năm ngày ốm. Nó quen rồi. Quen như người ta quen một vết sẹo trên đầu gối, lâu lâu mới sờ tới.

Mùa đông năm ấy, ông lang dạy nó một thứ không có trong Tam Thiên Tự.

Tối nào học chữ xong, ông cũng bắt nó cởi áo, ngồi quay lưng vào ngọn đèn. Ông nhúng đầu ngón tay vào bát nghệ giã, chấm lên người nó từng chấm vàng. Một chấm ở hõm vai. Một chấm dưới khuỷu tay, chỗ lằn gấp. Một chấm ở cổ tay, cách lằn chỉ tay ba đốt. Một chấm ở bẹn, một chấm ở khoeo chân. Mười hai chấm, mỗi đường kinh một chấm, chấm tới đâu ông đọc tên tới đấy, đọc một lần, không nhắc lại.

"Người ta đứt tay thì máu ở tay chảy xuống từ chỗ này." Ông ấn ngón cái vào cái chấm dưới khuỷu tay nó, ấn sâu, tới lúc cả cánh tay nó tê rần. "Ấn đúng chỗ, ấn đủ lâu, thì máu chậm lại. Ấn sai nửa đốt thì như ấn vào đống rơm."

Rồi ông dạy nó băng. Vải xé thành dải, quấn hai vòng chéo, thắt nút ở mặt trong, chỗ người bị thương có nằm đè lên cũng không cấn. Cái nút ấy giống cái nút chết nó thắt cho quang gánh thằng Hợi, chỉ có đầu dây giấu vào trong chứ không để thò ra ngoài.

"Học cái này để làm gì ạ?" Có tối nó hỏi.

"Để lúc người ta chảy máu thì mày không đứng nhìn." Ông lang lau vết nghệ trên đầu ngón tay. "Tao dạy thì mày biết. Đừng bảo ai là tao dạy."

Nó không hỏi vì sao. Tới Tết, nó nhắm mắt cũng ấn trúng cả mười hai chỗ trên người thằng Cò. Thằng Cò kêu oai oái, bảo mày ấn thế này thì chết trước khi hết chảy máu.

Còn bãi tha ma thì nó không bước qua lần nào. Năm ấy Lò Trấu có ba đám ma, người ta thuê thằng Cò lên phụ lão mõ đào huyệt. Thằng Cò về, hai bàn tay phồng rộp.

"Mày đào thì khéo hơn." Nó cằn nhằn. "Tao đào cái huyệt nào cũng méo."

---

Sốt rét lại về từ ra Giêng. Ông lang cắt rễ ít hơn năm ngoái, cân lâu hơn năm ngoái. Có hôm ông cầm nhúm rễ rất lâu, rồi bẻ đôi, bỏ lại một nửa vào ngăn, bốc thêm lá cho đủ thang.

Sáng hôm cái ngăn cạn, thằng Cò đi chợ huyện. Chiều nó về, đặt đôi quang gánh xuống thềm, thở hồng hộc.

"Lão lái buôn rễ năm ngoái có lên chợ." Nó nói. "Năm quan một lạng."

Ông lang ngẩng lên.

"Năm quan." Ông lang nói.

"Lão bảo đường lên rừng phía Đông có lính đóng, người đi hái bị đuổi về cả, rễ hiếm." Thằng Cò lau mồ hôi. "Lão còn bảo năm quan là lão bán rẻ cho ông, vì năm ngoái ông mua của lão."

Ông lang không đáp. Ông đi vào gian trong. Luân nghe tiếng cái ống tre dưới gầm giường bị lắc. Tiếng lọc xọc nhẹ bẫng, như mấy hòn sỏi lăn trong một cái ống rỗng.

Ông ra, ngồi xuống, cầm con dao cầu lên, thái tiếp.

---

Tối ấy, Luân quỳ xuống bên án như mọi tối, chờ ông lang đẩy quyển sổ sang. Ông không đẩy.

Ông cầm bút lên, chấm mực, viết ở cuối trang có tên nó với tên thằng Cò, bên dưới hàng vạch cuối cùng. Hai chữ Nho. Nét bút đi chậm, đủ từng nét.

