Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử
Chương 27: Năm Suất
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
35 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 35/35 chương
Lúa chiêm vào gặt thì lính xuống làng.
Hôm ấy là hai mươi tháng Tư. Cả Lò Trấu đang ở ngoài đồng từ lúc gà gáy. Người cắt, người bó, người gánh, liềm hái xoèn xoẹt, lúa đổ rào rạo, bùn ruộng bắn lên tận mặt. Luân với thằng Cò đang gánh lúa thuê cho nhà ông trùm thì nghe tiếng mõ.
Không phải mõ ba hồi thong thả. Cũng không phải mõ dồn như hôm phu về. Mõ gõ đều, từng tiếng một, cách nhau đúng một hơi thở, như có ai đứng sau lưng lão mõ mà đếm cho lão gõ.
Người ngoài đồng đứng thẳng lưng lên, tay còn cầm liềm, nhìn nhau.
"Lính." Có người nói.
Chẳng ai hỏi lính nào. Từ đầu tháng Tư, ở Lò Trấu, nói lính thì chỉ có một thứ lính.
Sân đình không có trát, không có quan huyện, không có ông thơ lại râu dê. Ông lý đứng nép ở góc thềm, cái áo the xộc xệch, mặt tái mét, lúc lúc lại lau mồ hôi, như người bị bắt gõ mõ cho đám ma nhà mình. Chỉ có mười hai người lính Phong Sương Vệ đứng thành hai hàng trước thềm, áo đen viền đỏ, gươm bên hông. Không ai khoác áo choàng xám. Người đứng đầu hàng thấp, chắc, mặt rỗ hoa như vỏ quả mít, trên vai trái đeo một miếng đồng có hai vạch.
Luân tìm miếng bạc ba vạch. Không thấy. Nó tìm con ngựa hồng. Không có ngựa nào.
Đứng ở hàng thứ hai là cái người cao gầy ria lún phún. Hắn nhìn thấy Luân chen ở rìa sân. Hắn nhếch mép, nói gì đó với người đứng cạnh, rồi cả hai cùng nhìn nó mà cười. Luân không cúi đầu.
Người mặt rỗ lấy trong ngực áo ra một tờ giấy bản gấp tư, chữ thầy thơ doanh chép lại lệnh trên, giơ lên. Người đứng xa chẳng ai đọc được. Hắn cũng không đọc. Hắn nói.
"Phụng lệnh Thái Úy. Mỗi làng quanh doanh lấy năm suất. Đàn ông từ mười sáu tới bốn mươi lăm. Người đã đi phu thì lấy trước."
Sân đình lặng ngắt. Rồi có tiếng đàn bà kêu lên, xé tai, xé ngang cái im ấy.
"Phu vừa về chưa được một năm!"
Người mặt rỗ không quay đầu về phía tiếng kêu.
"Người đã đứng được giữa nước lũ thì không phải mạ non." Hắn nói. Câu ấy hắn nói như người đọc thuộc lòng, như câu ấy không phải của hắn.
Một ông già tóc bạc đứng ở vòng ngoài chống gậy bước lên một bước, run run chắp tay.
"Bẩm... bắt đi thì các con nó đi đánh giặc à?"
"Không phải lính chiến." Người mặt rỗ nói. "Dân binh. Đào hào, gánh gạo, đẵn tre vót chông, đêm đứng canh tường. Gươm không phát."
"Thế đi bao lâu, được cái gì?"
Người mặt rỗ nhìn ông già một lúc.
"Xong việc thì được về."
Ông già lùi về chỗ cũ. Cả sân đình nghe rõ câu ấy, và cả sân đình cũng nghe ra cái nửa câu hắn không nói.
"Đàn ông trong làng ra xếp hàng." Người mặt rỗ nói. "Nhà nào giấu người thì cả nhà chịu tội."
