Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử
Chương 22: Năm Ngày
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
35 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 35/35 chương
Gà gáy canh tư, Luân dậy trước cả thằng Cò.
Nó khẽ kéo tấm liếp, lách ra ngoài, chạy một mạch qua ngõ, qua điếm, lên Dốc Cửa Mả. Trời còn tối, sương đêm ướt sũng hai ống chân. Nó quỳ xuống trước gốc cây gạo, thò tay vào cái hốc dưới rễ, gạt lớp lá khô, lôi cái bao lá chuối ra.
Bao rễ vẫn còn. Nặng, ẩm, thơm hăng hăng.
Nó ôm bao rễ chạy về, nhét xuống dưới gầm chạn lúc thằng Cò vẫn còn ngáy, rồi nhóm bếp, gánh nước, quét sân, làm mọi việc đúng như mọi sáng. Chỉ có hai tay nó hơi run. Lúc múc nước vào chum, nó làm đổ ra ngoài mất nửa gáo.
Ông lang ra hiên lúc trời vừa rạng. Ông ngồi xuống cái chõng tre, kéo tấm thớt lại gần, cầm con dao cầu lên.
Luân bưng cái rổ ra, đặt xuống bên cạnh tấm thớt.
"Thưa thầy, con hái được ít thường sơn ạ."
Con dao cầu dừng lại lưng chừng.
Trong rổ, những cái rễ đã rũ sạch đất, xếp thành bó, cái to nhất bằng ngón chân cái người lớn, mấy chỗ gãy lộ ra cái lõi vàng ươm. Ông lang nhặt một cái rễ lên, lật đi lật lại, bẻ đôi, đưa lên mũi ngửi. Rồi cái khác. Rồi cái khác nữa. Ông cứ nhặt lên, bẻ, ngửi, đặt xuống, như người ta đếm tiền.
"Hái ở đâu?"
Luân đã nghĩ câu ấy suốt từ lúc chạy xuống Dốc Cửa Mả. Nghĩ tới lúc thuộc lòng.
"Dạ, ở rừng đầu đồi sim ạ. Chỗ có con suối nhỏ."
"Rễ này năm năm." Ông lang giơ một cái rễ lên trước mặt nó. "Có khi hơn. Đầu đồi sim là chỗ người ta đi kiếm củi. Có bụi thường sơn năm năm nào mà người ta để lại cho mày?"
Luân thấy cổ họng mình khô lại.
"Dạ... có một bụi to ạ. Mọc khuất sau tảng đá bên suối. Con cũng tưởng không có."
Câu ấy ra khỏi miệng nó trơn tru, trơn hơn nó tưởng. Chỉ có một nửa là thật. Cái bụi bên suối có thật, nó đào ở đấy được một nắm rễ con. Còn lại cả rổ này là của bên kia bức tường.
Nó đã nói dối nhiều. Hồi còn ở điếm, nó nói dối ông tuần đinh là nó không lấy trộm khoai, nói dối lũ trẻ trong làng là nó không đau. Nói dối để sống qua được một ngày. Những lần ấy nó chẳng thấy gì.
Lần này thì nó thấy. Nó thấy như có một sợi chỉ vừa bị móc vào một cái đinh, căng ra, và nó biết từ giờ trở đi, mỗi lần nó bước, sợi chỉ ấy sẽ lại căng thêm một chút.
Ông lang nhìn nó rất lâu.
Rồi ông đứng dậy, đi vào gian thuốc. Luân nghe tiếng cái cân tiểu ly bằng đồng lách cách. Ông quay ra, tay cầm quyển sổ đóng bằng giấy bản với cây bút lông.
"Lạng rưỡi." Ông nói. "Rễ tốt. Chợ huyện bây giờ ba quan không mua được."
Ông mở sổ, lật tới trang có tên nó với tên thằng Cò, chấm bút, gạch. Mỗi nét ngang cắt qua một nét dọc, gọn gàng, thẳng tắp. Luân đếm. Tới nét thứ mười thì ông dừng tay.
"Mười vạch."
Mười buổi gánh nước, mười buổi đắp đê, mười buổi quét sân từ lúc gà gáy. Luân đứng im, nhìn mười cái nét ngang nằm trên trang giấy như mười cái cầu nhỏ bắc qua mười con mương.
