Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử
Chương 31: Diễu Binh Về
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
35 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 35/35 chương
Sương tan dần khi đoàn người xuống tới chân Dốc Cửa Mả.
Hôm mồng năm tháng Tư, sương dày tới mức đoàn quân như từ trong sương mà hiện ra. Hôm nay sương mỏng, loãng, rách từng mảng, nắng đã lọt xuống qua những chỗ rách ấy, và chẳng có gì che được cho ai.
Luân đứng ở cổng nhà ông lang, rồi chạy. Nó chạy qua xóm Trung, qua đầu chợ, tới sân đình thì dừng lại.
Sân đình vắng. Mười hai cái chum sành vẫn xếp dọc hiên, chum nào cũng trống, miệng chum đọng sương. Cổng nhà nào quanh đình cũng cài then. Không có mâm trầu. Không có ông lý quỳ giữa đường. Chỉ có ba người đàn bà đứng dưới gốc đa, và thằng Quý ngồi trên cây nhãn đầu ngõ nhà nó.
Tiếng chân tới gần. Không phải tiếng chân một người khổng lồ. Tiếng lê. Tiếng kéo. Tiếng cáng tre kẽo kẹt. Tiếng ai rên, dài, khe khẽ, như tiếng con chó bị đánh gãy chân rên trong gầm chõng.
---
Luân tìm con ngựa hồng trước tiên.
Nó thấy ngay. Con ngựa hồng đi ở gần đầu đoàn, một người lính dắt. Trên lưng con ngựa không có ai. Cái yên trống. Hai cái bàn đạp đồng đung đưa hai bên sườn ngựa, va vào nhau lách cách mỗi bước.
Luân không để mình nghĩ tiếp.
Nó nhìn sang con ngựa bạch. Con ngựa bạch đi ngay sau con ngựa hồng, cũng không có ai cưỡi. Trên lưng nó buộc hai người lính bị thương, một người nằm vắt ngang, một người ngồi gục đầu vào bờm ngựa, băng quấn kín mặt. Bộ lông trắng của con ngựa lấm lem những vệt nâu sẫm, khô cứng, không phải bùn.
Người dắt con ngựa bạch là Cao Phong.
Ông đi bộ. Áo giáp da ở vai trái rách toạc, miếng bạc hai vạch vẫn còn, nhưng méo đi như bị ai nện búa. Mặt ông không trắng nữa. Mặt ông xám như tro bếp, một vệt máu khô chạy từ thái dương xuống cằm. Ông đi thẳng lưng, nhưng không còn thẳng như cây sào cắm xuống ruộng. Ông thẳng như người ta cố giữ cho mình thẳng.
Không ai trong sân đình phải lùi lại. Không khí quanh ông không còn đặc lại. Chó nhà ai ở góc sân vẫn ngồi đấy, không chui vào gầm chõng.
Tay phải ông cầm dây cương con ngựa bạch. Tay trái ông nắm một vật gì nhỏ, nắm chặt, buông thõng bên đùi.
Luân nhìn bàn tay trái ấy. Từ giữa những ngón tay nắm chặt, thò ra một đầu dây da mảnh.
---
Nó biết con dao ấy.
Dài hơn gang tay một chút. Lưỡi thẳng. Chuôi bọc da. Trên thân lưỡi khắc mấy chữ Nho, chữ đầu nó không đọc được, chữ thứ hai nó đọc được. 五. Ngũ. Là năm.
Nó nhớ cái ấm. Nó nhớ cái ấm nằm trong lòng bàn tay nó, không phải cái ấm của một vật vừa rút ra từ trong áo người ta, mà ấm từ bên trong ra, như một con chim non còn đang thở.
Người còn sống thì nó còn ấm. Người chết thì nó nguội.
Nó muốn chạy tới. Nó muốn gỡ những ngón tay ấy ra, cầm lấy con dao, áp vào lòng bàn tay mình, để biết. Nó biết mà không cần chạm. Nó biết từ lúc thấy cái yên ngựa trống. Nó vẫn muốn chạm.
Nó đứng im.
Cao Phong dắt con ngựa bạch đi qua trước mặt nó. Mắt ông lướt qua sân đình. Qua ba người đàn bà dưới gốc đa. Qua dãy chum trống. Qua Luân.
Rồi dừng lại.