Đàn ông Lò Trấu xếp hàng dọc sân đình, chân còn lấm bùn ruộng, người còn đeo liềm ở thắt lưng. Đàn bà, người già, trẻ con đứng vòng ngoài. Không ai nói to. Chỉ nghe tiếng thở, tiếng khóc thút thít đâu đó, tiếng một đứa trẻ con đòi bế.
Người mặt rỗ đi dọc hàng. Hắn không hỏi tên. Hắn chỉ bảo mỗi người một câu.
"Giơ hai tay lên."
Người nào cũng giơ. Giơ thẳng, giơ quá đầu, giữ đấy. Hắn nhìn cái vai, nhìn cổ tay, nhìn bàn tay, rồi đi tiếp. Tới cuối hàng thì hắn chỉ vào cái cối đá giã gạo nằm dưới hiên đình, cái cối mà một người đàn ông khỏe ôm lên cũng phải nghiến răng.
"Nhấc lên."
Từng người một bước ra, ôm cái cối, nhấc lên ngang ngực, đặt xuống. Người mặt rỗ đứng khoanh tay mà nhìn.
Người đầu tiên hắn chỉ tay là thằng Nhỡ.
Thằng Nhỡ con người đàn bà xóm Hạ, cái thằng năm ngoái đi phu về cạo trọc đầu, mẹ nó vuốt vai áo mãi ở gốc đa. Năm nay nó mười bảy, tóc đã mọc dài, vai to ra. Nó nghiến răng, ôm cái cối đá lên ngang ngực, giữ được ba hơi thở rồi mới đặt xuống.
"Mày." Người mặt rỗ nói.
Người đàn bà xóm Hạ không kêu. Bà đứng ở vòng ngoài, hai tay buông thõng, như hôm phu về. Rồi bà bước tới, đi qua hàng lính mà không ai cản, tới trước mặt con. Bà giơ tay lên vuốt vai áo nó. Vuốt đi vuốt lại một chỗ. Năm ngoái bà vuốt cái vai áo rách. Năm nay vai áo lành, chẳng có vết nhăn nào mà vuốt, bà vẫn vuốt.
Người thứ hai là ông Thuận. Cái ông phu bốn mươi, ông đã đi phu ba lần, ông hát Ba năm trấn thủ trên đòn gánh, ông mang mảnh vạt áo có lá bùa về cho vợ người chết. Ông không đợi hắn chỉ. Hắn vừa nhìn sang, ông đã bước ra khỏi hàng.
"Phu ba lần rồi." Ông nói, cười cái cười không ra cười. "Giờ đến lính. Thế là đủ bộ."
Người thứ ba là anh Mộc, người làm công nhà ông Bá Hộ. Người thứ tư là anh Sáng ở xóm Thượng, con trai độc của một bà góa.
Người thứ năm là anh Quyền, con trai cả ông trùm, anh ruột thằng Quý.
Ông trùm lách ra khỏi đám đông. Ông đi khom khom, hai tay bưng một cái mâm đồng, trên mâm là một xâu tiền dài, cuộn tròn như con rắn ngủ, bên cạnh là một chai rượu nút lá chuối.
"Bẩm quan..."
"Tôi không phải quan." Người mặt rỗ nói.
"Dạ, bẩm ông... Nhà tôi có con lợn nái đang nuôi, mai tôi xin dắt lên doanh cho các ông, gọi là chút lòng. Thằng cả nhà tôi thì... nó còn lo việc đình đám trong làng, việc tế lễ, việc sổ sách..."
Người mặt rỗ nhìn cái mâm đồng. Rồi hắn đưa tay đẩy cái mâm về phía ông trùm, đẩy nhẹ, như người ta đẩy bát cơm đã no.
"Luật Thái Úy không bán suất."
