Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 35: Vạch Cuối

Đăng: 05/10/2026 11:34 2,851 từ 5 lượt đọc

Hết tháng Năm, ông lang cấm Luân lên đồi.

Ông không nói lý do. Ông chỉ nói một câu, vào buổi tối, lúc Luân quỳ bên án chờ quyển sổ.

"Tường bây giờ không có người giữ."

Luân hiểu. Doanh trại bên suối chỉ còn là một bãi tro đen, rào tre cháy cụt, cái chòi canh đổ nghiêng như người say ngồi bệt. Mấy hôm trước, người làng đi cắt cỏ trên đồi tranh còn thấy khói lạ bốc lên phía bên kia tường, khói không phải của bếp nhà ai. Ông lý cho gõ mõ, cấm trẻ con lên Dốc Cửa Mả quá cây gạo. Lần này thì cả làng nghe.

Thế là ngăn thứ ba lại cạn, và không có rễ thường sơn nào để lấp.

---

Mùa hè năm ấy, Luân trả nợ bằng hai bàn tay.

Cuối tháng Năm, nó đi gặt thuê nốt mấy thửa chiêm muộn cho nhà ông trùm, nhà ông Bá, nhà nào thuê là đi. Sang tháng Sáu, lúa mùa mới cấy, nó đi tát nước, đi làm cỏ, đi gánh phân. Nắng tháng Sáu như đổ lửa, ruộng nước nóng như nước ấm trong nồi, đỉa bám lủng lẳng ở bắp chân, gỡ con này thì con khác đã bám vào. Tối về, nó đếm tiền công vào lòng bàn tay ông lang, từng đồng kẽm một, lách cách. Ông lang đếm lại, bỏ vào ống tre, rồi kéo quyển sổ lại gần, gạch.

Thằng Cò thì gánh thuốc lên chợ huyện, mỗi phiên một gánh. Chợ huyện bây giờ bán thuốc chạy hơn trước. Người các làng quanh biên, nhà nào cũng có người ốm, người đau, người đi lính về mang theo một vết thương không chịu liền. Thằng Cò về tới cổng là réo lên từ ngoài ngõ, kể giá cả, kể chuyện chợ, kể không ngừng miệng như cái cối xay lúa.

Có một phiên, nó về muộn, mặt không vui.

"Người ta bảo sổ điền mới lập xong rồi." Nó nói, ngồi phịch xuống bậc bếp. "Ông thơ lại trên huyện đọc cho mấy ông lý nghe. Ruộng làng mình thì ghi đủ, nhà nào bao nhiêu sào ghi rõ từng sào. Còn bãi tha ma với đồi sim, đồi tranh, trở lên chỗ cái tường, thì ghi là đất hoang."

"Thì đất hoang thật mà." Luân nói.

"Ừ." Thằng Cò gãi đầu. "Mà đất hoang thì là đất của ai?"

Luân không trả lời được. Ông lang ngồi trong gian thuốc, cái dao cầu đang thái thuốc đều tay, cạch, cạch, cạch. Rồi dao cầu dừng lại một nhịp. Rồi lại cạch.

Ông không nói gì.

---

Tháng Bảy, lão ăn mày đòi cả nắm.

Hôm ấy trời oi, mây đen vần vũ phía núi mà mưa không chịu xuống. Luân mang nắm cơm ra điếm như mọi trưa, bẻ đôi, đưa nửa to sang. Lão không cầm.

"Cả."

Luân nhìn lão.

"Hồi mùa thu năm kia tao bảo gì?" Lão nói. "Dạy mày cái đáng tiền hơn thì tao đòi cả nắm. Hôm ấy tao tha. Năm ngoái mày tự đưa cả nắm, đấy là mày trả. Hôm nay tao đòi."

Luân nhìn nửa nắm cơm trong tay mình. Rồi nó ghép hai nửa lại, ép cho dính, đưa cả sang.

Lão cầm lấy, cắn một miếng to, nhai nhồm nhoàm. Ăn hết thì lão chùi tay vào vạt áo, chống gậy đứng dậy.

