Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 25: Dân Đen

Đăng: 04/10/2026 10:17 4,193 từ 6 lượt đọc

Năm hôm sau, Luân lại lên đồi.

Gà gáy canh năm, nó lay thằng Cò dậy.

"Tao lên đồi."

Thằng Cò ngóc đầu khỏi chăn, mắt nhắm mắt mở.

"Lính đóng trên ấy đấy."

"Ừ."

"Lính thì mày chết."

"Ừ."

Thằng Cò nằm xuống, kéo chăn trùm kín đầu. Một lúc, cái giọng lầu bầu lại lọt ra từ trong chăn.

"Nhớ về."

Lão ăn mày ngồi ở cửa điếm, cái chân quấn giẻ duỗi thẳng ra trước, cây gậy tre gác ngang đùi. Trời chưa sáng rõ. Sương đọng trên mái điếm, nhỏ xuống từng giọt tí tách.

"Đi đâu?"

"Dạ, cháu lên đồi hái thuốc ạ."

"Lính đóng ở đâu thì tránh ra." Lão nói. "Tránh không được thì chúng nó hỏi gì nói nấy. Nói thật."

"Dạ."

"Nói dối ông lang thì ông lang vạch sổ." Lão nhổ một bãi nước bọt ra ngoài cửa. "Nói dối lính thì lính đéo vạch sổ đâu. Lính chém."

Luân đặt gói cơm để phần lên sạp, rồi đi.

Đồi sim không còn là đồi sim nữa.

Năm trăm người với mấy chục con ngựa, mấy cái xe trâu đi qua, đã giẫm con lối mòn bé tí của trâu bò thành một con đường rộng ngang cái sân đình. Sim hai bên bị giẫm nát, gãy rạp xuống đất. Bánh xe trâu hằn hai vệt sâu hoắm, trong vệt còn đọng nước mưa đêm, đục lờ. Phân ngựa rải dọc đường, ruồi nhặng bay vo ve.

Đầu rừng, chỗ bãi trống năm ngoái nó hái thanh hao, giờ chỉ còn trơ những gốc cây mới chặt. Gốc nào cũng trắng hếu, nhựa còn ứa ra. Cây bị chặt đã được kéo đi đâu mất.

Luân đi theo con suối, như mọi lần, mắt dán vào hai bên bờ tìm những cái lá mọc đối. Tiếng suối róc rách át cả tiếng chân mình. Vòng qua một khúc suối ngoặt, nó ngẩng lên, và đứng sững.

Cái bãi đất bằng bên bờ suối, chỗ năm ngoái nó ngồi trên hòn đá ăn nửa nắm cơm, giờ là một cái doanh trại. Một hàng rào tre vót nhọn chạy vòng quanh, đầu cọc chĩa ra ngoài như răng bừa. Trong rào, lán dựng san sát, mái lợp lá gồi, vách che phên nứa. Khói bếp bốc lên từ mấy chỗ. Ngựa buộc thành hàng dưới gốc cây. Ở một góc rào có cái chòi canh bằng tre cao hơn ngọn cây sim, trên chòi có người đứng. Một lá cờ đen viền đỏ cắm trên cây sào cao nhất, gió thổi phần phật. Tiếng rìu bổ gỗ chan chát, tiếng người gọi nhau, tiếng ngựa hí.

Những người lính trong doanh không khoác áo choàng xám. Có người cởi trần đào hào, lưng bóng mồ hôi. Có người vác tre. Có người ra ngồi mài gươm ở bờ suối ngoài rào, tiếng đá mài miết vào lưỡi thép soèn soẹt.

Luân nhìn con suối. Con suối chảy men theo hàng rào bên phải doanh trại, bên kia suối là bãi lầy. Bên trái doanh trại là vách đá dựng đứng. Mấy bụi thường sơn nó biết đều ở phía trên kia, dọc bờ suối, gần chân tường. Muốn lên trên thì chỉ có một đường, men theo bờ suối, sát chân hàng rào.

Nó đứng nghĩ một lúc. Lão dặn tránh không được thì chúng nó hỏi gì nói nấy. Ở đây thì không tránh được. Nó xốc lại cái giỏ trên lưng, đi thẳng theo bờ suối, về phía hàng rào.