Ông trùm đứng đực ra, tay vẫn bưng cái mâm. Cả sân đình nhìn ông. Năm ngoái, hôm bắt phu, nhà ông Bá Hộ nộp năm quan là xong, nhà ông trùm cũng nộp tiền thế cho anh Quyền ở nhà, cả làng biết thế, cả làng chẳng ai nói gì. Năm nay cái mâm tiền đưa ra rồi lại bị đẩy về, trước mặt cả làng.
Ông Bá Hộ đứng ở thềm đình, đã định bước xuống, thấy thế thì lùi lại, không nói câu nào. Anh Mộc người làm nhà ông, ông để cho đi.
Người mặt rỗ đếm trên đầu ngón tay. Năm.
Bố thằng Bống, ông phó cả thợ mộc, đứng ngay sau anh Quyền trong hàng. Ông đã giơ tay, đã nhấc cối, đã đặt cối xuống. Người mặt rỗ nhìn ông, rồi nhìn năm người đã bước ra, rồi quay đi. Thằng Bống đứng ở vòng ngoài, hai tay bám chặt lấy vạt áo mẹ nó, bấy giờ mới òa lên khóc, khóc to tới mức cả sân đình quay lại nhìn.
Đúng lúc người mặt rỗ quay đi thì có một người bước ra khỏi hàng.
Thằng Hợi.
Nó đứng ở cuối hàng từ lúc nào. Nó không phải đợi ai gọi. Nó bước tới trước mặt người mặt rỗ, đứng thẳng, ngực ưỡn ra.
"Tôi đi."
Người mặt rỗ nhìn nó từ đầu tới chân. "Mày bao nhiêu?"
"Mười bảy." Thằng Hợi nói. Không chớp mắt, như năm ngoái nó nói với tên cai ngoài bờ đê.
"Đủ năm suất rồi."
"Tôi đi thay anh Quyền." Thằng Hợi nói. "Tôi khỏe hơn."
Sân đình xì xào. Ông trùm ngẩng phắt lên, mắt sáng rỡ như người chết đuối vớ được cọc.
Người mặt rỗ nhìn thằng Hợi một lúc lâu. Rồi hắn bảo:
"Giơ hai tay lên."
Thằng Hợi giơ.
Tay trái nó vọt lên thẳng tắp, cao quá đầu, những ngón tay xòe ra như muốn chộp lấy cái gì trên trời. Tay phải nó lên tới ngang vai thì dừng.
Nó cố. Luân đứng ở rìa sân, thấy cái mặt thằng Hợi nhăn lại, hai hàm răng nghiến chặt, gân cổ nổi lên từng sợi như dây mây. Cánh tay phải run lên từng chập, nhích lên được một đốt ngón tay, rồi lại tụt xuống. Mồ hôi lấm tấm trên trán nó, chảy xuống thái dương.
"Tôi đánh tay trái." Nó nói, giọng khàn đi. "Tôi gánh một vai khỏe hơn đứa hai vai. Ông hỏi người đi phu với tôi mà xem."
"Đúng thế." Ông Thuận nói, từ chỗ năm người đứng. "Thằng ranh ấy gánh khỏe nhất đoàn."
Thằng Hợi không đợi ai bảo. Nó quay sang cái cối đá, cúi xuống, luồn cánh tay trái vào dưới đáy cối, và bẩy. Một tay. Một bên đáy cối nhích lên khỏi mặt đất một gang, rồi dừng lại đấy, rung rung. Cả sân đình nín thở.
Người mặt rỗ nhìn cái cối. Rồi nhìn cái tay phải buông thõng bên sườn thằng Hợi.
"Cầm giáo đứng tường thì tay phải phải lên quá đầu." Hắn nói. "Loại."
Thằng Hợi đứng yên, tay trái vẫn bẩy dưới đáy cối. Một lúc lâu nó mới buông. Cái cối dội xuống đất đánh huỵch.
Ở vòng ngoài, có tiếng cười khà khà.
