Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử
Chương 20: Hai Quyển Sổ
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
35 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 35/35 chương
Canh năm ngày hai mươi tháng Giêng, sương xuống dày đặc.
Thứ sương đầu xuân ở Lò Trấu, trắng đục như nước vôi pha loãng, sà xuống sát mặt ruộng, trùm lên những luỹ tre, những mái rạ, nuốt chửng cả con đường làng. Đứng ở cổng nhà ông lang nhìn ra, cách mười bước chân đã chẳng còn thấy gì ngoài một màu trắng mờ mờ, đặc quánh, lành lạnh, hít vào thì nghe ướt cả lỗ mũi.
Ông lang đưa cho Luân cái rổ tre, trong xếp hai mươi gói lá chuối buộc lạt.
"Đưa mỗi người một gói. Bảo họ sốt rét thì sắc lá, đi tả thì nhai búp ổi. Gừng thì nhai dọc đường."
"Dạ. Thầy không đi ạ?"
Ông lang nhìn ra màn sương một lúc.
"Chân mày nhanh hơn chân tao." Ông nói. "Đi đi, kẻo người ta đi mất."
Luân ôm cái rổ, chạy.
Sân đình cắm đuốc. Mười chín người phu đứng thành hai hàng giữa sân, quang gánh đặt dưới chân. Người nhà vây quanh, đông hơn cả hôm điểm mặt.
Có người vợ ngồi xổm dưới chân chồng, khâu một lá bùa đỏ xin ở chùa vào vạt áo trong của chồng, khâu mà tay run, mũi kim cứ đâm trượt ra ngoài. Người đàn bà xóm Hạ đứng sát bên thằng cu nhà bà, chẳng khóc nữa, chỉ cứ lấy tay vuốt vuốt cái vai áo con, vuốt đi vuốt lại một chỗ, như sợ có vết nhăn nào ở đấy.
Luân ôm cái rổ, đi từ đầu hàng.
"Thầy con gửi ạ." Nó chìa gói lá chuối ra. "Sốt rét thì sắc lá. Đi tả thì nhai búp ổi. Gừng thì nhai dọc đường ạ."
Người phu thứ nhất là một người đàn ông tóc đã lốm đốm bạc, suất của nhà ông ta chẳng còn ai trẻ hơn để đi thay. Ông ta cầm gói lá, đưa lên mũi ngửi, rồi xoa đầu nó.
"Cảm ơn ông lang nhá."
Người thứ hai cầm lấy, lật đi lật lại cái gói lá, hỏi ông lang keo có tiếng mà cũng cho không à. Luân chỉ bảo thầy con gửi ạ. Người thứ ba bảo ông lang có lòng. Người thứ tư là chồng cái chị đang khâu bùa, anh ta cầm gói thuốc mà mắt vẫn nhìn xuống cái đầu vợ đang cúi dưới chân mình. Luân đi hết hàng này sang hàng kia, câu nào cũng nói đúng như thế, sốt rét thì sắc lá, đi tả thì nhai búp ổi, gừng thì nhai dọc đường, nói tới lần thứ mười thì nó nói trơn như đọc vè. Thằng cu nhà người đàn bà xóm Hạ cầm gói thuốc bằng cả hai tay, hai tay run bần bật, run tới mức cái gói lá kêu sột soạt.
Ở cuối hàng, có một ông phu chừng bốn mươi ngồi vắt vẻo trên cái đòn gánh gác ngang hai miệng thúng, rít điếu thuốc lào đã tắt ngấm, khe khẽ hát một mình, hát như để dỗ chính mình.
Ba năm trấn thủ lưu đồn, Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan...
Luân nghe tới chữ canh điếm thì ngẩn ra. Nó nghĩ tới cái điếm hoang dưới chân Dốc Cửa Mả, cái trống da trâu rách treo trên xà, gõ vào chỉ kêu bục bục. Hồi xưa, trước khi bỏ hoang, chắc cũng có người phải ngồi canh ở đấy, ngày này qua ngày khác.
Gói thứ mười chín.
Còn một gói.
Thằng Hợi tới sau cùng.