"Đứng lại!"

Tiếng quát từ trên chòi canh dội xuống. Luân đứng sững.

Rào tre mở ra một khe. Hai người lính bước ra. Một người cao gầy, ria mép lún phún, mặt dài như mặt ngựa. Một người thấp đậm, cổ to, hai cánh tay lực lưỡng. Cả hai đều đeo gươm, tay đặt sẵn trên chuôi.

"Thằng nào?" Người cao gầy hỏi. "Đi đâu?"

"Dạ, con đi hái thuốc ạ. Con ở Lò Trấu ạ."

Người cao gầy không nói gì. Hắn giật cái giỏ trên lưng Luân xuống, lộn ngược, dốc hết ra đất. Con dao quắm, cái thuổng, cuộn lạt, gói cơm, mấy cái rễ nó đào được ở dưới chân đồi. Cành ổi ở thắt lưng nó, hắn rút ra, nhìn, rồi vứt xuống đất.

Người thấp đậm cúi xuống nhặt con dao quắm, lật đi lật lại.

"Hái thuốc mà mang dao."

"Dạ, để chặt cành, phát bụi ạ."

"Phát bụi." Người thấp đậm cười khẩy, ném con dao xuống cạnh chân Luân, lưỡi dao cắm phập xuống đất. "Tháng trước bên phía Đông bắt được hai đứa ranh cỡ mày lảng vảng quanh đồn. Đứa nào cũng bảo đi hái thuốc. Tra một lúc thì khai ra là người nhà Mạc sai đi đếm lán."

"Dạ, con không phải ạ. Con chỉ xin đi qua một đoạn, lên chỗ gần tường, trên kia có mấy bụi..."

"Gần tường?"

Người cao gầy quay phắt lại. Hắn nhìn Luân từ đầu tới chân. Nhìn cái áo nâu vá vai, cái quần ngắn cũn, đôi bàn chân đất nứt nẻ.

"Nhìn cái áo kìa." Hắn nói với người thấp đậm. "Ăn mày."

"Dân đen thì về mà cày ruộng." Người thấp đậm nói. "Lên đây làm gì."

"Dạ, con..."

Người cao gầy đẩy vào ngực nó một cái.

Luân ngã ngửa ra sau. Nó không nghĩ, người nó tự co lại, vai chạm đất trước, lăn đi nửa vòng. Khuỷu tay nó quệt vào mấy hòn đá bờ suối, rát bỏng. Nó chống tay ngồi dậy.

Người thấp đậm co chân, đá cái giỏ tre. Cái giỏ bay lên, rơi tõm xuống suối. Mấy cái rễ văng theo, nổi lềnh phềnh trên mặt nước, trôi dần xuống phía dưới.

Người cao gầy rút gươm ra một gang tay.

"Cút." Hắn nói. "Lần sau thấy mày lảng vảng ở đây thì tao chém."

Luân ngồi dưới đất, nhìn lên cái lưỡi gươm.

Sát chỗ chuôi, trên lưỡi thép xám sẫm, cũng con chim cổ dài ấy, cũng cái vòng tròn tỏa tia nhọn trên đầu nó.

Năm hôm trước, con chim ấy làm nó không ngủ được. Bây giờ con chim ấy nhìn xuống nó.

Nó không khóc. Nó không cười. Nó đứng dậy, không nói gì, lội xuống suối.

Nước suối tháng Tư vẫn còn lạnh, ngập tới đầu gối. Nó lội theo mấy cái rễ đang trôi, vớt từng cái một. Một cái. Hai cái. Cái thứ ba mắc vào kẽ đá, nó thò tay xuống gỡ ra. Mười cái rễ thế này mới được một lạng. Một lạng mới được năm vạch. Nó không để trôi mất cái nào.

Trên bờ, hai người lính đứng nhìn nó lội. Người thấp đậm bật cười. Tiếng cười ha hả vang ra cả khúc suối.

"Làm gì mà ồn thế?"

Tiếng nói từ phía trên dòng suối vọng xuống. Khàn, to, âm quê nặng trịch.

Luân ngẩng lên.