Hôm mồng năm, mắt ông lướt qua Luân như lướt qua cái cột đình. Hôm nay mắt ông dừng lại ở Luân, một nhịp thở, hai nhịp thở. Ông không nói gì. Luân cũng không. Rồi ông nhìn đi chỗ khác, dắt con ngựa đi tiếp, bàn tay trái vẫn nắm chặt.
Luân còn thấy một điều nữa. Hôm mồng năm, ông đi tới đâu người ta lùi tới đấy, chó cụp đuôi chui gầm chõng. Hôm nay con chó vàng nhà ông lý nằm ngay giữa lối, ông dắt ngựa đi qua mà nó không nhúc nhích. Cái khí ép người ngày ấy không còn. Nhưng lúc ông bước ngang, vũng nước mưa dưới chân Luân tự gợn lên một vòng, rồi phẳng lại. Như có một thứ gì rất nặng vừa được cất vào trong, đóng nắp lại.
---
Đoàn quân không đi bốn người một hàng. Chẳng còn hàng nào. Người què chống giáo làm gậy. Người cụt tay quấn vai bằng mảnh áo choàng xám giờ đã đỏ. Người lành thì khiêng cáng, hai người một cáng, có cáng người nằm còn rên, có cáng người nằm đắp manh chiếu kín từ đầu tới chân. Áo choàng xám không còn ai khoác. Áo choàng giờ là băng, là dây buộc cáng, là manh chiếu đắp lên người chết.
Luân đếm cáng đắp chiếu. Nó đếm tới hai mươi thì thôi.
Ở giữa đoàn, bốn người lính cưỡi ngựa đi sát nhau thành một hình vuông. Giữa hình vuông có con ngựa nhỏ màu nâu sẫm. Con bé ngồi trên lưng ngựa, áo nâu, nón lá rách vành. Tay phải con bé vẫn quấn băng. Tay trái nó ép vào ngực. Nó không nhìn ai. Nó nhìn xuống bờm ngựa.
Luân nhìn con bé. Con bé không ngẩng lên.
---
Cuối đoàn là những người làng.
Luân nhận ra anh Quyền trước. Anh Quyền đi bộ, áo rách, mặt đen nhẻm khói, nhưng đi được, hai tay hai chân còn đủ. Thằng Quý trên cây nhãn hét lên một tiếng, tụt xuống, chạy như bay về nhà đập cổng. Cổng nhà ông trùm mở toang.
Rồi thằng Nhỡ.
Thằng Nhỡ đi giữa hai người lính, không phải vì bị giải, mà vì hai người ấy phải xốc nách nó. Mặt nó trắng bệch như giấy bản. Cánh tay trái của nó, từ khuỷu trở xuống, không còn nữa. Chỗ khuỷu tay quấn một cục vải to, vải thấm máu đã ngả màu đen.
Mẹ thằng Nhỡ không kêu. Bà đi ra khỏi gốc đa, đi qua những người lính, như hôm bắt lính bà đi qua hàng lính mà không ai cản. Bà tới trước mặt con. Bà giơ tay lên.
Cái vai áo bên trái của thằng Nhỡ thõng xuống, trống trơn, bên trong không có gì.
Bà nhìn cái vai áo trống ấy rất lâu. Rồi bà đưa tay sang vai bên phải của con. Cái vai còn lại. Bà vuốt. Vuốt đi vuốt lại một chỗ. Rồi bà mới khóc.
---
Ba cái cáng cuối cùng thì đắp chiếu.
Người lính khiêng cáng đặt ba cái cáng xuống dưới gốc đa, thẳng hàng, rồi lùi ra. Một người lính khác cầm một tờ giấy, đọc tên. Đọc chậm, như người đọc chữ không quen.
"Nguyễn Văn Sáng. Lò Trấu, xóm Thượng."
Bà góa xóm Thượng ngồi dưới gốc đa. Bà không đứng dậy được. Bà bò. Bà bò tới cái cáng, hai tay run run lật manh chiếu ra. Rồi bà gục xuống.
"Con ơi là con ơi!" Tiếng bà xé ra, khàn, đứt quãng, từng tiếng như bị ai rứt ra khỏi ruột. "Con đi thì lấy ai hương khói cho u! Lấy ai chống gậy cho u ra đồng! Nhà mình có một cái cột, người ta chặt mất cái cột rồi thì cái nhà này đổ thôi, làng nước ơi! Làng nước ơi ra đây mà xem con tôi! Ông trời ơi, ông có mắt thì ông nhìn xuống đây, ông lấy cái thân già này đi mà trả con tôi lại đây! Sao ông không lấy tôi! Sao ông lấy nó!"