"Chỗ ấy còn không?"
"Dạ, còn ít ạ."
"Còn thì để đấy." Ông lang đóng sổ lại. "Rễ thường sơn phải ba năm trở lên mới đào. Đào non thì phí. Đào hết thì sang năm lấy gì mà đào. Nghe chưa?"
"Dạ."
Ông lang cầm cái rổ đi vào gian thuốc. Luân đứng ngoài hiên, nghe tiếng ông xếp từng bó rễ vào cái ngăn tủ thứ ba từ dưới lên, cái ngăn đã trống trơn từ hôm gói hai mươi gói lá chuối. Nghe tiếng ngăn tủ đẩy vào. Lần này ông đẩy vào rất nhẹ.
Suốt buổi sáng hôm ấy, Luân cứ nghĩ tới mười vạch. Nó nghĩ tới lần sau có dịch, ông lang sẽ không phải cởi cái túi vải ra đổ bạc vụn lên tay người lái buôn nữa. Nó cũng nghĩ tới sợi chỉ. Nhưng nghĩ tới mười vạch nhiều hơn.
Lần thứ hai nó đi là ba hôm sau.
Lần này dễ hơn. Nó men theo những chồng sỏi ba hòn nó đã xếp, không trèo lại chỗ tường sạt mà con lợn đã lùa nó sang, mà đi vòng về phía đông. Bên kia vẫn không một tiếng chim, không một tiếng côn trùng. Nó đào thường sơn, chỉ đào những bụi già, chừa rễ con lại. Nó không lại gần cái gò, chỉ dừng lại ở rìa khoảng trống, đứng ngay ngắn, vái ba vái, rồi mới đi tiếp.
Về, nó lại đưa rổ rễ cho ông lang.
"Cũng chỗ ấy?"
"Dạ."
Lần này thì câu ấy chẳng cần nghĩ trước. Nó ra khỏi miệng nhẹ như tiếng thở. Ông lang cân, gạch vạch, cất rễ. Không hỏi thêm.
Có một bận nó thấy con lợn. Nó đang nằm rạp sau bụi cây ở chỗ tường sạt phía đông thì nghe cái mùi. Mùi đất mả, theo gió từ phía tây. Ở chỗ tường sạt mà hôm trước con lợn đã lùa nó sang, cách chừng một tầm tên bắn, trên đỉnh đống đá đổ, có một cái bóng đen đứng im. Cái bóng to bằng con nghé. Hai cái nanh cong vút lên, vàng khè. Nó nhìn về phía Luân.
Luân nằm im, không dám thở, tới lúc cái mùi đất mả nhạt đi rồi mất hẳn. Cái bóng trên đỉnh đống đá không còn nữa.
Hôm ấy nó không sang. Nó bò lùi ra, đi một mạch về, hái một rổ rau má bờ suối sau làng mang về cho ông lang, bảo hôm nay chỉ hái được thế. Ông lang gật đầu, chẳng nói gì.
Lần thứ ba nó sang, con lợn không có đấy. Lần thứ tư cũng không. Nhưng lần nào trèo qua tường, Luân cũng đứng im một lúc ở chân tường bên kia mà hít, hít cho tới lúc chắc chắn trong gió không có cái mùi ấy. Nó học được đi dọc chân tường về phía đông thì tới một chỗ có cây sung mọc xuyên qua khe đá, rễ bám thành bậc, trèo dễ hơn cả chỗ sạt, và từ đấy nó chỉ trèo ở chỗ ấy. Nó học được những chồng sỏi ba hòn của nó, lần nào quay lại cũng còn nguyên, chưa từng có ai đụng tới.
Ba quả trên cây mỗi lần một khác, khác nhanh tới lạ. Lần thứ hai xanh sẫm như lá. Lần thứ ba ngả vàng, ửng lên những đường gân đỏ giống hệt gân lá. Lần thứ tư thì cả ba quả đã đỏ thẫm như màu tiết đông, và đứng ở rìa khoảng trống nó đã ngửi thấy mùi thơm, thứ mùi ngọt đậm như mật ong rừng mà lại có gì đó hăng hắc ở tận cùng.
Nó vái ba vái. Nó không lại gần.
Thằng Cò bắt đầu hỏi từ lần thứ ba.