"Đi."

---

Lão không bắt nó ra sân điếm như mọi chiều. Lão dẫn nó ra cổng đình.

Trưa, sân đình vắng hoe. Mười hai cái chum sành trên hiên đã có nước lại, nước đầy tới miệng, mặt nước phẳng lì phản chiếu mây đen. Ở hai bên cổng đình có hai con nghê đá, ngồi trên hai cái bệ gạch, rêu phủ xanh lưng. Con nghê bên trái đã sứt mất một tai. Con bên phải thì mất cái đuôi. Trẻ con trong làng vẫn trèo lên lưng chúng nó mà cưỡi, mà cũng chẳng đứa nào nhìn kỹ chúng nó bao giờ.

Lão dừng lại trước con nghê sứt tai.

"Nhìn."

Luân nhìn. Con nghê ngồi, hai chân trước chống thẳng, ngực ưỡn ra, đầu hơi cúi, miệng ngậm một hòn ngọc đá. Mắt nó lồi, tròn, nhìn thẳng ra cổng.

"Nó làm gì?" Lão hỏi.

"Dạ... nó ngồi ạ."

"Ngồi mấy trăm năm rồi. Không chạy, không vồ, không cắn ai bao giờ." Lão gõ đầu gậy lên cái bệ gạch, cộc một tiếng. "Thế mà ai đi qua cổng đình cũng phải cúi đầu. Mày có biết tại sao không?"

"Dạ, không ạ."

"Tại nó ngồi đúng chỗ." Lão nói. "Ngồi đúng chỗ thì không phải chạy."

Luân nhìn con nghê, rồi nhìn lão. Nó không hiểu. Lão cũng không giải thích.

"Rút cành ổi ra."

---

Hơn hai năm nay, lão dạy nó đứng, thở, né, ngã, chém ba đường ngang dọc chéo mỗi đường mấy trăm lần. Chém cho tới lúc cánh tay không còn là cánh tay nữa mà thành một cái đòn gánh. Lão dạy nó thế Chạch Lủi để chạy, dạy nó nhìn vai để né. Nhưng lão chưa bao giờ dạy nó đứng yên mà đánh. Hôm nay lão dạy.

Lão đứng đối diện với nó, cách ba bước, cây gậy tre cầm tay trái. Lão không đứng tấn. Lão đứng như người ta đứng chờ đò, chân này hơi lệch chân kia, vai xuôi, gậy chúc xuống đất.

"Tao đứng thế này thì mày đánh vào đâu?"

Luân nhìn. Chỗ nào cũng hở. Ngực hở, vai hở, đầu hở.

"Dạ, chỗ nào cũng được ạ."

"Thế thì đánh."

Luân nhắm vào vai phải của lão, chém. Nó chém nhanh, chém thật, cái nhát mà nó đã chém mấy vạn lần vào cây chuối trước cửa điếm.

Cành ổi chưa tới vai lão thì cổ tay nó đã đau nhói. Đầu gậy tre của lão đã nằm trên cổ tay nó từ lúc nào, gõ nhẹ một cái, như gõ vào miệng chum xem chum có rạn không. Cành ổi rơi xuống đất.

Lão vẫn đứng y như cũ. Chân không nhúc nhích. Vai không nhúc nhích.

"Tao có chạy không?"

"Dạ, không ạ."

"Tao có vồ không?"

"Dạ, không ạ."

"Tao ngồi đúng chỗ." Lão nói. "Mày chém tới thì mày tự đưa tay vào chỗ tao chờ sẵn. Nhặt lên."

---

Suốt tháng Bảy, tháng Tám, Luân học có một thế ấy.

Không phải chém. Là chờ. Đứng như người chờ đò, cành ổi chúc xuống đất, mắt nhìn vai người ta, và chờ. Người ta động thì mình mới động, động sau mà tới trước. Lão bảo cái khó không phải là nhanh. Đứa nào luyện đủ lâu cũng nhanh được. Cái khó là đứng im mà không sợ.