Luân nhìn. Nó đọc được.

常山. Thường sơn.

Cạnh hai chữ ấy, ông viết thêm một chữ nhỏ hơn. 五. Rồi ông gác bút lên nghiên.

"Rễ thường sơn, ba năm trở lên." Ông nói, không nhìn nó. "Một lạng, tao gạch năm vạch. Rễ bên này tường non, không bằng rễ năm ngoái. Năm vạch thôi."

Luân quỳ im. Mực còn ướt, bóng lên dưới ngọn đèn.

"Bên này tường." Ông lang nói tiếp. Giọng ông đều, không cao không thấp, như đang dặn cách sắc một thang thuốc. "Đi lúc gà gáy. Về trước lúc gà lên chuồng. Qua bãi tha ma thì đi thẳng, không đứng lại. Bức tường thì tay mày không được chạm vào."

"Dạ."

"Thấy con gì đứng im mà nhìn mày," ông lang nói, "thì đừng chạy. Lùi. Lùi cho tới lúc nó khuất. Rồi về."

Luân ngẩng lên.

Ông lang vẫn nhìn xuống trang giấy. Nó nhớ tới cái hôm nằm mê man, những câu nó nói mà nó không nhớ mình đã nói, trong ấy có con lợn. Nó nhớ tới lão ăn mày cúi thấp người trên cái chân lành, dạy nó chạy vòng, chạy qua chỗ rậm, chỗ dốc, chỗ đá.

Một người dạy nó chạy. Một người dạy nó lùi.

"Còn một điều." Ông lang gấp quyển sổ lại, đặt bàn tay lên bìa sổ. "Mày mà trèo qua cái tường ấy một lần nữa thì khỏi về. Tao không đuổi. Mày tự khỏi về."

"Dạ, con nhớ ạ."

Ông lang mở quyển sổ ra, đẩy sang cho nó cùng cây bút. Luân tìm cái vạch dọc chưa gạch đầu tiên, kéo một nét ngang. Rồi nó nhìn xuống cuối trang, chỗ hai chữ 常山 với chữ 五 nhỏ nằm bên cạnh.

---

Thằng Cò ngồi xổm bên bếp, que cời than trong tay, chờ sẵn.

"Ông cho mày đi à?"

Luân gật.

"Mày đi thì bảo tao." Thằng Cò nói. "Bảo trước. Không phải về rồi mới bảo."

"Ừ."

Thằng Cò im một lúc, rồi hỏi: "Ông bảo năm vạch một lạng à?"

"Ừ."

"Rẻ." Thằng Cò lắc đầu quầy quậy. "Ở chợ huyện năm quan. Ở nhà này năm vạch. Buôn bán thế thì chết đói."

"Thầy không buôn."

"Ừ, ông không buôn." Thằng Cò chọc que cời xuống đống tro, chọc mạnh, tro bụi bay lên. "Ông mua mày."

Luân không đáp. Nó trải ổ rơm, nằm xuống, thò tay xuống dưới rơm sờ hàng sỏi. Hai gang tay. Một lạng rễ, năm hòn sỏi.

---

Gà gáy canh năm, Luân lay thằng Cò. "Tao đi đây. Lên đồi, bên này tường."

"Ừ." Thằng Cò nói trong chăn. "Nhớ về."

Nó đeo giỏ tre lên lưng. Dao quắm nhỏ, thuổng cán ngắn, cuộn lạt, hai gói cơm, một gói để phần. Cành ổi dắt ở thắt lưng.

Tới điếm, lão ăn mày ngồi trên sạp, mắt mở.

"Dạ, cháu lên đồi hái thuốc ạ. Thầy cho ạ."

"Cho à." Lão nhìn cái giỏ, rồi nhìn cành ổi ở thắt lưng nó. "Ừ. Đường ấy mày thuộc rồi."

Luân đặt gói cơm để phần lên sạp, cạnh bầu rượu, rồi đi.

---

Gần một năm, nó mới lại bước lên Dốc Cửa Mả.

Bãi tha ma vẫn thế. Có ba nấm mả mới nhất, ba nấm thằng Cò đào, nằm lệch lạc ở rìa bãi, cái cao cái thấp, cái nào cũng méo. Luân nhìn, thấy thằng Cò nói đúng.