Lão đồ tể đi đằng trước, tay xách cái đòn gánh, đằng sau là thằng Hợi ôm hai cái thúng đã buộc sẵn quang, rồi hai thằng em lẽo đẽo theo sau. Tới giữa sân, lão ném cái đòn gánh xuống đất đánh cạch một cái, hất hàm về phía hàng phu.
"Vào hàng."
Thằng Hợi cúi xuống nhặt đòn gánh, xỏ vào quang, lê hai cái thúng vào đứng cuối hàng. Một thúng đựng gạo, cái nồi đất, cái chiếu. Một thúng đựng cái cuốc với cái thuổng, lưỡi sắt chĩa tua tủa ra ngoài.
Lão đồ tể đứng nhìn một lúc. Rồi lão khạc một bãi xuống sân, chùi miệng vào mu bàn tay.
"Tao về. Lợn nó không chờ ai."
Lão quay đi. Cái lưng to bè, cái tạp dề da trâu, lẫn vào màn sương, mất hút. Lão không quay lại.
Thằng Đái đứng nép sau lưng anh nó, hai tay túm chặt lấy vạt áo thằng Hợi, cái mũi thò lò hai hàng nước. Thằng em thứ hai thì đứng xa hơn một chút, mắt nhìn xuống đất.
Luân bước tới, chìa gói lá chuối cuối cùng ra.
"Thầy tao gửi. Sốt rét thì sắc lá. Đi tả thì nhai búp ổi. Gừng thì nhai dọc đường."
Thằng Hợi nhìn gói lá. Nhìn Luân. Rồi nó giật lấy, nhét vội vào trong áo, không nói một lời.
Tên cai trên thềm đình đứng dậy, vươn vai, rồi quát.
"Gánh lên!"
Mười chín người phu cúi xuống, luồn vai vào đòn gánh, đứng dậy. Những cái đòn gánh cong xuống, kẽo kẹt.
Thằng Hợi cũng cúi xuống. Nó liếc lên thềm, chỗ tên cai hôm trước hỏi tay phải làm sao, rồi nghiến răng luồn vai phải vào đòn gánh, đứng dậy.
Nó đứng dậy được nửa chừng thì mặt nhăn rúm lại. Cái vai phải sụm xuống. Đòn gánh trượt khỏi vai, cái thúng đựng cuốc thuổng chúi đầu xuống đất, cái cuốc văng ra, lưỡi sắt đập xuống gạch sân đình đánh xoảng một cái, nghe chói cả tai.
Có mấy tiếng cười khúc khích ở vòng ngoài.
"Thằng kia!" Tên cai quát. "Gánh không nổi thì về mà bú mẹ!"
Mặt thằng Hợi đỏ tía lên. Nó cúi xuống nhặt cái cuốc, ném vào thúng, rồi đổi sang vai trái. Lần này thì nó đứng dậy được. Nhưng hai cái quang thì buộc dài ngắn chẳng đều nhau, buộc cho có, buộc như người ta buộc lợn đem đi chợ. Cái thúng đằng trước nặng hơn lại treo thấp hơn, cứ lết đáy xuống đất, còn cái thúng đằng sau thì vênh lên, lắc lư như cái võng. Nó bước được một bước thì cái đòn gánh đã lệch hẳn về phía trước, đè nghiến lên vai.
Nó đứng khựng lại, hai chân dạng ra, người nghiêng nghiêng như cây tre bị gió quật.
Luân đặt cái rổ không xuống đất.
Thằng Cò túm lấy tay áo nó, rít lên qua kẽ răng.
"Mày làm cái gì đấy?"
Luân gỡ tay thằng Cò ra, đi tới chỗ thằng Hợi.
Nó chẳng nói gì. Nó ngồi xuống, tháo cái quang đằng trước ra khỏi đầu đòn gánh.
"Mày làm cái gì?" Thằng Hợi gầm lên, cái đòn gánh vẫn đè trên vai.
"Buộc lại."
"Ai khiến?"
"Không ai khiến."
