Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 34: Cỗ Tiễn

Đăng: 05/10/2026 11:34 5,096 từ 4 lượt đọc

Sáng hôm con bé áo nâu đi, ông lang gọi Luân vào gian thuốc.

Ông không ngẩng lên. Ông đang gói thuốc, gói nào cũng vuông vắn như miếng bánh chưng nhỏ, buộc lạt, xếp vào thúng.

"Trên đình có bao nhiêu vạch than?"

"Dạ, mười một ạ."

Ông lang gật đầu. Mười một vạch than trên cột đình là mười một lần ông quân y nhìn một cái rồi đứng dậy đi tiếp. Đêm qua lại thêm hai người nữa, nhưng hai người ấy không có vạch, vì người lính cầm than cũng đã ngủ gục.

"Mười ba." Luân nói lại.

"Mười ba cái huyệt." Ông lang nói.

Luân đứng im.

"Qua bãi tha ma thì đi thẳng, không đứng lại." Ông lang nói, vẫn không ngẩng lên. Tay ông buộc một nút lạt, kéo chặt. "Chôn người thì được đứng lại."

---

Thằng Cò vác cuốc đi trước. Hai đứa lên Dốc Cửa Mả lúc sương chưa tan.

Bãi tha ma vẫn thế. Những ụ đất năm nào lún xuống, cỏ gà mọc trùm, mấy cái cọc tre cũ đã mục, chỉ còn trơ lại những mẩu đen đen cắm lổn nhổn trong cỏ. Bảy cái cọc có chữ nhân thì vẫn đứng đó, nét khắc đã thâm lại, xiêu vẹo, khập khiễng, như bảy người đi mãi mà chưa tới.

Ba nhà người làng phải đợi thầy cúng xem ngày, ngày tốt nhất là hôm nay, nên ba cái huyệt ấy họ hàng đã đào sẵn từ chiều qua. Hai mươi mốt người lính chết trên đường về thì Phong Sương Vệ đã tự chôn ngay hôm đầu, chung một cái huyệt dài ở chân dốc, đầu huyệt cắm một cây giáo gãy.

Người làng đã đứng chờ. Mẹ anh Sáng ngồi bệt dưới gốc cây gạo, có hai người đàn bà xóm Thượng đỡ hai bên. Chị Mộc bế con. Vợ ông Thuận đứng một mình, cái rổ vẫn khoác trên tay, trong rổ có ba nén hương.

Ba người làng chôn trước. Mẹ anh Sáng không khóc thành tiếng nữa. Bà ngồi bên miệng huyệt, bốc một nắm đất, bóp lại trong tay, bóp tới lúc đất chảy ra kẽ ngón, rồi mới thả xuống. Chị Mộc cầm tay đứa con, mở bàn tay bé xíu ấy ra, đặt vào một hòn đất nhỏ, rồi đưa tay con ra miệng huyệt cho nó thả xuống. Đứa bé không thả. Nó nắm chặt hòn đất trong tay, đưa lên miệng mút mút. Chị Mộc quay mặt đi.

Vợ ông Thuận thắp ba nén hương, cắm xuống đầu mả, vái ba vái. Rồi bà quay về. Cái rổ trên tay bà nhẹ tênh.

---

Mười ba cái huyệt cho lính thì không ai trong làng cầm cuốc. Đàn ông trong làng đứng xa xa, khoanh tay. Chôn người nhà thì họ chôn. Đào huyệt cho lính Thái Úy thì không ai muốn. Chỉ có mấy người lính Phong Sương Vệ còn đứng được, áo đen bạc màu, cầm mai cầm thuổng, đứng thành một hàng ở mép bãi. Họ nhìn thằng Cò và Luân. Không ai bảo ai.

Thằng Cò nhổ nước bọt vào hai lòng bàn tay, xoa xoa, rồi bổ nhát cuốc đầu tiên.

"Lần này tao đào thẳng." Nó nói.

---

Đất đỏ tháng Năm mềm, ẩm, mùi ngai ngái. Cuốc bổ xuống nghe phập, xắn lên nghe sột. Mười ba cái huyệt, đào từ lúc sương chưa tan tới lúc nắng lên đỉnh đầu. Mấy người lính đào cùng. Không ai nói câu nào. Chỉ có tiếng cuốc, tiếng mai, tiếng thở phì phò, và tiếng con chim chìa vôi lích chích đâu đó trên cành gạo.

Huyệt của thằng Cò lần này vuông vức. Nó đào xong cái nào thì đứng lên miệng huyệt, nheo một mắt ngắm từ đầu này sang đầu kia, thấy lệch thì nhảy xuống xắn thêm một nhát. Luân không hỏi. Thằng Cò cũng không nói.

---

Rồi tới mười ba người lính.

Không ai biết tên. Mười ba cái xác nằm trong mười ba manh chiếu, trên mười ba cái cáng. Áo đen như nhau, phù đồng trơn như nhau, mặt thì đã xám ngoét như nhau.

