Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử
Chương 33: Chó Với Mèo
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
35 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 35/35 chương
Sớ của Cao Phong về tới Trạm Sớ vào một đêm mưa.
Con chim đậu xuống bậu cửa, lông ướt sũng, cả cái bờm lông cổ trắng toát. Bà Then ôm nó vào lòng, hát rất lâu, lâu hơn mọi lần. Rồi bà tháo cái ống tre ở chân nó ra, dâng lên, và không nói gì.
Chữ trong sớ nhỏ, thẳng, không một nét thừa. Chữ ấy giống chữ Đặng Tiến Minh như đúc. Ông đã dạy con viết từ năm nó lên năm, cầm tay nó mà đưa từng nét.
*Phạm Ngũ Lâm tử trận ở chỗ tường sạt bên suối, giữ lối cho quân rút. Quốc Nữ vô sự. Đoản đao Bắc Trấn người nhà mang về, đã nguội. Quân còn một nửa. Lui về Lò Trấu chữa thương.*
Bên dưới còn một dòng. Nét chữ dòng ấy không thẳng như những dòng trên. Nét ngang đầu tiên hơi run.
*Anh Lâm đã làm đúng dòng cha viết riêng.*
Đặng Tiến Minh đọc dòng ấy ba lần. Rồi ông gấp tờ sớ lại, gấp làm tư, cất vào trong ngực áo. Ông ngồi trên sàn nhà Trạm Sớ, nghe mưa rơi trên mái cỏ gianh, tới lúc gà gáy.
Ông không bao giờ nói với ai dòng chữ ông viết riêng cho Phạm Ngũ Lâm là gì.
---
Buổi chầu sáng hôm ấy, Binh Bộ tâu lên việc Bắc Trấn.
Viên thượng thư Binh Bộ đọc tờ sớ bằng cái giọng người đọc văn tế, chậm, rõ, từng chữ một. Bắc Trấn tướng quân Đinh Trung Nhạc giao chiến với nhà Mạc ở mạn Đông biên giới, mất tin nhiều ngày. Người dưới trướng tìm được đoản đao của tướng quân trong lán, đao đã nguội. Theo lệ quân, đao nguội thì người đã mất. Xin triều đình định việc tang, định việc người thay.
Rồi viên thượng thư đọc thêm một dòng, cũng bằng cái giọng ấy. Đêm phá vây ở biên, Đô đốc Đặng Cao Phong đã qua cửa Trấn Quốc. Mười chín tuổi. Từ ngày lập Tứ Trấn tới nay chưa ai trẻ như thế.
Không ai chúc mừng. Người chết đọc trước, người sống đọc sau. Đặng Tiến Minh đứng đầu hàng quan võ, mắt nhìn xuống nền gạch. Ông biết cái đêm con ông qua được cửa ấy là cái đêm Phạm Ngũ Lâm nằm lại ở chỗ tường sạt.
Cả điện im.
Vua Lê Chiêu Vĩnh ngồi trên ngai, sau tấm rèm châu mỏng. Ông gầy, trắng, hai bàn tay giấu trong ống tay áo vàng, mắt khép hờ như người đang nghe tụng kinh. Trên điện, trầm đốt từ sớm, khói trầm bay lơ mơ qua rèm châu, lẫn trong khói có một mùi gì khác nữa, ngai ngái, Đặng Tiến Minh ngửi thấy mà không gọi được tên.
"Tang thì làm theo lệ." Vua nói. Giọng nhỏ, đều, không lên không xuống. "Người thay thì đợi qua tuần."
Rồi vua im. Ai cũng biết vua im nghĩa là còn có người muốn nói.
---
Trịnh Gia Mưu bước ra khỏi hàng quan văn.
Ông ta không nhìn sang hàng quan võ lần nào. Ông ta chắp tay, cúi đầu, tâu. Giọng mềm, ấm, tròn chữ, như người kể chuyện cổ tích cho trẻ con nghe trước lúc ngủ.
"Tâu bệ hạ. Thần nghe ở quê có một nhà nuôi con chó săn. Con chó ấy hay lắm, cắn được cả cáo. Chủ dặn đừng vào rừng, con chó vẫn vào. Cáo thì không bắt được con nào." Ông ta ngừng một chút. "Mà gà ở làng bên, chết mất ba con."
Hàng quan văn có tiếng cười khẽ, rồi tắt ngay.
"Dân làng bên không ai hỏi con cáo đâu, tâu bệ hạ." Trịnh Gia Mưu nói tiếp. "Họ chỉ hỏi con chó nhà ai."
Cả điện lại im. Lần này im lâu hơn.
Đặng Tiến Minh không quay sang. Ông bước ra khỏi hàng quan võ, chắp tay, cúi đầu. Ông cũng không nhìn sang hàng quan văn lần nào.
"Tâu bệ hạ. Thần cũng nghe một chuyện ở quê." Ông nói. Giọng ông không mềm, không ấm. Ông nói như người đọc quân lệnh. "Có một nhà nuôi con mèo giữ kho. Chuột đào hang dưới bồ thóc, con mèo đuổi, làm đổ mất mấy bồ. Chủ nhà tiếc thóc, đuổi con mèo đi."
Ông ngừng.
"Năm sau chuột ăn hết kho. Chuột khoét thủng cả con đê." Ông nói. "Chủ nhà đi tìm con mèo thì nó đã sang ở nhà hàng xóm."