Luân tháo nút, rút sợi quang ngắn lại chừng một gang tay, thắt lại một nút chết, giật thử hai lần cho chặt. Rồi nó nhấc cái thúng đựng cuốc thuổng, cái thúng nặng, chuyển ra phía sau, đổi chỗ cho cái thúng gạo. Nó đẩy cái đòn gánh trên vai thằng Hợi nhích lên phía trước một chút, cho cái vai nằm gần về phía thúng nặng, rồi nhấc thử từng đầu đòn cho tới lúc hai đầu cân nhau. Nó làm nhanh, gọn, tay chẳng vấp chỗ nào. Hồi còn ở điếm nó đã gánh thuê cho người ta, sang nhà ông lang thì ngày nào cũng gánh. Cái việc buộc quang gánh, nó biết rõ hơn biết chữ.
"Vai trái." Nó nói, vẫn cúi đầu. "Tay phải đừng giơ lên. Đặt ngang ngực, giữ lấy đầu đòn đằng trước là được. Đi thì bước theo nhịp đòn. Đòn nó nhún xuống thì mình bước. Bước ngược nhịp thì nó đập vào vai."
Thằng Hợi không đáp. Nhưng nó đứng im cho Luân làm.
Chung quanh, người ta bắt đầu xì xào.
"Kìa, thằng Bần nhà ông lang buộc quang cho thằng Hợi kìa."
"Hôm tháng Tám chúng nó chẳng đánh nhau vỡ đầu ở ruộng chiêm là gì?"
"Trẻ con, hôm nay đánh nhau, mai lại chơi với nhau ấy mà."
"Chơi với nhau cái gì. Bà nhìn cái mặt thằng Hợi kia kìa."
Luân đứng dậy, phủi hai đầu gối.
"Gánh thử."
Thằng Hợi đứng thẳng lên. Cái đòn gánh cong xuống trên vai trái nó, hai cái thúng đung đưa ngang nhau, cách mặt đất vừa một gang tay. Nó bước một bước. Cái đòn gánh nhún xuống. Nó bước thêm bước nữa. Cái đòn gánh lại nhún, lần này nó bước đúng nhịp, đòn gánh không đập vào vai nữa. Tay phải nó đặt lên đầu đòn phía trước, những ngón tay bấu chặt lấy thân tre.
Thằng Hợi đứng lại. Nó không nhìn Luân. Nó nhìn thẳng về phía trước, vào màn sương.
Thằng Đái vẫn túm vạt áo anh nó, khóc thút thít, cái tiếng khóc nghèn nghẹt vì mũi đã tắc.
"Về đi." Thằng Hợi nói với em nó. Giọng nó không gắt. "Về đi."
"Đi!"
Tên cai quát một tiếng, rồi leo lên ngựa. Hai tên lính cưỡi ngựa kèm hai bên hàng phu. Hai mươi người phu nối đuôi nhau ra khỏi sân đình, những cái đòn gánh nhún nhún, những cái thúng lắc lư, người nhà chạy theo hai bên đường, có người khóc thành tiếng, có người gọi tên, có người chỉ đứng lại ở cổng đình, giơ tay lên mà chẳng vẫy.
Thằng Hợi đi cuối cùng.
Nó đi được chừng mươi bước thì dừng lại. Nó không quay hẳn người, chỉ ngoái đầu lại qua vai trái, qua cái đòn gánh.
"Ê."
Luân đứng giữa sân đình, cạnh cái rổ không.
"Gì?"
"Tao về thì mày liệu hồn."
Luân nhìn nó.
"Ừ." Nó nói. "Mày về."
Thằng Hợi quay đầu đi. Cái đòn gánh nhún xuống, và nó bước theo nhịp đòn.
Thằng Bống đứng ở cổng đình, tay nắm tay ông phó cả, nhìn theo đoàn phu, cái đầu chỏm ngoẹo sang một bên.
"Anh Luân ơi, anh Hợi đi đâu thế ạ?"
"Đi đắp đê."
"Bao giờ về ạ?"
"Ba tháng."
Thằng Bống giơ mấy ngón tay ra đếm, đếm lẩm nhẩm một lúc, rồi ngẩng lên.
"Ba tháng là mấy ngày hả anh?"
"Chín mươi ngày."
Thằng Bống lại giơ mấy ngón tay ra đếm, đếm hết mười ngón thì chẳng còn ngón nào mà đếm tiếp. Nó không hỏi gì nữa. Nó chỉ nắm chặt tay ông phó cả hơn một chút.