Tối ấy Luân về muộn. Lúc nó lách qua tấm liếp thì thằng Cò đang ngồi đợi, hai tay khoanh trước ngực, ngọn đèn dầu lạc đặt dưới đất chiếu ngược lên mặt nó, trông như mặt quỷ.
"Chiều nào mày cũng đi đâu?"
"Hái thuốc."
"Rừng nào?"
Luân không đáp. Thằng Cò cúi xuống nhìn hai ống chân nó, xây xước chằng chịt, vết cũ đã lên da non, vết mới còn rớm máu.
"Chân mày như thế kia mà bảo hái thuốc ở đầu đồi sim?" Thằng Cò nói, giọng rít lại. "Tao đi kiếm củi đầu đồi sim từ năm tám tuổi. Ở đấy làm gì có bụi gai nào cào được thế."
Luân vẫn không đáp. Thằng Cò thổi phụt ngọn đèn, nằm vật xuống, quay mặt vào vách.
"Mày giấu tao cái gì." Nó nói trong bóng tối, giọng không có ý hỏi.
Luân nằm nghe thằng Cò thở như người đang giận mà cố nén. Nó biết, nếu nó nói ra, thằng Cò sẽ đòi đi theo. Mà bên kia bức tường có con lợn đứng trên đống đá nhìn sang.
Nó không nói.
Từ hôm ấy, thằng Cò thôi hỏi. Nhưng thằng Cò cũng thôi kể chuyện chợ, thôi trêu nó, thôi gọi nó là thằng Bần những lúc chỉ có hai đứa. Ban ngày hai đứa vẫn ăn chung một mâm. Chỉ là giữa hai đứa, có một cái gì đó như tấm liếp, mỏng thôi, nhưng đã kéo xuống rồi.
Hai hôm sau lần thứ tư, trưa, Luân mang cơm xuống điếm như mọi trưa. Nó mở gói lá chuối, lấy nắm cơm ra. Không bẻ đôi. Cả nắm. Nó đặt lên sạp, cạnh bầu rượu.
"Cả nắm?" Lão ăn mày hỏi. "Hôm nay có việc gì?"
"Dạ, cái hôm chú dạy cháu chạy khác." Luân nói. "Cái ấy đáng cả nắm ạ."
"Đáng thế nào?"
Luân không đáp. Nó đứng thẳng, hai tay buông xuôi, nhìn xuống nền điếm.
Lão ăn mày cười khẩy một tiếng trong cổ họng, cầm nắm cơm lên, cắn một miếng to.
"Cả nắm thì cả nắm." Lão nói, miệng đầy cơm. "Tao nhận."
Lão ăn hết, không chừa một hạt.
Chiều hôm ấy, nó đi, bụng không có gì ngoài bát cháo loãng từ lúc gà gáy. Tới lúc trèo qua bức tường thì Luân đã đói lả.
Cái đói không còn là cái cồn cào nữa, mà là cái rỗng, cái chân tay bủn rủn như có ai rút hết xương ra. Từ ngày về ở nhà ông lang, nó đã quên cái đói lâu rồi. Giờ nó quay lại, như một người quen cũ mà mình không muốn gặp. Đào được một lúc thì Luân hoa mắt, phải ngồi bệt xuống đất mà thở.
Rồi nó ngửi thấy mùi thơm. Mùi mật ong rừng. Nhưng lần này mùi ấy ở gần lắm. Ngay dưới chân nó.
Giữa đám rễ thường sơn nó vừa bới lên, cách cái gò chừng năm bước chân, có một quả đỏ thẫm nằm lăn lóc trên đất. Quả đã rụng, rồi lăn theo sườn gò mà xuống, lăn qua cái đường ranh không mọc cỏ, nằm đấy. Vỏ quả nứt một đường nhỏ, lộ ra cái ruột bên trong, đỏ sẫm, bóng lên như có mật.
Luân ngẩng lên nhìn cái cây trên gò. Trên cành chỉ còn hai quả.
Hồi còn ở điếm, những ngày đói, nó vẫn nhặt quả rụng ở bãi tha ma mà ăn. Quả sung rụng dưới gốc, quả ổi rụng bên mả. Người làng bảo ăn đồ cúng ở mả thì bị ma bắt. Nó ăn mãi, ma chẳng bắt. Nó chỉ không ăn những gì người ta còn đặt trên mả. Cái gì đã rụng xuống đất, đã lăn ra khỏi mả, thì không còn là của người chết nữa. Đấy là cái luật của một đứa trẻ đói, ngày ấy nó tự đặt ra, chẳng ai dạy.