Người cưỡi ngựa hồng hôm trước đang lội dọc bờ suối đi xuống. Hôm nay ông không cưỡi ngựa. Ống quần xắn tới đầu gối, bùn bám tới bắp chân, tay áo xắn tới khuỷu. Sau lưng ông có ba người lính, cũng bùn đất lấm lem như ông, trên vai vác mấy bó cọc tre mới chặt. Chỉ có miếng bạc ba vạch trên vai trái ông là sạch, sáng lên dưới nắng sớm.

Hai người lính trên bờ đứng thẳng lưng lại, tay buông xuôi.

"Bẩm tướng quân," người cao gầy nói, "bắt được thằng ranh lảng vảng quanh rào. Nó bảo muốn lên chỗ gần tường."

Người ấy nhìn xuống suối. Nhìn Luân đứng giữa dòng nước, quần áo ướt sũng, tay cầm ba cái rễ nhỏ nước nhỏ tong tỏng.

Rồi ông bật cười.

"Ơ. Thằng Minh Luân tên sang đây mà."

Ông lội xuống thêm mấy bước, dừng lại trên một hòn đá.

"Mày lên đây làm gì?"

"Dạ, bẩm quan lớn, con đi hái thường sơn ạ." Luân nói. Nói thật, như lão ăn mày dặn. "Trên kia, dọc suối, gần chân tường, có mấy bụi ạ. Thầy con cần để chữa sốt rét ạ."

Người ấy quay sang người cao gầy.

"Mày lục giỏ nó chưa?"

"Dạ, rồi ạ. Có con dao quắm."

"Dao quắm." Người ấy nhắc lại, gật đầu. "Ghê nhỉ."

Ba người lính vác cọc tre sau lưng ông cười khùng khục. Người cao gầy đỏ mặt.

"Có gì cứ để thằng bé đi qua." Người ấy nói. "Thằng bé là dân. Tao ngày trước cũng dân đen thôi."

"Bẩm tướng quân, lỡ nó là tai mắt..."

"Tai mắt nhà Mạc mà đi đào rễ cây, lội suối vớt từng cái rễ như thế này," người ấy chỉ tay xuống Luân, "thì nhà Mạc thua lâu rồi, chẳng cần tao với mày lên đây."

Mấy người lính quanh đó phá lên cười. Người cao gầy cúi đầu.

Người ấy thôi cười. Giọng ông vẫn khàn, vẫn to, nhưng thấp xuống một nấc.

"Còn cái giỏ. Đứa nào đá xuống suối thì xuống vớt lên cho nó."

Người thấp đậm đứng im một lúc. Rồi hắn lội xuống suối, nước ngập tới đầu gối, đi tới chỗ cái giỏ mắc vào một cành cây lũa, gỡ ra, lội lên, dúi vào tay Luân. Hắn không nhìn Luân. Mặt hắn đỏ tới mang tai.

"Đi." Người ấy bảo Luân. "Tao đưa lên."

Luân nhặt con dao quắm, cái thuổng, cuộn lạt, gói cơm, cành ổi, bỏ lại vào giỏ. Rồi nó đi theo ông, men theo hàng rào.

Đi được một quãng, nó mới dám mở miệng.

"Dạ, con cảm ơn quan lớn ạ."

"Quan lớn cái gì." Người ấy phẩy tay, như đuổi con ruồi. "Ở quê tao, người ta gọi tao là thằng Lâm con nhà đan sọt. Tao tên Phạm Ngũ Lâm."

Luân im. Nó không biết nên gọi thế nào cho phải.

"Gọi chú Lâm." Phạm Ngũ Lâm nói, như đoán được. "Trẻ con làng tao vẫn gọi thế."

"Dạ, chú Lâm."

Họ đi thêm một đoạn. Bên trong hàng rào, người lính đang đào hào ngẩng lên nhìn, thấy Ngũ Lâm thì lại cúi xuống đào tiếp.

"Nhà tao đan sọt." Ngũ Lâm nói, không nhìn Luân, mắt nhìn con suối. "Bố tao đan sọt, ông tao đan sọt. Tao ngồi đan sọt từ lúc còn bé hơn mày. Mười bốn tuổi thì làng bắt đi dân binh. Người ta phát cho tao một ngọn giáo."

Ông cười.