Thằng Cò đứng sau lưng Luân, hai tay khoanh trước ngực. Từ lúc bị Luân gỡ tay ra, nó chẳng nói thêm câu nào. Lúc đoàn phu ra khỏi cổng đình, nó mới cười khẩy một tiếng, cười nhỏ.
"Năm Hợi mà thằng Hợi đi. Đúng năm của nó."
Luân không cười.
Thằng Cò liếc sang nó, rồi liếc về phía thằng Đái đang đứng giữa sân, một mình, hai tay buông thõng, cái mũi vẫn thò lò. Thằng em thứ hai đã về từ lúc nào. Chỉ còn thằng Đái đứng đấy, nhìn vào màn sương, nơi cái lưng anh nó vừa khuất.
Thằng Cò thôi cười. Nó quay mặt đi, lấy mũi chân di di xuống đất.
Đoàn phu khuất hẳn vào sương. Tiếng đòn gánh kẽo kẹt nhỏ dần, nhỏ dần, rồi mất.
Đúng lúc ấy, từ phía Mương Đen, vọng lên tiếng lợn kêu.
Eng éc. Một hồi dài, rồi thôi.
Thằng Đái đứng giữa sân đình, nghe tiếng lợn kêu từ phía nhà mình, và nó thôi khóc.
Luân xách cái rổ không về, sương đã tan bớt. Ông lang ngồi ngoài hiên, cái điếu cày dựng bên cạnh.
"Đủ hai mươi gói chứ?"
"Dạ, đủ ạ."
"Gói cuối ai cầm?"
"Dạ, Hợi ạ."
Ông lang gật đầu. Ông cầm cái điếu lên, tra thuốc, châm lửa, rít một hơi dài. Cái điếu kêu sòng sọc giữa buổi sáng im ắng. Ông nhả khói ra, nhìn làn khói tan dần trên giàn phơi thuốc.
"Nó mười ba, phải không?"
"Dạ." Luân chuyển cái rổ không từ tay này sang tay kia.
"Cả sân đình biết."
"Dạ."
"Không ai nói."
"Dạ, không ai nói ạ."
Ông lang gõ gõ cái nõ điếu vào cạnh thềm cho rơi tàn. Ông không hỏi thêm. Luân đứng dưới thềm, cái rổ không trong tay, đợi mãi mà ông cứ ngồi im như thế, như đang đợi một câu gì nữa. Nó nghĩ một lúc, rồi nói.
"Con há miệng ra rồi ạ." Nó nói, nhỏ. "Rồi con lại ngậm vào."
Ông lang quay sang nhìn nó.
"Lúc ngậm vào thì thấy thế nào?"
Luân cúi xuống nhìn cái rổ không, nghĩ một lúc lâu.
"Dạ... như nuốt phải hòn sỏi ạ."
Ông lang nhìn nó thêm một lúc. Cái điếu cày trong tay ông đã nguội, ông cũng chẳng buồn tra thuốc nữa.
"Ừ. Còn thấy vướng thì còn được."
Ông dựng cái điếu vào cột hiên, đứng dậy, đi vào gian thuốc. Luân đứng dưới thềm, nghe cái hòn sỏi ấy vẫn nằm nguyên ở đấy, chưa trôi xuống.
Chiều ấy, đi ngang qua lò mổ, Luân thấy thằng Đái ngồi vắt vẻo trên thanh gióng chuồng lợn, hai chân đung đưa, mắt nhìn ra đầu ngõ. Trong nhà, lão đồ tể đang ngủ trưa, tiếng ngáy vọng ra tận ngõ, đều đều như mọi ngày.
Hồi tháng Tám, ở thửa chiêm trũng, Luân mới bước về phía thằng Đái có một bước là nó đã co giò chạy mất. Lần này thì nó không chạy. Nó nhìn Luân đi tới, mắt còn đỏ hoe, cái mũi đã khô.
"Anh tao có về không?"
Luân dừng lại.
"Có."
"Sao mày biết?"
Luân nghĩ tới cái đầu thằng Hợi ngoái lại qua vai, qua cái đòn gánh, trong màn sương.