Quả này đã lăn ra khỏi gò.
Nó đứng dậy, quay về phía cái gò, đứng ngay ngắn, chắp tay, vái ba vái. Vái xong, nó cúi xuống, nhặt quả lên.
Quả nặng hơn nó tưởng, nặng như cầm một hòn đá cuội, và ấm. Ấm như vừa có ai cầm trong tay lâu rồi mới đặt xuống.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, người ta vẫn bảo thế. Nó không biết ai trồng cây này. Nó nghĩ tới người nằm dưới cái gò, người mà nó đã vái năm lần, lần nào cũng không biết khấn gì.
"Cháu xin." Nó nói, rất khẽ, với cái gò. Rồi nó ăn.
Quả ngọt lắm. Thịt quả mềm, tan ra ngay trong miệng, không có xơ, không có hạt, chỉ có một thứ ruột đỏ sẫm, ngọt quánh, trôi tuột xuống cổ họng.
Rồi cái ngọt ấy nhạt dần, nhạt tới lúc trong miệng chẳng còn vị gì cả. Không đắng, không chát, không chua. Như vừa uống một ngụm nước lã.
Rồi nó thấy ấm.
Cái ấm đi xuống theo cổ họng, xuống ngực, xuống bụng, rồi dừng lại dưới rốn, đúng chỗ mỗi tối ngồi vận công nó vẫn thấy ấm lên. Nhưng cái ấm mỗi tối là cái ấm lan ra, loang ra như giọt dầu trên mặt nước. Còn cái ấm này thì không lan. Nó nằm im một chỗ, tròn trịa, như có ai vừa đặt vào trong bụng nó một quả trứng chim còn ấm.
Luân đứng im, đợi. Không có gì xảy ra. Cái đói đã hết, người nhẹ nhõm, tỉnh táo, như vừa ăn một bát cơm đầy. Cái cây trên gò vẫn đứng im, không một cái lá nào lay.
Luân cúi xuống, đào nốt chỗ thường sơn.
Nó về tới làng lúc hoàng hôn, đặt rổ rễ xuống cạnh tấm thớt, rồi chạy xuống điếm tập. Tối ấy nó chém cây chuối trăm nhát chẳng thấy mỏi. Ông lang cân rổ rễ, gạch vạch, cất đi, chẳng hỏi gì.
Lúc nằm xuống ổ rơm rồi, nó mới thấy cái ấm tròn trịa dưới rốn vẫn còn ở đấy. Không nóng thêm, không nguội đi. Nó ngủ say, không mơ gì cả.
Sáng hôm sau, gà gáy canh tư, Luân không dậy.
Thằng Cò thấy bếp vẫn nguội, bèn lấy chân hẩy hẩy vào lưng nó.
"Ê. Dậy. Hôm nay mày để tao gánh nước à?"
Luân nghe rõ lắm. Nhưng cái tay nó không nhấc lên được, như có ai đè cả một cái cối đá lên. Miệng nó há ra mà không có tiếng.
Thằng Cò cúi xuống, lật nó nằm ngửa ra. Rồi thằng Cò giật tay lại như vừa chạm phải cái nồi đang sôi.
"Ông ơi!" Thằng Cò hét tới vỡ cả giọng. "Ông ơi! Thằng Luân nó nóng như cục gạch nung!"
Ngày thứ nhất là lửa.
Luân nằm trong lửa. Cái nóng đến từ bên trong, từ trong xương, từ trong máu, cuộn lên từng đợt như nồi cám sôi. Mái lá cọ trên đầu cứ chao đi chao lại, rồi tối sầm.
Có một bàn tay đặt lên trán nó. Bàn tay khô, gầy, lạnh như nước giếng vừa múc lên, có mùi thuốc lào với mùi lá thuốc.
"Mạch hồng đại. Nhiệt." Tiếng ông lang, nghe như vọng tới từ bên kia sông. "Cò, sắc thuốc. Sắn dây, lá tre, sài hồ. Đun cạn còn một bát."