"Giáo là cái thứ người ta phát cho đứa không đáng được phát gươm. Mày biết không? Gươm với kiếm là của quan, của vua, của nhà có dòng dõi. Đao là của lính. Giáo là của dân. Đứa nào cầm giáo thì đứa ấy đứng hàng đầu, giặc đâm vào đứa ấy trước."

"Thế sao chú lại có gươm ạ?"

"Vì Thái Úy." Ngũ Lâm nói. "Thái Úy ra luật mới. Ai đánh được thì lên. Không hỏi bố mày là ai, ông mày là ai. Tao đánh được. Tao lên."

Luân nhìn miếng bạc trên vai ông.

"Dạ, ba cái vạch ấy là gì ạ?"

Ngũ Lâm đưa tay lên gõ gõ vào miếng bạc, kêu coong coong.

"Cái này gọi là phù vai. Thái Úy nghĩ ra. Ngày trước lính đeo bài ngà ở thắt lưng, phải lại gần mới đọc được. Cái này đeo trên vai, đứng xa trăm bước cũng biết đứa nào cầm quân."

Ông giơ bàn tay to bè lên, bẻ từng ngón.

"Sắt, đồng, bạc, vàng. Sắt là cai năm đứa, mười đứa. Đồng là cai năm chục, năm trăm. Bạc là cầm cả nghìn người trở lên. Quân tao với thằng Phong không đi cả qua làng mày đâu, mấy cánh khác lên đường khác. Còn vạch thì là bậc. Một vạch thấp, hai vạch cao hơn."

"Thế chú ba vạch ạ?"

"Ba vạch." Ông cười. "Thằng Phong hai vạch. Cái thằng cưỡi ngựa bạch hôm trước ấy."

Luân nhớ tới cái miếng đồng trơn trên vai những người lính đi bộ.

"Thế những người không có vạch ạ?"

"Lính Phong Sương thì đeo đồng trơn." Ngũ Lâm nói. "Đồng trơn bên này ngang với thập trưởng bên quân thường. Vào được đây là đã hơn người ta một bậc rồi."

"Thế vàng ạ?"

"Vàng thì không có vạch. Vàng khắc hình hổ. Cả nước có bốn cái." Ông giơ bốn ngón tay. "Bốn ông trấn bốn phía."

"Thế ông Thái Úy đeo gì ạ?"

Ngũ Lâm dừng lại, nhìn Luân, như nhìn một đứa vừa hỏi một câu hay.

"Thái Úy không đeo gì." Ông nói. "Ông ấy không cần ai nhìn vai mới biết ông ấy là ai."

Họ đi thêm một đoạn thì Luân hỏi cái câu nó đã nghĩ từ lúc bị đẩy ngã.

"Dạ, người như cháu thì có được đeo gươm không ạ?"

Ngũ Lâm không trả lời ngay. Ông đi thêm mấy bước, rồi mới nói.

"Luật thì không cấm ai."

Ông im một lúc.

"Người thì cấm."

Luân ngẩng lên nhìn ông. Ngũ Lâm vẫn nhìn con suối.

"Tao đeo cái gươm này tám năm rồi." Ông nói. "Lần nào vào kinh cũng có đứa con nhà quan nhìn cái gươm bên hông tao. Nhìn xong cái gươm thì nhìn cái mặt tao. Nhìn xong cái mặt tao thì hỏi: gươm này mày nhặt được ở đâu."

Ông cười. Nhưng cái cười chỉ ở miệng, không lên tới mắt.

"Luật Thái Úy thì viết trên giấy. Còn cái nhìn của người ta thì chẳng ai viết ra, mà cũng chẳng ai xóa được."

Luân không hỏi gì nữa. Nó nghĩ tới hai người lính ở bờ suối. Ăn mày. Dân đen thì về mà cày ruộng. Hai người ấy cũng đeo Gươm Lạc Hồng, cũng có con chim khắc trên lưỡi. Nó không biết hai người ấy ngày trước là con nhà ai.

Nó nhìn xuống ngực Ngũ Lâm. Ở cổ áo ông lộ ra một sợi dây da mảnh, thả vào trong áo. Dưới lớp áo đen, sát chỗ tim, có cái gì cộm lên, nhỏ, dài chừng gang tay, như trên ngực những người lính nó thấy hôm trước.

"Dạ, còn cái kia là gì ạ?"