"Nó bảo nó về."
Thằng Đái nhìn nó một lúc, như muốn xem nó có nói dối không. Rồi nó gật đầu, quay mặt ra đầu ngõ, lại đung đưa hai chân.
Ở điếm, lão ăn mày ngồi uống rượu trên sạp, chẳng bắt Luân tập gì. Luân ngồi trên bậc cửa điếm, nhìn cây chuối dập nát giữa sân, nhìn mãi.
"Thưa chú."
"Gì?"
"Đi phu với đi lính có khác nhau không ạ?"
Lão ăn mày không đáp ngay. Lão tu một ngụm rượu, rồi ngồi nhìn ra bãi tha ma, nhìn tới lúc mấy con quạ trên ngọn gạo bay đi hết.
"Khác."
"Khác thế nào ạ?"
Lão đặt cái bầu xuống sạp.
"Lính chết thì còn có người gạch tên trong sổ." Lão nói, giọng đều đều, như người ta kể lại một việc đã trông thấy nhiều lần. "Phu chết thì người ta đắp luôn vào đê."
Luân ngồi im.
Nó nghĩ tới những cái đòn gánh nhún nhún trong sương, những lưỡi cuốc lưỡi thuổng chĩa ra khỏi thúng, cái gói lá chuối thằng Hợi nhét vội vào trong áo. Nó nghĩ tới con đê làng hồi tháng Bảy, đất nhão đổ xuống tới đâu bè ra tới đấy, người ta cứ đổ đất lên, nện xuống, lại đổ đất lên. Nó không biết ở dưới hạ lưu, người ta đổ cái gì lên.
Lão ăn mày cầm cây gậy tre, gõ xuống đất một cái.
"Chém cây chuối. Trăm nhát."
Luân đứng dậy, cầm cành ổi.
Nhát nào nó cũng chém. Nhưng chẳng nhát nào nó nghĩ tới mặt ai.
Đêm ấy, thằng Cò ngủ sớm. Nó nằm quay mặt vào vách, kéo chăn trùm kín đầu, không nói câu nào, một lúc sau thì ngáy. Luân biết nó chưa ngủ, bởi thằng Cò ngủ thật thì ngáy to hơn thế.
Luân nằm ngửa, nhìn lên mái lá cọ tối om.
Nó thò tay xuống dưới lớp rơm, lần ra cái hàng sỏi. Từ hôm Tết tới giờ, tối nào nó cũng được tự tay gạch một vạch, chỉ trừ tối mùng ba, và tối nào gạch xong nó cũng bỏ bớt đi một hòn. Hàng sỏi đã ngắn đi gần một gang tay so với hồi tháng Chạp.
Nó nghĩ tới hai quyển sổ.
Một quyển nằm trong gian giữa nhà ông lang, đóng bằng giấy bản đã ngả vàng, có một trang đề tên nó với tên thằng Cò. Cái đêm ba mươi năm ngoái, ông lang bỏ ra mấy mẩu bạc vụn, mua hai đứa ra khỏi cái sân nhà ông Bá Hộ. Từ bữa ấy, chúng nó có một trang sổ.
Quyển kia bìa xanh, nằm trên án thư của tên cai, giờ đang theo con ngựa của hắn xuống hạ lưu. Trong ấy có một dòng chữ đen đen, chạy dọc như một hàng kiến. Luân không đọc được dòng chữ ấy. Nhưng nó biết trong ấy viết gì.
Hợi. Mười sáu tuổi. Hộ đồ tể. Mương Đen.
Năm nay, lão đồ tể không bỏ ra năm quan tiền để giữ con ở lại. Lão chỉ bỏ ra ba cái tuổi.
Người ta đã viết vào sổ rồi. Thành ra dưới hạ lưu, thằng Hợi mười sáu tuổi.
Luân rút tay ra khỏi lớp rơm, nằm im.
Ngoài kia, sương vẫn xuống. Nó không nhìn thấy, nhưng nó nghe được, cái tiếng sương đọng lại trên mái lá cọ, lâu lâu lại rỏ xuống một giọt, tí tách, tí tách, đều như tiếng ai đó đang đếm.
Được yêu thích bởi: Đại Hiệp Mèo
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.