"Mày sợ thì vai mày nhô lên." Lão nói. "Vai mày nhô lên thì thằng kia biết mày sợ. Nó biết mày sợ thì nó chém vào chỗ mày sợ."

Luân đứng. Lão chém. Lão chém chậm, rồi nhanh dần, rồi có hôm lão chém thật, cây gậy tre vù vù rít lên, sượt qua tai nó, qua sườn nó, có nhát quất trúng bắp đùi nó thâm tím mấy hôm liền. Nó đứng. Nó không lùi.

Có một buổi chiều, lúc nó gạt được ba nhát liền, lão dừng tay.

Lão đứng im một lúc, cây gậy chúc xuống đất. Luân thấy bàn tay trái lão cầm gậy run lên, run khe khẽ, như tay người sốt rét. Quanh chỗ lão đứng có một cái mùi gì lạ, khen khét, như mùi sắt nung đỏ vừa nhúng vào nước.

Rồi lão quay đi, cầm bầu rượu tu một hơi dài.

"Đủ rồi. Về." Lão nói.

Luân nhặt cành ổi, đứng nhìn lưng lão. Cái mùi khét ấy tan dần theo gió. Nó không biết mùi ấy ở đâu ra.

"Chú..."

"Về." Lão nói, không quay lại.

---

Tối ấy, nó kể với ông lang chuyện con nghê.

Nó không kể chuyện cái mùi khét.

Ông lang đang sàng thuốc. Nghe tới đoạn ngồi đúng chỗ thì không phải chạy, cái sàng trong tay ông chậm lại.

"Lão ấy bảo thế à?"

"Dạ."

Ông lang lắc cái sàng thêm mấy cái, xạch, xạch. Bụi thuốc bay lên, vàng vàng dưới ánh đèn.

"Thế thì nhớ lấy." Ông nói. "Mà cũng nhớ lấy điều này. Con nghê ngồi đúng chỗ là tại người ta đặt nó ở đấy. Nó không tự chọn cái cổng đình mà ngồi."

Luân nghĩ mãi câu ấy. Nó không hiểu. Hai ông thầy của nó, mỗi người nói một câu, câu nào cũng như cái hòm có khóa mà không đưa chìa.

---

Mùa thu năm ấy, lúa mùa được. Được hơn năm ngoái. Được hơn cả năm kia. Người Lò Trấu bảo trời thương, bảo Thượng Phụ có phúc đức nên dân được nhờ. Tháng Mười, có người mang thóc mới lên đình lễ tạ, lễ cả cái bàn thờ con con người ta mới lập ở góc đình, trên bàn thờ có một tấm giấy điều viết mấy chữ ca ngợi phủ Thượng Phụ.

Luân đi gặt thuê hết mùa. Tối nào cũng đếm tiền công vào tay ông lang, tối nào cũng quỳ bên án, kéo một nét ngang qua một nét dọc.

Rồi một tối giữa tháng Chạp, nó mở quyển sổ ra, và nó thấy trang giấy đã gần kín.

Những vạch dọc chưa gạch chỉ còn lác đác ở cuối trang. Nó đếm. Chín cái.

Nó đếm lại. Vẫn chín.

Nó ngẩng lên. Ông lang ngồi đối diện, đang đọc một cuốn sách đóng chỉ, không nhìn nó.

"Chín vạch." Luân nói.

"Ừ." Ông lang lật một trang sách.

Luân nhìn chín cái vạch ấy rất lâu. Ba năm trước, cái đêm ba mươi Tết năm Đinh Dậu, nó với thằng Cò trèo tường kho nhà ông Bá, mỗi đứa vác một bị gạo, bị bắt, bị trói vào cột hiên nhà ông Bá, và ông lang đem mấy mẩu bạc vụn xỉn màu ra chuộc. Trang giấy ngày ấy trắng tinh. Rồi vạch mọc lên, mọc kín nửa trang. Rồi gạch mọc theo. Có tháng vạch mọc nhanh hơn gạch. Có tháng nó tưởng cả đời nó cũng không gạch hết.

Bây giờ còn chín.