Lão đồ tể đứng khoanh tay, cái tạp dề da trâu vẫn đeo trước ngực, mùi tiết lợn bốc lên nồng nặc. Lão cười, nhổ một bãi nước bọt xuống sân gạch.
"Què thì về mà mổ lợn." Lão nói, to, cho cả làng nghe. "Tưởng thoát được à."
Lão bước tới, túm gáy thằng Hợi, như túm gáy một con lợn con. Thằng Hợi không giằng ra. Nó để lão lôi đi. Nhưng lúc đi ngang qua rìa sân, nó ngẩng đầu lên.
Nó không nhìn Luân. Nó nhìn thằng Cò.
Thằng Cò đứng cạnh Luân. Cái vết sẹo trên trán thằng Cò, cái vết từ cái hôm hòn gạch ở bờ ao đình, giờ đã mờ, chỉ còn một vệt trắng. Thằng Cò không quay đi. Nó nhìn lại thằng Hợi. Hai đứa nhìn nhau trong lúc lão đồ tể lôi thằng Hợi đi qua, một hơi thở, hai hơi thở. Rồi thằng Hợi quay đầu đi, khuất sau đám đông.
"Hòn gạch của tao cứu nó." Thằng Cò nói, rất khẽ.
Luân không đáp một lúc.
"Nó muốn đi." Luân nói.
Thằng Cò quay sang nhìn nó. "Ai mà muốn đi lính."
Luân nhớ cái lưng thằng Hợi dưới ánh đuốc ở Mương Đen năm ngoái. Lằn roi da trâu của lão đồ tể. Lằn roi mây của người khác đè lên. Ba tháng đi phu ăn cơm nửa gạo nửa cám, gánh đất tới rã vai, đêm nằm ngủ trên bờ đê cạnh người chết cứng. Ba tháng ấy thằng Hợi bị roi mây của tên cai quất vào lưng. Nhưng ba tháng ấy không có lão đồ tể.
"Nó muốn." Luân nói.
Người mặt rỗ cho năm người về nhà một khắc, lấy áo, lấy nón, lấy đôi dép. Một khắc thì về tới xóm Hạ đã hết nửa khắc.
Nhà anh Sáng xóm Thượng, bà góa mẹ anh ôm chặt lấy chân con, ngồi bệt xuống đất mà ôm, anh Sáng phải cúi xuống gỡ từng ngón tay mẹ ra. Nhà ông Thuận, vợ ông không khóc, chỉ lẳng lặng nhét vào tay nải cho ông một gói muối vừng, một nắm gừng, rồi đứng ở cổng mà nhìn. Nhà ông trùm thì đóng cổng.
Người đàn bà xóm Hạ không về nhà. Bà đứng giữa sân đình, nhìn năm người lính Lò Trấu đứng thành một hàng, chân đi dép cói mới phát, trên vai chưa có miếng đồng nào. Rồi bà chửi.
Bà chửi không to lắm. Giọng bà khàn, đều, như người đọc kinh, đọc tới đâu nước mắt chảy tới đấy.
"Trời đất ơi là trời đất. Quân ăn cướp giữa ban ngày ban mặt. Năm ngoái quan huyện bắt con tôi đi đắp đê, con tôi về còn cái xác gầy như que củi. Năm nay các ông lại dắt nó đi như dắt con trâu con bò ra chợ. Con tôi có phải trâu bò nhà các ông đâu. Nhà tôi có nợ gì cái ông Thái Úy nào đấy ở trên kinh đâu, mặt mũi ông ấy tròn méo thế nào tôi còn chẳng biết. Trời có mắt thì trời soi xuống đây mà xem. Thánh thần có thiêng thì vật cái lũ bất nhân thất đức..."
Người mặt rỗ không quay lại. Mấy người lính đứng quanh cũng không nói gì. Tên cao gầy ria lún phún nhìn xuống mũi dép.
Thằng Nhỡ bước ra khỏi hàng, đi tới, ôm lấy vai mẹ nó.