Bà kể. Bà kể con bà hiếu thảo ra sao, mùa đông năm nào cõng bà đi chữa bệnh ra sao, bà kể cái áo nó mặc hôm đi, cái nón nó đội. Bà vừa kể vừa lấy hai bàn tay đập xuống đất, đập tới mức trầy da. Không ai kéo bà dậy.
"Hoàng Văn Mộc. Người làm nhà ông Bá Hộ."
Một người đàn bà trẻ, bế một đứa con đỏ hỏn trên tay, lách ra khỏi đám đông. Chị Mộc. Chị không lật chiếu. Chị đứng nhìn cái cáng, rồi quay phắt lại nhìn đám lính.
"Chồng tôi đi làm thuê làm mướn cho người ta, chồng tôi có dính dáng gì tới quan với quân!" Chị nói, giọng chua loét, run bắn lên. "Các ông bắt đi thì các ông trả về đây nguyên vẹn cho tôi! Sống thì bắt đi, chết thì trả về cái xác, bắt người như bắt gà, trả người như trả nợ! Cha mẹ ông Thái Úy nhà các ông có đẻ con ra không, mà ông ấy không biết thương con nhà người ta! Trời đánh thánh vật cái quân mặt người dạ thú!"
Đứa bé trên tay chị khóc ré lên. Chị không dỗ. Chị cứ đứng đấy mà chửi, chửi tới lúc giọng khản đặc, không ra tiếng nữa.
Mấy người lính đứng quanh cúi đầu. Không ai nói gì. Tên cao gầy ria lún phún nằm trên một cái cáng gần đấy, đùi quấn băng, mặt quay đi chỗ khác.
"Đỗ Văn Thuận. Lò Trấu, xóm Hạ."
Vợ ông Thuận đứng dậy từ chỗ gốc đa. Bà vẫn cầm cái rổ. Bà đi tới bên cái cáng, không lật chiếu. Bà cúi xuống, tìm cái tay nải đặt bên cạnh xác chồng. Bà mở tay nải ra. Trong ấy, gói muối vừng bà nhét vào cho ông hôm đi, vẫn còn nguyên, chưa mở.
Bà cầm gói muối vừng lên, nhìn.
"Đi ba lần phu, một lần lính." Bà nói. Giọng bà không to. Không run. "Đủ bộ rồi đấy, ông ạ."
Rồi bà ngồi xuống bên cạnh cái cáng, đặt gói muối vừng lên ngực ông, qua lớp chiếu. Bà ngồi đấy, không khóc.
---
Lúc ấy người làng mới lục tục mở cổng.
Họ ra đứng quanh gốc đa. Họ nhìn ba cái cáng, nhìn thằng Nhỡ cụt tay, nhìn những người lính mặt mũi xám ngoét đang ngồi bệt dưới hiên đình. Không ai mang nước ra. Không ai bưng mâm trầu.
Không ai chửi to. Người ta đứng túm năm tụm ba, nói với nhau, nói vừa đủ nghe, mắt thì cứ liếc về phía hiên đình. Chưa được mươi hôm trước, cũng dưới gốc đa này, người làng còn bưng chè xanh ra mời lính, bà hàng rượu còn đon đả đong rượu, mẹ thằng Nhỡ còn vừa cười vừa khóc.
"Trời làm thì còn chịu được. Người làm thì biết kêu ai."
"Quan trên ở tận kinh, có biết Lò Trấu nằm chỗ nào đâu. Ngón tay ông ấy chấm một cái lên giấy, dưới này mất ba cái cột nhà."
"Năm ngoái bắt phu, năm nay bắt lính. Phu thì còn có ngày về. Lính thì về bằng cái chiếu."
"Ông lý ăn chặn nửa thăng gạo của làng thì nhanh lắm. Bây giờ đứng đấy có dám ho một tiếng nào đâu."
Ông lý đứng nép sau cột đình, nghe thấy, giả như không nghe.
Ông trùm đứng giữa đám đông, anh Quyền đứng bên cạnh. Con ông về lành lặn. Ông không nói gì với lính. Ông quay sang mấy ông già đứng cạnh, nói vừa đủ cho cả gốc đa nghe.