---

Chín cái vạch ấy, nó gạch trong mười bảy ngày. Tháng Chạp ruộng nghỉ, có hôm chẳng nhà nào thuê.

Cái cuối cùng, nó gạch vào đêm ba mươi Tết.

Nó không cố ý. Nó chỉ làm đủ việc, đếm đủ tiền, rồi tối ấy ông lang đẩy quyển sổ sang như mọi tối, và nó thấy chỉ còn một vạch trơ trọi ở cuối trang. Ngoài ngõ đã có tiếng pháo nổ lác đác của nhà nào nóng ruột. Mùi lá mùi già đun nước tắm thơm từ các nhà bên bay sang.

Thằng Cò ngồi xổm bên cạnh, cằm tì lên đầu gối, nhìn.

Luân cầm bút, chấm mực. Nó kéo nét ngang. Nét ngang đi chậm, thẳng, cắt ngang qua cái vạch cuối cùng.

Rồi nó đặt bút xuống.

Không ai nói gì. Ngoài ngõ, một tràng pháo nổ đì đoàng, rồi tắt. Mấy đứa trẻ con reo hò chạy qua cổng.

Ông lang kéo quyển sổ về phía mình. Ông nhìn trang giấy. Nhìn từ đầu tới cuối trang, từ những vạch mực đều như răng lược ông tự tay vạch hồi đầu, tới những cái gạch run run hồi thằng bé mới được cầm bút, rồi những cái gạch bây giờ thẳng tăm tắp. Ông nhìn lâu, như người xem lại một thửa ruộng mình đã cày.

"Đủ rồi." Ông nói.

Rồi ông gấp quyển sổ lại.

---

"Bao giờ đủ thì đi đâu thì đi." Ông lang nói. Giọng ông đều đều, như đọc lại một câu trong sách. "Tao nói câu ấy từ hôm chuộc hai đứa bay về. Tao không giữ."

Thằng Cò ngẩng lên.

"Đi đâu ạ?" Nó hỏi. "Ra đầu ngõ đứng à?"

Ông lang không trả lời. Ông nhìn Luân.

Luân nhìn quyển sổ gấp lại trong tay ông. Nó nghĩ tới cái ổ rơm trong gian bếp, cái chăn chiên cũ thủng hai lỗ. Nghĩ tới cái cối thuốc, cái dao cầu, cái giàn phơi thuốc cao ngang đầu người. Nghĩ tới cái điếm canh bỏ hoang dưới chân Dốc Cửa Mả, nơi nó ngủ những năm chưa có tên, bây giờ là chỗ lão ăn mày nằm.

"Con ở." Nó nói.

Ông lang nhìn nó thêm một lúc.

"Ở thì tính cơm." Ông nói.

"Dạ, tính thế nào ạ?"

"Tao chưa nghĩ."

Thằng Cò bật cười, cười phì ra, rồi vội bịt miệng. Ông lang liếc nó một cái. Nó im.

Ông lang đứng dậy, cầm quyển sổ đi sang cái tủ thuốc kê sát tường. Ông kéo ngăn thứ ba ra. Cái ngăn đựng rễ thường sơn, cạn từ tháng Năm, bây giờ chỉ còn lại mùi đắng đắng, hăng hăng của rễ khô. Ông đặt quyển sổ vào đấy, nằm dẹt dưới đáy ngăn, rồi đẩy ngăn vào.

Ông không mở quyển sổ mới.

---

Giao thừa, Luân với thằng Cò ra ngõ đứng chờ.

Năm nào cũng thế. Hai đứa đứng ngoài cổng tre, đợi tiếng trống ở đình điểm canh ba, đợi mõ, đợi pháo, rồi mới bước chân phải qua ngưỡng cửa, xông nhà ông lang. Người xông nhà là người mang vía cả năm vào nhà. Người làng chọn người xông nhà kỹ lắm, chọn người hợp tuổi, người ăn nên làm ra, người vui tính. Nhà ông lang thì không chọn ai. Ba năm nay chỉ có hai thằng ấy.