Có cái gì đắng ngắt đổ vào miệng nó. Nó nuốt được một ngụm, cái đắng trôi xuống cổ họng như một dòng nước lạnh đổ vào lò than, xèo một cái, rồi mất hút.
Trong giấc ngủ, nó thấy cây gạo trên bãi tha ma nở hoa. Nhưng từng bông hoa gạo đều là một ngọn lửa, rơi lả tả xuống những nấm mả, rơi vào miệng nó, và nó nuốt, nuốt mãi, không sao nhổ ra được.
Ngày thứ hai là băng.
Cái lạnh cũng đến từ bên trong, như ai vừa đổ một gáo nước giếng vào tận tủy xương. Hai hàm răng nó đánh vào nhau côm cốp. Có người đắp chăn lên nó, rồi tiếng ông lang quát thằng Cò đi xin nhà ông phó cả cái chăn bông. Nó vẫn run.
"Sốt rét thì rét trước, nóng sau." Tiếng ông lang, ngay bên tai nó. "Đằng này nóng trước, rét sau. Mà nóng một ngày, rét một ngày, không lui không tới."
Ông bắt mạch lâu, lâu hơn cả lần bắt mạch ông cụ ở nhà thứ bảy làng bên kia sông.
"Mạch trầm trì. Hàn." Ông nói, rồi im một lúc lâu. "Hôm qua là nhiệt."
Rồi Luân nghe tiếng cái ngăn thứ ba từ dưới lên. Nó nghe mùi thường sơn sao rượu, cái mùi hăng hăng mà chính tay nó đã sao ở làng bên. Thuốc trôi xuống, chẳng làm gì cả.
Trong giấc ngủ ngày thứ hai, nó lội qua con suối, bờ bên kia cứ lùi xa mãi. Trên bờ có một cái bóng đen to bằng con nghé đứng im, hai con mắt đỏ âm ỉ nhìn nó.
Ngày thứ ba là đá.
Người nó nặng như đá, chìm xuống ổ rơm như hòn cuội thả xuống ao. Hai mí mắt như bị ai khâu lại bằng chỉ gai. Nhưng nó nghe được tất cả. Nó nghe thằng Cò sụt sịt. Nó nghe tiếng thằng Bống ở ngoài cổng hỏi anh Luân có chết không, rồi tiếng ông lang quát về. Nó nghe tiếng con dao cầu ngoài hiên, cạch, cạch, rồi thôi, rồi lại cạch, cạch, như người thái thuốc mà tâm trí để đâu đâu.
Ông lang ấn tay lên bụng nó, chỗ dưới rốn. Ấn lâu.
"Mạch trầm như đá chìm đáy giếng." Ông nói. Không nói với ai. "Thấp. Nặng. Hôm qua hàn. Hôm kia nhiệt."
Luân nghe tiếng ông thở dài, chậm.
"Không bệnh nào đi như thế."
Chiều ngày thứ ba, Luân bắt đầu nói mê. Những thứ trong đầu cứ trồi lên như bọt nước, rồi vỡ ra thành tiếng, khàn, lạ, như tiếng của một người khác.
"Con lợn... không sang..."
"Mười người... bảy người về..."
"Ba hòn... hòn to dưới... hòn nhỏ trên..."
"Cháu xin..."
Có tiếng ai đứng bật dậy. Tiếng bước chân đi nhanh sang gian thuốc. Tiếng ngăn tủ thứ ba kéo ra. Rồi im rất lâu.
Qua cái khe mắt nhòe nhòe, Luân thấy ông lang đứng ở ngưỡng cửa gian bếp, tay cầm một cái rễ thường sơn to bằng ngón chân cái. Ông đứng quay lưng về phía ánh chiều, nên nó chỉ thấy cái bóng của ông, gầy, còng, đứng im như một cái cột nhà cháy dở. Ông đứng như thế tới lúc vệt nắng trên ngưỡng cửa tắt hẳn.
Rồi ông đi vào, ngồi xuống mép ổ rơm, đặt cái rễ xuống bên cạnh.
"Tao đã bảo." Ông nói, khẽ tới mức Luân không chắc ông nói với nó hay nói với ai. "Người thường không vào đấy."
Đêm ngày thứ ba, có người tới bên vách liếp.