Ngũ Lâm cúi nhìn theo mắt nó. Ông thò tay vào trong áo, kéo sợi dây da, rút ra.

Một con dao ngắn, dài hơn gang tay một chút, lưỡi thẳng, mũi nhọn. Không có chim. Trên thân lưỡi khắc mấy chữ Nho nhỏ, xếp thành một hàng dọc.

Luân ghé mắt nhìn. Chữ đầu nó không đọc được. Chữ thứ hai thì nó biết. 五.

"Ngũ ạ." Nó nói. "Là năm ạ."

Ngũ Lâm nhướn cặp lông mày rậm lên. "Mày đọc được chữ à?"

"Dạ, thầy cháu dạy ạ. Cháu mới biết ít thôi ạ."

"Thầy mày đặt tên sang, lại còn dạy chữ." Ông lắc đầu. "Mày sướng hơn tao. Tao hai mươi tuổi mới viết được cái tên mình."

Ông lật con dao cho Luân xem.

"Tên tao đấy. Người Phong Sương, đứa nào cũng có một con. Vào vệ ngày nào thì khắc tên ngày ấy. Từ đấy nó theo người."

"Dạ, để làm gì ạ?"

Ngũ Lâm đặt con dao vào lòng bàn tay Luân.

Luân giật mình. Con dao ấm. Không phải cái ấm của một vật vừa rút ra từ trong áo người ta. Nó ấm từ bên trong ra, như một con chim non nằm trong lòng bàn tay, còn đang thở.

"Người còn sống thì nó còn ấm." Ngũ Lâm nói. "Người chết thì nó nguội."

Ông lấy lại con dao, thả vào trong áo.

"Sổ lính thì nằm trên kinh. Tên nó ở đây." Ông vỗ lên ngực áo. "Gươm gãy thì còn nó. Nó là cái cuối cùng. Đứa nào chết ở đâu, anh em nhặt được con dao nguội thì mang về. Người thì có khi không mang về được. Dao thì bao giờ cũng mang về."

Luân nhìn chỗ cộm lên dưới lớp áo, sát ngực ông.

Phu chết thì tên cai kéo một nét ngang qua cái tên trong quyển sổ bìa xanh. Lính chết thì một con dao nguội đi.

Nó không biết cái nào nhẹ hơn.

Đi ngang qua một cái lán lớn hơn những lán khác, có bốn người lính đứng gác ở cửa, thì Luân nghe thấy tiếng nói từ bên trong vọng ra.

Tiếng con gái. Giọng trong, cao, sắc như lưỡi dao cau.

"Ta không phải tù! Thầy ta đi mười hai ngày rồi, không một tin nào, mà các người bắt ta ngồi đây..."

Một giọng đàn ông trầm hơn, nhỏ hơn, nghe như đang dỗ dành.

"Bẩm, tướng quân đã dặn..."

Tấm phên nứa ở cửa lán bị ai kéo sập xuống. Tiếng nói tắt.

Ngũ Lâm không dừng lại. Ông không nhìn cái lán. Nhưng Luân thấy bước chân ông nhanh hơn một chút, và cái quai hàm ông cứng lại.

Luân không hỏi.

Gần tới chỗ hết hàng rào, có người đi từ trong doanh ra, chặn đường.

Luân nhận ra ngay. Không phải nhờ khuôn mặt. Nó nhận ra cái cảm giác trước khi kịp nhìn thấy mặt. Không khí đặc lại, nặng xuống, như có ai đặt một cái cối đá lên ngực nó. Nó lại bất giác kéo hơi thở xuống bụng.

Người cưỡi ngựa bạch hôm trước. Hôm nay ông không cưỡi ngựa, cũng không khoác áo choàng. Áo giao lĩnh đen, giáp da đen, miếng bạc hai vạch trên vai. Đứng gần thì ông còn cao hơn Luân tưởng, cao hơn Ngũ Lâm gần một cái đầu. Mặt ông trắng, sạch, không một vết bùn, như chưa bao giờ phải cúi xuống đất.

"Anh Lâm." Ông nói. "Có tin chạy về."

"Có tin gì?"

Người ấy liếc xuống Luân. Chỉ liếc. Rồi ông không trả lời câu hỏi của Ngũ Lâm.