"Không bán suất." Ông nhại lại, giọng rít qua kẽ răng. "Không bán suất thì bán cái gì? Bán mạng người làng tôi."
Mấy ông già gật gù. Không ai nhắc tới tên Thái Úy. Chẳng ai cần nhắc.
Những người lính ngồi dưới hiên đình nghe hết. Không ai đáp lại. Cao Phong đứng cạnh con ngựa bạch, quay lưng lại đám đông. Bàn tay trái ông vẫn nắm chặt.
---
Mười hai cái chum dọc hiên đình trống rỗng.
Luân đi ra giếng.
Nó thả gàu xuống, kéo lên một gàu nước, đổ vào cái thùng gỗ ai bỏ quên dưới gốc cây. Rồi thả gàu xuống. Kéo lên. Đổ vào. Cái trục gỗ kêu cót két. Cả sân đình đang xì xào, đang khóc, mà tiếng cót két ấy nghe rõ mồn một.
Người đầu tiên nhìn ra là một người lính trẻ ngồi dưới hiên, môi nứt nẻ, mắt đỏ vằn. Anh ta nhìn cái thùng nước. Rồi nhìn Luân.
Luân múc một gáo, đi tới, đưa cho anh ta. Hai tay nâng lên.
Người lính trẻ đón lấy, uống. Uống tới giọt cuối. Rồi anh ta đưa trả cái gáo, không nói gì, chỉ gật đầu.
Luân quay lại giếng. Thả gàu. Kéo lên.
Mấy người trong đám đông quay lại nhìn nó. Có người chép miệng. Có người nói gì đó, Luân nghe loáng thoáng có chữ thằng đào mả, có chữ lính. Nó không quay lại. Nó múc nước. Người lính này uống xong thì người lính khác. Nó múc. Nó đưa. Nó không đếm.
Tới lúc hai cánh tay nó mỏi rã, nó ngẩng lên thì thấy thằng Cò đang đứng bên kia thành giếng. Thằng Cò không nói gì. Nó cầm lấy đầu dây gàu, thả xuống, kéo lên. Rồi thằng Bống ở đâu chạy tới, tay cầm cái gáo nhà nó mang theo.
Ở góc sân, Cao Phong đứng nhìn ba đứa trẻ kéo nước. Ông nhìn lâu. Rồi ông quay đi.
---
Chiều, lính đưa người bị thương vào đình, vào chùa. Người chết thì đặt ở sân sau đình, xếp hàng dưới mái tranh tạm, chờ.
Ba cái cáng của người làng thì người nhà khiêng về.
Con bé áo nâu được đưa vào ngôi nhà ngói của ông lý, có lính gác cửa. Lúc đi ngang qua giếng, nó liếc sang Luân một cái. Chỉ một cái. Tay trái nó vẫn ép vào ngực áo, chỗ Luân biết có con dao của chú Tường.
---
Tối ấy, Luân về nhà.
Ông lang không hỏi gì. Hai thúng băng vẫn nằm trong bếp, đầy nguyên. Mấy chục gói thuốc vẫn nằm kín mặt án. Ông ngồi trước án, tay đặt trên quyển sổ đã gấp.
Luân ra giếng sau nhà rửa cái gáo dừa.
Cái gáo dừa này, hôm mồng năm, nó rót nước giếng đình vào, hai tay nâng lên đưa cho một người đàn ông cưỡi ngựa hồng. Người ấy ngửa cổ uống một hơi dài, nước tràn ra khóe miệng, chảy xuống cái cổ đen sạm. Người ấy bảo nước giếng làng mày ngọt.
Hôm nay nó mang cái gáo ấy ra đình, múc nước cho người khác uống.
Nó kỳ cái gáo dưới nước giếng. Kỳ mãi. Cái gáo sạch rồi mà nó vẫn kỳ.
Rồi nó ngồi thụp xuống bên thành giếng, cái gáo dừa trong tay, và nó khóc. Khóc không ra tiếng. Khóc như lúc nó còn là thằng Bần, chín tuổi, ngồi bên bát cơm trắng đầu tiên trong đời, không hiểu vì sao mình khóc.
Lần này thì nó hiểu.
Trong gian bếp, thằng Cò đứng sau tấm liếp, không ra.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.