Gian bếp tối đen. Thằng Cò ngồi ngủ gục bên cạnh. Rồi tấm liếp bên vách khẽ động.
Luân mở hé mắt. Ở khe liếp có một cái bóng quỳ một gối, tì vào cây gậy tre. Có mùi rượu. Có mùi điếm hoang với mùi đất bãi tha ma.
Lão ăn mày.
Thằng Cò giật mình tỉnh, thấy cái bóng, há miệng ra định hét. Cái bóng giơ một ngón tay lên. Chỉ thế thôi. Thằng Cò ngậm miệng lại, ngồi cứng đơ như bị ai đóng đinh xuống đất, hai con mắt trợn trừng.
Lão ăn mày không nhìn thằng Cò. Lão thò một bàn tay qua khe liếp, đặt lên bụng Luân, đúng chỗ ông lang đã ấn buổi chiều. Bàn tay lão thô, chai sạn, và nóng. Không phải nóng như người sốt. Nóng như cái đáy nồi vừa nhấc khỏi bếp. Luân nằm im dưới bàn tay ấy, nghe cái nóng thấm xuống, gặp cái nặng như đá trong người nó, rồi chẳng biết đi đâu.
"Mày sang bên kia làm gì?" Lão hỏi. Giọng trầm, đục, nhỏ như tiếng gió lùa qua khe cửa.
Luân không biết mình muốn trả lời thật hay muốn nói dối. Lưỡi nó nặng như đeo đá. Nó há miệng ra, không có tiếng.
Lão ăn mày nhìn nó thêm một lúc. Rồi lão rụt tay về.
"Không chết được đâu." Lão nói.
Tấm liếp khép lại. Chỉ còn mùi rượu phảng phất trong gian bếp tối, rồi cũng tan.
Thằng Cò cúi xuống sát tai Luân, thì thào, giọng run. "Lão ấy đến làm gì?"
Luân không trả lời được. Thằng Cò không đứng dậy, không gọi ai. Nó chỉ ngồi đấy, hai tay ôm lấy đầu gối, mắt mở thao láo cho tới sáng.
Ngày thứ tư là khô.
Cổ họng nó như có ai đổ cát vào. Môi nứt nẻ tới rớm máu. Thằng Cò múc nước cho nó uống. Nước đổ vào miệng rồi như rơi vào cát, biến mất. Uống bao nhiêu cũng vẫn khát.
Ông lang ngồi bên cạnh, trên cái đòn kê bằng gỗ mít. Ông không bắt mạch nữa. Trên đùi ông có một tờ giấy bản, mấy dòng chữ viết vội. Luân chỉ đọc được mấy chữ đầu mỗi dòng, chữ nào cũng là chữ nó đã học. Nhiệt. Hàn. Thấp. Rồi dòng thứ tư, mực còn ướt. Táo.
Ông nhìn tờ giấy. Ông nhìn nó. Ông lại nhìn tờ giấy.
Ông lang mà nó biết thì lúc nào cũng biết. Biết bệnh gì thì bốc thuốc gì, biết một lạng rễ đáng mấy quan, biết một đứa trẻ nói dối là nói dối. Ông lang ở làng bên kia sông, cái lúc gỡ từng ngón tay người con gái ra khỏi vạt áo mình, tay không run.
Ông lang bây giờ ngồi trên cái đòn gỗ mít, và ông không biết. Không phải giận. Không phải sợ. Chỉ là không biết. Hai con mắt ông cứ nhìn nó như nhìn một trang sách viết bằng thứ chữ ông chưa từng học.
"Mai là gì đây." Ông nói, rất khẽ.
Luân không biết mai là gì. Nó khát.
Ngày thứ năm là nước.
Mồ hôi tuôn ra từ khắp người nó, như ai vặn một cái khăn ướt mà không bao giờ vặn hết nước. Thằng Cò thay rơm ba lần trong một buổi sáng. Nó thấy mình đang chảy, như cái chum sành nứt.
Ông lang không bốc thuốc nữa. Tờ giấy bản vẫn đặt trên đùi ông, dòng thứ năm để trống. Ông ngồi đấy từ sáng tới chiều, lâu lâu lấy khăn lau mồ hôi trên trán nó. Bát cơm trưa thằng Cò bưng vào, nguội ngắt trên nắp chạn tới chiều vẫn còn nguyên.