"Doanh trại không phải chỗ cho trẻ con ra vào."

"Nó đi hái thuốc." Ngũ Lâm nói. "Tao cho qua."

Người ấy nhìn Luân thêm một lúc. Cái nhìn không giận, không khinh. Nó lạnh và phẳng, như người ta nhìn một hòn đá nằm giữa đường, xem có phải bước qua không.

"Ngươi ở đâu?"

"Dạ, bẩm quan lớn, con ở Lò Trấu ạ."

"Lò Trấu." Người ấy nhắc lại. Rồi ông quay đi. "Đi qua thì đi nhanh."

Ngũ Lâm vỗ vai Luân một cái.

"Lên đi. Chiều về thì đi đường này. Đứa nào hỏi thì bảo thằng Lâm cho qua."

Rồi ông đi theo người kia vào trong doanh, bước chân dài và nặng.

Phía trên doanh trại, con suối lại như cũ. Tiếng chim, tiếng nước chảy róc rách qua kẽ đá, mùi lá mục ẩm. Luân đi một mình.

Nó tìm được bụi thường sơn ở mé tảng đá, bụi mà hồi cuối tháng Hai nó moi được hai cái rễ. Rồi một bụi nữa, cao hơn, ở chỗ bờ suối ẩm. Nó đào, chừa rễ con, rũ đất.

Lên gần chân tường thì nó dừng lại.

Chỗ bức tường sạt, chỗ con suối luồn qua đá đổ mà chảy xuống, có hai người lính ngồi trên những khối đá. Hai người ngồi quay lưng về phía Luân, mặt quay về phía bên kia tường. Gươm đặt ngang trên đùi, không tra vào vỏ. Họ ngồi im như hai hòn đá.

Một người quay đầu lại nhìn Luân. Nhìn cái giỏ tre trên lưng nó. Rồi quay đi, không nói gì.

Luân đứng nhìn hai cái lưng ấy một lúc. Từ bên kia tường, vẫn không có tiếng chim.

Nó quay xuống.

Lúc nó về qua doanh trại thì mặt trời đã ngả.

Trên khoảnh đất trống giữa doanh, lính đang tập. Mấy chục người đứng thành hàng, gươm tuốt trần, cùng chém một đường, cùng thu về, cùng chém đường khác. Lưỡi gươm rít lên trong gió, vút, vút, vút, mấy chục tiếng như một tiếng. Ánh chiều hắt lên những lưỡi gươm xám sẫm, lóe lên một lượt rồi tắt một lượt.

Ngũ Lâm đi giữa các hàng. Ông dừng lại trước một người lính trẻ, cầm lấy cổ tay người ấy, xoay đi một chút, nói gì đó Luân không nghe rõ. Người lính trẻ gật đầu, chém lại.

Ngũ Lâm ngẩng lên, thấy Luân đi ngoài rào. Ông giơ một bàn tay lên.

Luân giơ tay lên đáp lại.

Người cao gầy ria lún phún đang gác ở khe rào. Hắn nhìn Luân đi qua, không nói gì, cũng không nhìn thẳng.

Luân đi được mấy chục bước thì nghe tiếng chân sau lưng. Nó nép vào bờ suối.

Một tốp lính từ phía chân tường đi xuống, đi nhanh, vượt qua nó, rẽ vào doanh qua khe rào. Sáu người. Quần áo rách tướp, bùn bám tới thắt lưng, người nào mặt cũng xám ngoét. Người đi đầu đi thẳng tới giữa bãi tập.

Tiếng gươm chém gió im bặt.

Người ấy đứng trước mặt Ngũ Lâm, giơ hai tay lên, trên tay là một gói vải nhỏ.

"Đi bảy." Người ấy nói. "Về sáu."

Ngũ Lâm cầm lấy gói vải, mở ra.

Trong gói vải là một con dao ngắn.

Luân đứng sau hàng rào, qua kẽ cọc tre, nhìn thấy Ngũ Lâm cầm con dao ấy lên. Ông cầm nó trong lòng bàn tay, không nói gì, như người ta cân một nắm gạo. Rồi ông khép bàn tay lại.

Mấy chục người lính trên bãi tập đứng im. Không ai nói. Không ai nhúc nhích. Chỉ có tiếng suối chảy.