Trống đình điểm. Pháo nổ rộ lên khắp làng, đì đùng, lẹt đẹt, mùi thuốc pháo khét lẹt bay mù mịt. Hai đứa bước vào.

Trên ban thờ gian giữa, cái bát hương sành lại cắm kín một bó hương, như năm kia, như năm ngoái. Khói cuộn lên từng lớp, bay lên xà nhà, bay qua cái tấm gỗ nhỏ trên xà cửa.

Ông lang đứng trước ban thờ, hai tay buông xuôi. Ông không khấn.

Luân đứng sau lưng ông, và nó ngẩng lên nhìn cái tấm gỗ ấy.

Ba năm trước, nó không đọc được chữ nào trên đấy. Bây giờ nó đọc được Tam Thiên Tự, đọc được Minh Tâm Bảo Giám, đọc được mấy trang Luận Ngữ ông lang cho chép. Vậy mà cái tấm gỗ ấy nó vẫn không đọc được. Mấy con chữ trên đấy không giống chữ nào nó học. Nét cong queo, uốn lượn, tròn trịa, như rễ cây bò trên mặt đất, như con giun con rắn cuộn mình. Không có nét phẩy, không có nét mác, không có cái móc nào như chữ ông lang viết. Tấm gỗ vẫn bám bụi, mạng nhện vẫn giăng ở góc trên, riêng chỗ mấy con chữ thì sạch bong, như năm nào nó mới đến. Nó chưa từng thấy ông lang trèo lên lau lần nào.

Hồi ấy ông bảo đấy là chữ cũ của nhà này, người ta để lại từ đời nào, ông cũng chẳng biết.

"Thầy." Nó nói. "Cái tấm gỗ ấy viết chữ gì ạ?"

Ông lang không quay lại.

"Hỏi lần thứ hai rồi đấy." Ông nói.

Luân giật mình. Ba năm rồi. Nó không ngờ ông nhớ.

"Dạ."

Khói hương vẫn cuộn lên. Ông lang đứng nhìn khói một lúc lâu.

"Lần thứ ba thì tao bảo." Ông nói.

---

Mùng một Tết Tân Sửu, cả Lò Trấu thêm một tuổi.

Luân mười hai.

Nó ngồi trên bậc bếp với thằng Cò, mỗi đứa cầm một miếng bánh chưng. Năm nay ông lang mua hẳn một cặp ở chợ về. Ông bảo mua thôi, không gói, gói thì phải thức canh nồi, mà tuổi ông thì thức không nổi.

Thằng Cò cắn một miếng, nhai, rồi ngừng.

"Thế là hết nợ." Nó nói.

"Ừ."

Thằng Cò nhìn miếng bánh chưng trong tay, nhìn cái lá dong xanh sẫm, cái lạt giang còn buộc nửa chừng.

"Hết nợ rồi," nó nói, "mà sao tao thấy như mất cái gì."

Luân không trả lời. Nó biết thằng Cò còn nghĩ cái khác nữa mà không nói ra. Trường trên huyện người ta đang dựng, dựng từ cuối thu. Phiên chợ nào thằng Cò lên huyện cũng ghé qua xem, về kể cột lim to bằng một người ôm, mái lợp ngói mũi hài, sân rộng hơn sân đình. Người ta bảo dựng xong thì sang năm Nhâm Dần mở. Sổ hộ mới có tên thằng Cò.

Sổ hộ mới không có tên Luân.

Nó nhìn ra sân. Giàn phơi thuốc cao ngang đầu người, bây giờ nó đã cao tới ngang giàn. Trên giàn chỉ có mấy nong lá ngải phơi dở, gió thổi qua xào xạc.

Nó nghĩ tới quyển sổ nằm dưới đáy ngăn thứ ba, trong bóng tối, cùng với cái mùi rễ thường sơn đắng đắng.

---

Ba năm vạch gạch kín trang,

Nét xiêu thành thẳng, vững vàng thành tên.

Hương thờ khói cuộn bay lên,

Chữ xưa trên gỗ lặng yên chờ người.

0