Chiều ngày thứ năm, mồ hôi thôi dần, như trận mưa rào tạnh. Luân nằm trên cái chiếu mới, người nhẹ bẫng, như có cơn gió thổi qua thì sẽ bay lên mà trôi đi mất.
Nó ngủ. Lần này là ngủ thật. Không lửa, không suối, không con lợn đứng trên bờ bên kia. Chỉ có bóng tối, êm, ấm, như nằm trong bụng mẹ, cái bụng mẹ mà nó không nhớ.
Sáng ngày thứ sáu, Luân mở mắt.
Nó nhìn thấy từng cái lá cọ trên mái, từng đường gân lá, rõ tới mức nó ngạc nhiên. Nó nghe thấy tiếng gà gáy ở nhà ông phó cả, tiếng chim sẻ lích chích trên giàn phơi thuốc, tiếng nước nhỏ giọt từ gáo xuống chum. Tất cả rõ ràng, sắc nét, như vừa có ai lau sạch lớp bụi phủ trên mọi thứ.
Nó đói. Đói như chưa bao giờ được ăn.
Dưới rốn nó vẫn còn cái ấm tròn trịa như quả trứng chim ấy. Cứ nằm im ở đấy, nhỏ hơn hôm đầu một chút, như một cái gì đã ngủ.
Thằng Cò ngồi ngủ gục bên cạnh, cái mặt hốc hác như vừa ốm dậy chứ chẳng phải người đi chăm người ốm. Luân chọc chọc vào đầu gối nó. Thằng Cò giật mình ngẩng lên. Mặt nó nhăn rúm lại như sắp khóc. Nhưng nó không khóc. Nó quệt tay lên miệng, rồi nói, giọng khàn đặc.
"Mày mà chết thì tao lại phải đi đào huyệt cho mày. Mà mày đào khéo hơn tao."
Luân cười. Môi nứt nẻ, cười một cái là rớm máu. Nó vẫn cười.
"Đói." Nó nói.
Thằng Cò bật dậy, chạy ra bếp.
Ông lang vào lúc Luân đang ăn bát cháo thứ hai.
Ông đứng ở ngưỡng cửa gian bếp, nhìn nó ăn. Mấy ngày qua ông gầy đi trông thấy, râu tóc bạc thêm như bị ai rắc một lớp tro.
"Thầy..."
"Ăn đi."
Luân ăn hết bát cháo, tới lúc đáy bát sạch trơn, rồi ngồi thẳng lên, hai tay đặt trên đầu gối, như những lúc ngồi trong lớp.
Ông lang bước vào, ngồi xuống cái đòn gỗ mít. Trong tay ông là quyển sổ đóng bằng giấy bản với cây bút lông.
"Bên kia thành đá." Ông nói.
Không phải hỏi.
"Dạ."
"Mấy lần?"
"Dạ... năm lần ạ."
"Rễ trong ngăn thứ ba. Cả năm lần."
"Dạ."
Ông lang gật đầu, chậm, như người ta gật đầu với một điều mình đã biết từ lâu.
"Ăn cái gì ở bên ấy?"
Luân mở miệng.
Nó nghĩ tới cái gò tròn không mọc cỏ. Nó nghĩ tới năm lần vái, và câu nó đã nói với cái gò trước khi ăn. Cả làng Lò Trấu vẫn gọi nó là thằng đào mả. Nếu nó nói nó đã ăn một thứ mọc trên mả người ta, cái mả không ai biết là mả ai, ở bên kia bức tường, thì ông lang sẽ nhìn nó bằng cái nhìn nào?
Nó ngậm miệng lại.
Ông lang đợi lâu. Luân cúi đầu, nhìn xuống cái bát cháo sạch trơn. Ông lang không hỏi lại.
Ông mở quyển sổ, lật tới trang có tên nó với tên thằng Cò. Những nét ngang gạch suốt nửa tháng qua, những cái cầu nhỏ bắc qua những con mương.
"Năm lần rễ." Ông lang nói. "Bốn mươi mốt vạch."
Ông chấm bút.
Luân tưởng ông sẽ bôi đi những nét ngang ấy. Ông không bôi. Ông viết xuống dưới cùng trang giấy những vạch dọc mới. Một vạch. Hai vạch. Ba vạch. Nét nào cũng thẳng, cũng đều, như những lần ông gạch. Luân đếm tới bốn mươi mốt thì ông vẫn chưa dừng.