"U ơi, thôi u." Nó nói. "Con về. Năm ngoái con về rồi thì năm nay con cũng về."
Người đàn bà xóm Hạ im bặt. Bà ngẩng lên nhìn con. Rồi bà lại giơ tay vuốt vai áo nó.
Lúc năm người đi lên Dốc Cửa Mả, Luân chạy theo.
Nó chạy tới trước mặt người mặt rỗ, đứng chặn ngay giữa đường.
"Bẩm ông, con thuộc rừng. Con thuộc hết đường dọc suối lên chân tường. Con xin đi dẫn đường."
Người mặt rỗ nhìn xuống nó. Nhìn cái đầu nó, chưa tới ngực hắn.
"Mày bao nhiêu?"
"Dạ, mười một ạ."
"Cao chưa tới cán giáo." Hắn nói. Hắn liếc cái giỏ tre trên lưng nó, cái giỏ tên cao gầy đã kể cho cả doanh nghe. Rồi hắn đưa tay gạt nó sang một bên, gạt không mạnh, như gạt một cành tre chắn lối. "Về đào rễ."
Tên cao gầy đi qua Luân, liếc xuống, nhếch mép.
"Thằng dân đen muốn đeo gươm." Hắn nói với người đi cạnh.
Luân đứng bên vệ đường, nhìn năm người đàn ông làng mình đi qua trước mặt. Thằng Nhỡ đi đầu, lưng thẳng. Ông Thuận đi sau, tay nải lủng lẳng trên vai. Anh Mộc, anh Sáng, anh Quyền. Họ đi qua cái điếm, ngoặt lên Dốc Cửa Mả, rồi đi vào bãi tha ma. Đi qua những nấm mả Luân từng đào. Đi qua cây gạo già.
Không có trống. Không có tiếng vỏ gươm gõ đều như hôm mồng năm. Chỉ có tiếng dép cói mới lẹp xẹp trên cỏ gà, năm đôi, không cùng nhịp.
Ở cái hôm ngồi trên bậc điếm với thằng Cò, thằng Bống, Ánh Dương, nó đã bảo tao vào Phong Sương Vệ. Hôm ấy nó nhìn lên đồi sim và chỉ thấy những tấm áo choàng xám bay trong gió. Hôm nay nó nhìn lên đồi sim, thấy năm cái lưng áo nâu của người làng mình.
Nó vẫn muốn. Nó biết là nó vẫn muốn. Nó chỉ không biết vì sao cái muốn ấy hôm nay lại nặng như thế.
Tối ấy, ở điếm, lão ăn mày hỏi:
"Mấy đứa?"
"Dạ, năm ạ."
"Thằng con đồ tể có đi không?"
"Dạ, không ạ. Người ta loại. Tay phải nó không giơ lên được."
Lão ăn mày im một lúc. Lão tu một ngụm rượu, rồi đặt bầu xuống sạp.
Luân rút cành ổi ở thắt lưng ra, đứng tấn, chờ.
Lão không gõ gậy.
"Hôm nay khỏi chém." Lão nói. "Về ngủ."
Luân đứng đấy, cành ổi trong tay, không hiểu. Lão ăn mày đã ngả lưng vào vách, nhắm mắt lại. Ngọn đèn dầu trên xà ngang chập chờn, chập chờn.
Nó cất cành ổi, cúi đầu chào, rồi đi về.
Chiều hôm sau, và chiều hôm sau nữa, người đàn bà xóm Hạ lại ra đứng ở gốc đa.
Năm ngoái, bà đứng đấy, một tay che trán, nhìn về phía hạ lưu, nhìn con đường đất đỏ chạy dọc chân đê.
Năm nay, bà đứng đúng chỗ ấy. Nhưng bà quay lưng lại với con đê. Bà nhìn lên Dốc Cửa Mả, lên cái bóng cây gạo đen sẫm trên đỉnh dốc.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.