Luân biết đấy là con dao gì. Nó nhớ cái ấm nằm trong lòng bàn tay nó sáng nay, như con chim non còn thở. Nó không biết con dao trong tay Ngũ Lâm bây giờ có còn ấm không. Nó không muốn biết. Nó quay đi, đi nhanh xuống đồi.

Về tới nhà, gà chưa lên chuồng.

Ông lang đổ rổ rễ ra, nhìn. Rễ còn ướt, bám đất, có cái còn lấm tấm cát suối.

"Ướt sũng." Ông nói.

"Dạ, con làm rơi xuống suối ạ."

"Ngấm nước suối thì phải phơi lâu hơn." Ông gạt đống rễ ra một góc nong. "Khô rồi tao cân. Tao không gạch vạch cho nước suối."

Rồi ông nhìn xuống khuỷu tay nó. Vết trầy đỏ lừ, máu đã khô thành vảy, dính mấy hạt cát. Phía trên vết trầy, chỗ lằn gấp, còn in một vết ngón tay cái tím sẫm. Lúc lội lên khỏi suối, máu rỉ không cầm, nó đã tự ấn vào đấy suốt một quãng đường.

Ông lang đặt ngón cái của ông lên cái vết ấy, dịch lên một chút.

"Lệch nửa đốt." Ông nói.

"Ngã à?"

"Dạ, lính đẩy ạ."

Ông lang ngừng tay.

"Lính đẩy thì đứng dậy mà đi." Ông nói. "Đừng cãi."

"Dạ, con không cãi ạ."

Ông lang đứng dậy, đi vào gian thuốc, lấy lọ cao với miếng vải ra. Ông bôi cao lên khuỷu tay nó, chậm và kỹ, kỹ hơn cả lúc bôi cho người bệnh. Bôi xong, ông chưa đứng dậy ngay.

"Có ai hỏi gì nữa không?"

"Dạ, có một ông quan hỏi con ở đâu. Con bảo con ở Lò Trấu ạ."

Ông lang gật đầu.

"Ừ."

Ông cất lọ cao, rồi ra hiên, ngồi xuống trước cái thớt.

Tối ấy, ở điếm, Luân kể cho lão ăn mày.

Nó kể về hai người lính ở bờ suối. Về cái giỏ tre bị đá xuống suối. Về người đàn ông tên Phạm Ngũ Lâm, con nhà đan sọt, cầm giáo từ năm mười bốn tuổi, giờ đeo miếng bạc ba vạch trên vai. Nó kể về phù vai, sắt, đồng, bạc, vàng, bốn con hổ cho bốn ông trấn.

Nó không kể con dao ngắn trong gói vải.

Lão ăn mày nghe, bầu rượu trong tay.

"Dân đen lên được ba vạch." Lão nói.

"Dạ."

Lão tu một ngụm.

"Thế thì phải chết hụt nhiều lần lắm."

"Chết hụt ạ?"

"Đứa con nhà quan lên vạch bằng giấy." Lão đặt bầu xuống sạp. "Đứa dân đen lên vạch bằng sẹo. Mỗi vạch là mấy lần suýt chết."

Luân im. Nó nghĩ tới hai cánh tay to bè của Ngũ Lâm, những khớp ngón u lên như mấu tre. Nó không để ý có sẹo hay không.

"Chú ấy tốt ạ." Luân nói. Nó nói nhanh, nói to hơn nó định.

Lão ăn mày nhìn nó. Trong ánh đèn dầu vàng vọt, Luân không đọc được mắt lão.

"Tốt thì chết sớm hơn." Lão nói.

Rồi lão gõ gậy xuống đất, cộc.

"Chém."

Luân rút cành ổi ra. Tối nay nó không chém cho ai xem. Nó chém cho cây chuối, như lão dạy. Chém mãi, tới lúc hai cánh tay tê dại. Chém cho cái câu ấy trôi đi.

Nó không trôi.


Xưa cầm ngọn giáo đầu làng,

Nay đeo phù bạc đứng hàng đầu quân.

Bùn ao còn bám gót chân, Tay chai nan sọt bao lần nhớ quê.

Một mai gió bấc thổi về,

Đoản đao nguội lạnh, tên đề còn nguyên.

0