"Năm ngày thuốc." Ông nói. "Năm vạch."
Bốn mươi sáu.
Ông giơ quyển sổ lên, quay trang giấy về phía Luân cho nó nhìn cho rõ. Nửa tháng trời gạch được bao nhiêu nét bằng rễ thường sơn, giờ mọc lại hết, lại còn dôi ra năm.
"Của đổi bằng lời nói dối thì tao không tính." Ông lang nói. Giọng ông không to, không gắt, phẳng lì như mặt nước ao. "Rễ thì tốt. Người đi hái thì ngu."
Ông gấp sổ lại. Ông không cầm cái thước. Ông không bắt nó nhịn cơm. Ông chỉ đứng dậy, đi ra tới ngưỡng cửa, rồi dừng lại, không quay đầu.
"Từ mai, chiều hái thuốc thì hái sau vườn, hái ven ao đình. Bước chân qua bãi tha ma một bước thì cút khỏi nhà tao."
Rồi ông đi.
Luân ngồi im rất lâu. Ông lang chưa bao giờ đánh nó mà nó thấy đau như lúc này. Cái thước gõ vào mu bàn tay thì đau ở mu bàn tay. Còn cái này thì nó không biết đau ở đâu. Nó chỉ biết là đau.
Thằng Cò ngồi ở góc bếp, cầm que cời than, nhìn nó. Thằng Cò cũng có tên trong trang sổ ấy.
"Tao xin lỗi." Luân nói.
Thằng Cò cời cời mấy hòn than.
"Lần sau đi đâu thì bảo tao." Nó nói, mắt vẫn nhìn vào bếp. "Để tao còn biết đường mà đi tìm."
"Ừ."
Đêm ấy, Luân ra giếng, nhặt sỏi.
Nó nhặt bốn mươi sáu hòn, hòn nào cũng vừa bằng đầu ngón tay cái, đếm hai lần cho chắc, bỏ vào vạt áo, mang vào gian bếp. Nó thò tay xuống dưới lớp rơm, lần ra cái hàng sỏi, rồi đặt từng hòn một vào nối tiếp hàng sỏi cũ. Hòn nào đặt xuống cũng nghe một tiếng cạch khẽ khi chạm vào hòn trước.
Hàng sỏi dài ra, dài gần bằng cái hôm trước khi nó mang về rổ rễ đầu tiên.
Tám ngày sau, Luân mới xuống điếm được.
Lão ăn mày ngồi trên sạp, bầu rượu trong tay, như chưa từng rời khỏi chỗ ấy.
"Còn sống à."
"Dạ."
Luân mở gói lá chuối, lấy nửa nắm cơm ra, đặt lên sạp. Nửa to.
Lão ăn mày cầm lên, cắn một miếng. Nhai. Rồi lão nhìn nó.
"Lần sau hái thì hái." Lão nói. "Đừng ở lâu."
Luân đứng im.
Lão không cấm. Nó nhận ra điều ấy chậm, như người ta nhận ra trời đã tối sau khi ngồi trong nhà quá lâu. Ông lang bảo bước qua bãi tha ma một bước thì cút. Còn lão ăn mày thì bảo lần sau hái thì hái.
Lão không nhắc lại cái đêm ghé khe liếp. Lão ăn hết nửa nắm cơm, tu một ngụm rượu, rồi gõ cây gậy tre xuống đất.
Cộc.
"Đứng tấn."
Luân đứng tấn. Nó thở bằng bụng, kéo hơi xuống, chậm. Hơi xuống tới dưới rốn thì chạm vào cái ấm tròn trịa ấy. Nó không động đậy. Nó chỉ nằm đấy, im lìm, nhỏ, tròn, như một quả trứng chưa nở.
Lão ăn mày ngồi trên sạp nhìn nó đứng. Nhìn suốt một nén hương, bầu rượu trong tay mà quên cả uống.
Lửa, băng, đá, cát, rồi mưa,
Giấy ghi bốn chữ, dòng chưa có lời.
Gò kia một quả chín rơi,
Cháu xin một tiếng, ấm nơi rốn nằm.
Được yêu thích bởi: Đại Hiệp Mèo
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.