Không ai cười.
Ở hàng quan văn, có mấy người khẽ liếc nhau. Ai cũng nhớ trận lũ năm Đinh Dậu. Ai cũng nhớ con đê ở thượng lưu. Ai cũng nhớ có một viên chủ sự Hộ Bộ chết đuối ở bến sông ngoài kinh thành mùa thu năm ấy. Không ai nhắc tới mấy chuyện ấy. Nhưng câu chuột khoét đê rơi xuống giữa điện, như hòn sỏi rơi xuống mặt ao, và vòng sóng cứ loang mãi ra.
Sau tấm rèm châu, vua Lê Chiêu Vĩnh mở mắt ra.
"Hai khanh ở quê nuôi toàn chó với mèo." Vua nói. Có một cái gì như là cười trong giọng vua, rất mỏng, như nước đọng trên lá. "Trẫm thì chỉ thấy mất gà với mất thóc."
---
Trịnh Gia Mưu cúi đầu thấp hơn.
"Thần có tội." Ông ta nói. "Thần chỉ nghĩ tới mấy con gà. Tâu bệ hạ, các làng quanh biên có người đi lính mà không về. Dân đang đau. Dân đau mà không ai lo thì dân oán. Dân oán thì oán lên tới triều đình."
"Khanh muốn gì?"
"Thần xin lấy lương trong kho quân lương mạn Bắc, lo việc an táng cho quân nhân tử trận, cấp tiền tuất cho nhà có người chết, mở cỗ cho các làng ấy, gọi là tỏ lòng triều đình thương dân." Trịnh Gia Mưu nói, từng chữ rõ ràng. "Việc ấy phủ Thượng Phụ xin đứng ra lo. Thái Úy đang bận việc quân, thần không dám làm phiền."
Đặng Tiến Minh đứng im.
Kho quân lương mạn Bắc. Cái kho ông xin mở ba lần từ đầu năm để nuôi thêm ba doanh, ba lần bị phủ Thượng Phụ tâu lên rằng quốc khố đang hụt. Bây giờ cái kho ấy mở ra. Không phải để nuôi người sống. Để chôn người chết. Và người đứng ra mở không phải ông.
Ông mà cản, thì cả triều sẽ nghe Thái Úy không muốn chôn lính của mình.
"Chuẩn." Vua nói.
"Thần còn xin một việc nhỏ." Trịnh Gia Mưu nói, vẫn cúi đầu. "Việc cấp tuất phải có sổ. Các làng quanh biên xưa nay sổ đinh sổ điền lộn xộn, lụt thì trôi, cháy thì mất. Thần xin cho người Hộ Bộ lên đo đạc, lập lại sổ cho đúng, để tiền tuất tới đúng tay người nhà, không lọt vào túi lý dịch."
"Chuẩn." Vua nói.
Đặng Tiến Minh nghe hai chữ đo đạc. Ông không biết vì sao hai chữ ấy lại làm ông nghĩ tới cái thủy áp ông đặt ở ba khúc sông hai năm trước. Cái thủy áp ấy, nhìn thì là để thoát lũ.
---
Tan chầu, trời đã tạnh mưa.
Đặng Tiến Minh đi xuống những bậc đá trước điện. Đá còn ướt, bóng loáng. Trịnh Gia Mưu đi sau ông mấy bậc, rồi bước nhanh hơn, đi ngang hàng với ông.
"Thái Úy." Ông ta nói. "Tôi nghe nói tướng quân Phạm Ngũ Lâm người làng đan sọt."
Đặng Tiến Minh không đáp.
"Người như thế hiếm lắm." Trịnh Gia Mưu nói. Giọng ông ta nghe như thật lòng. Có khi thật lòng thật. "Từ đan sọt mà lên tới phù bạc ba vạch. Tôi định cho người về quê ông ấy, dựng một tấm bia ở đầu làng. Khắc tên, khắc công. Để con cháu trong làng biết."
Đặng Tiến Minh dừng lại trên một bậc đá.
Người đan sọt ấy, cả đời, ông chỉ nhớ có một lần viết được một tờ sớ dài. Tờ sớ chữ to nhỏ chen nhau, dòng sau đè lên mép dòng trước, mực đè mạnh tới thủng giấy. Tờ sớ ấy xin ba doanh. Ba doanh ấy không có. Kho lương để nuôi ba doanh ấy thì sáng nay vừa mở ra, để làm cỗ.
"Không cần." Ông nói.
Trịnh Gia Mưu nhướn mày.
"Bia của anh ấy," Đặng Tiến Minh nói, "nằm trong áo con tôi rồi."
Ông đi tiếp xuống những bậc đá. Trịnh Gia Mưu đứng lại trên bậc đá của mình, nhìn theo ông. Một lúc lâu, Trịnh Gia Mưu mới cúi xuống, phủi một vết nước mưa bắn lên vạt áo thâm. Vết nước ấy tự khô đi, không để lại dấu.
---
Nửa tháng sau, bảy xe gạo có cắm cờ phủ Thượng Phụ đi dọc con đường đê lên Lò Trấu. Đi sau bảy xe gạo là một viên quan Hộ Bộ, hai người thơ lại, một cuộn dây đo đất, và một cái hòm gỗ đựng giấy.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.