Cây gạo già đứng giữa bãi, cành trơ trụi, chưa ra hoa. Cái hốc dưới gốc vẫn tối hun hút. Luân đi qua, không nhìn vào. Đi thẳng, không đứng lại.

Lên tới đồi sim thì nó dừng lại.

Trên lối mòn có dấu chân ngựa.

Không phải một con. Nhiều con. Dấu móng hằn sâu xuống đất ướt, cái chồng lên cái, chạy thành một vệt dài từ phía Đông tới, cắt ngang lối mòn rồi đi tiếp về phía rừng.

Đồi sim chưa bao giờ có ngựa lên. Người Lò Trấu không ai có ngựa.

Nó đứng dậy, đi tiếp.

---

Trong rừng, Luân đi ngược lên dọc bờ suối. Những chồng sỏi ba hòn nó xếp năm ngoái, có chồng còn, có chồng đổ. Nó không xếp lại. Năm nay nó không cần đường về từ bên kia. Nó tìm được ba bụi thường sơn, đào rễ to, chừa rễ con.

Lên cao hơn thì bức tường hiện ra.

Luân dừng lại cách chân tường chừng mười bước. Chỗ con suối chảy qua, tường vẫn sạt như cũ, nước luồn qua kẽ đá mà chảy xuống, róc rách, róc rách. Bên này có tiếng chim. Nó nghiêng tai, nghe về phía bên kia.

Không có gì.

Nó biết bên ấy, sang tháng Ba, cả một cái thung lũng sẽ nở hoa lam nhạt, nở kín như một lớp khói. Nó không biết trên cái cây đen trên cái gò đất không mọc cỏ giờ có quả hay không.

Nó đứng nhìn chỗ tường sạt một lúc. Rồi nó quay lưng, đi xuống.

---

Về tới nhà, gà chưa lên chuồng.

Ba nắng sau, rễ khô cong, bẻ nghe giòn tan, ông lang mới nhặt từng cái đặt lên đĩa cân. Gẩy quả cân. Cán cân lừ lừ nhích lên, rồi đứng lại.

"Nửa lạng." Ông nói. "Hai vạch rưỡi."

Ông cầm bút, gạch hai cái vạch chưa gạch đầu tiên trên trang. Rồi ông chấm một chấm mực nhỏ xíu cạnh chữ 五.

"Nửa vạch thì tao không gạch được." Ông nói. "Chấm đấy. Đủ hai chấm thì gạch."

Luân nhìn cái chấm mực. Không phải vạch, cũng không phải gạch. Nó không hiểu sao mình lại muốn cười.

---

Từ cuối tháng Hai tới giữa tháng Ba, Luân lên đồi sáu lần.

Lần nào cũng thấy dấu người lạ nhiều hơn lần trước. Ba hòn đá kê làm bếp ở bãi trống đầu rừng, tro đã nguội, cạnh bếp còn một nắm xương gà. Mấy cây tre bị chặt ngọt, vết chặt còn trắng. Có một lần, ở chỗ bờ suối mềm, nó thấy một dãy dấu chân người đi dép cói, dấu nào cũng to, cũng sâu, đi theo hàng một, cách đều nhau như ai lấy thước mà đo.

Nó kể với thằng Cò. Thằng Cò nghe, mắt tròn xoe.

"Giặc à?"

"Không biết."

"Giặc thì mày chết." Thằng Cò nói, rồi nghĩ một lúc. "Lính thì mày cũng chết."

---

Đầu tháng Ba, thằng Cò đi chợ huyện về mang theo cả một gánh chuyện.

Ở quán nước đầu chợ huyện, người ta nói quân Bắc Trấn đã kéo lên biên phía Đông từ trước Tết. Nói nhà Mạc lại động binh ở mạn núi. Nói có người buôn ngựa từ trên ấy về, thề độc là thấy ngựa lạ, cao hơn ngựa ta một cái đầu, đóng yên kiểu lạ, đi lẫn trong đoàn ngựa nhà Mạc.

"Người ta đồn là ngựa Hạo Nguyên." Thằng Cò hạ giọng, như sợ con ngựa ấy đứng ngay ngoài cổng mà nghe thấy. "Mà chẳng ai dám chắc."

Ông lang ngồi ngoài hiên, con dao cầu trong tay. Lưỡi dao dừng trên thớt chừng một hơi thở. Rồi lại thái tiếp, soạt, soạt, đều tay như cũ.

"Chuyện chợ." Ông nói. "Chợ tan thì chuyện tan."

---

Chuyện chợ không tan.

Giữa tháng Ba, mõ làng gõ ba hồi. Ông lý đứng trên thềm đình, cầm tờ trát huyện giơ ra xa tận cánh tay mà đọc. Bảo đầu tháng Tư sẽ có một đạo quân đi qua địa phận làng, lên biên. Bảo làng phải dọn đường từ chân đê tới chân Dốc Cửa Mả, phát quang bụi rậm hai bên. Bảo phải gánh nước đầy chum ở sân đình. Bảo mỗi suất đinh góp một thăng gạo làm lương cho quân.

Ông lý đọc to tên đạo quân ấy lên, đọc chậm từng chữ, như sợ đọc sai.

"Phong. Sương. Vệ."

Sân đình im một lúc. Rồi xì xào nổi lên như ong vỡ tổ.

Người ta bảo Phong Sương Vệ là quân riêng của ông Thái Úy, một trăm người đi tuyển thì chỉ lấy một. Người ta bảo đứa nào vào được thì được cấp một thanh gươm gọi là Gươm Lạc Hồng, trên lưỡi có khắc hình chim, chém sắt như chém chuối.

Một thăng gạo. Đang tháng Ba, lúa chiêm mới làm đòng, vại gạo nhà nào cũng đã cạn tới đáy. Mấy hôm sau, thằng Cò mới kể, trát gửi các làng bên sông chỉ đòi nửa thăng. Chẳng ai cãi. Nhà nào không có gạo thì bán cái nong, cái nia, con gà mái đang đẻ. Kho nhà ông Bá Hộ mở cửa, bán gạo cho làng, giá cao hơn giá chợ huyện ba đồng một đấu.

Còn Luân thì không nghe thấy chuyện gạo. Nó nghe đi nghe lại trong đầu cái tiếng Gươm Lạc Hồng. Gươm thật nó mới thấy cái vỏ, vỏ gỗ sơn đen, đeo bên hông mấy người lính huyện bụng to. Cái lưỡi thì nó chưa thấy bao giờ.

Nó đặt tay lên cành ổi ở thắt lưng. Cành ổi nhẵn bóng, lên nước vì tay nó cầm suốt hai năm.

---

Tối ấy, ở điếm, Luân kể cho lão ăn mày.

Lão đang ngửa cổ tu rượu. Nghe tới cái tên, bầu rượu dừng lại lưng chừng, cách môi lão chừng một đốt tay.

"Phong Sương Vệ à. Bao giờ?"

"Dạ, người ta bảo đầu tháng Tư ạ."

Lão tu nốt ngụm rượu. Đặt bầu xuống sạp, chậm, đặt cho thật vững.

"Hôm ấy tao đi vắng." Lão nói. "Cả làng ra đường xem lính thì chợ huyện vắng đứa ăn mày. Tao xin được nhiều."

Lão gõ đầu gậy xuống nền đất, cộc một tiếng.

"Chém. Mỗi đường bốn trăm. Chém xong thì chạy mười vòng cái điếm."

---

Khuya ấy, Luân về, đi qua miếu Thần Nông, qua lò mổ đã tắt đuốc, qua Ngõ Mương Đen tối mịt.

Nó nằm trong ổ rơm, nhắm mắt, nghĩ tới Gươm Lạc Hồng, trên lưỡi có khắc hình chim. Nó không biết chim gì. Nó cố nghĩ ra hình con chim ấy, mà nghĩ mãi chỉ ra được con cò trắng đứng một chân ngoài ruộng chiêm.

Bên cạnh, thằng Cò đã ngáy.

---


Phu về thiếu một, thiếu hai,

Sổ kia một nét, gạch ai không về.

Đồi sim ngựa lạ bốn bề,

Người thì dạy chạy, người về dạy lui.



0