Luân quỳ xuống bên cái cáng đầu tiên. Nó nhìn cái cổ áo người chết. Ở đấy có một sợi dây da.

Nó ngẩng lên nhìn mấy người lính đứng ở mép bãi.

Một người lính gật đầu.

Luân luồn tay vào cổ áo người chết, kéo sợi dây da ra. Con đoản đao nằm trong lòng bàn tay nó, nguội. Nguội hơn đất. Nó lật con dao lại. Trên thân lưỡi có khắc ba chữ.

Nó đọc được chữ Văn ở giữa. Hai chữ kia nó không đọc được. Nó nhìn người lính đứng ở mép bãi.

"Sở." Người lính nói. Giọng khàn. "Lê Văn Sở."

Luân lật một góc chiếu. Nó nhận ra cái mặt ấy. Hôm qua nó băng cho người này, băng xong người này nắm lấy cổ tay nó, nắm chặt, không nói gì, rồi thả ra. Cột đình không có vạch than nào cho người này. Người này chết lúc đêm, lúc người cầm than đã ngủ gục.

Luân đắp góc chiếu lại.

Nó rút con dao quắm ở thắt lưng ra, dí mũi dao vào cái cọc tre mới vót, khắc.

Không phải chữ nhân. Lần này nó khắc tên.

---

Mười ba người lính, mười ba con đoản đao, mười ba cái tên. Chữ nào Luân không biết thì người lính ở mép bãi đọc cho nó, rồi nó hỏi nét, rồi nó khắc. Có chữ người lính cũng không biết. Người ấy lấy ngón tay vạch lên đất cho nó xem theo trí nhớ, vạch rồi xóa, xóa rồi vạch, nét trước nét sau lộn xộn, cuối cùng nhìn chữ trên thân dao mà vẽ lại y hệt như vẽ một cái hoa văn.

"Tao không biết chữ." Người lính nói, như xin lỗi. "Chữ của nó thì tao nhìn quen."

Khắc xong cái cọc nào, Luân trả con dao cho người lính. Người lính bỏ vào một cái túi vải. Túi vải nặng dần, mỗi lần bỏ thêm một con thì kêu lanh canh.

Ba cái cọc của người làng, người nhà mang tới đưa cho Luân, vì cả ba nhà không ai biết chữ. Luân khắc đủ họ đủ tên. Nguyễn Văn Sáng. Hoàng Văn Mộc. Đỗ Văn Thuận. Chữ Văn nó khắc được nhắm mắt, vì tên đàn ông nhà nghèo nào cũng có chữ Văn.

Nét của nó bây giờ không còn khập khiễng. Nét ngang đi chậm, nhưng thẳng.

---

Cắm xong cái cọc thứ mười sáu, Luân còn một cái cọc trong tay.

Nó đứng nhìn cái cọc ấy.

Người lính ở mép bãi bảo chú Lâm nằm trong cái huyệt dài ở chân dốc, lẫn với hai mươi người kia. Lính chôn vội hôm đầu, không ai kịp cắm cọc riêng cho ai. Cái huyệt dài ấy chỉ có một cây giáo gãy.

Nó ngồi xổm xuống, đặt cái cọc lên đùi, khắc hai chữ.

五林.

Chữ Ngũ, ông lang dạy nó từ hồi đếm vạch gạch. Chữ Lâm là hai cái cây đứng cạnh nhau, dễ. Chữ họ thì nó không biết viết. Chú Lâm họ Phạm, chính chú nói thế, hôm chú bảo ở quê người ta gọi chú là thằng Lâm con nhà đan sọt. Nhưng chữ Phạm thì ông lang chưa dạy.

Nó đi xuống chân dốc, cắm cái cọc xuống đầu cái huyệt dài, cạnh cây giáo gãy.

Rồi nó nghe tiếng chân sau lưng.

---

Cao Phong đứng đấy từ lúc nào, Luân không biết. Ông không mặc giáp, không đeo gươm. Tay trái ông cầm một vật nhỏ, sợi dây da quấn quanh mấy ngón tay.

Ông nhìn cái cọc. Nhìn hai chữ trên thân tre.

Rồi ông quỳ một gối xuống, cầm lấy cái cọc bằng tay phải, còn tay trái mở ra.

Con đoản đao nằm trong lòng bàn tay ông. Lần trước Luân cầm con dao này, nó ấm như một con chim non còn thở. Chuôi bọc da đã sờn. Lưỡi thẳng. Trên thân lưỡi có ba chữ.

Cao Phong dí mũi con dao ấy vào thân tre, ngay phía trên hai chữ Luân khắc. Ông khắc một chữ. Nét ông khắc sâu, gọn, không một nét thừa, như cái cách ông nói chuyện.

范.

Ông khắc xong, lau mũi dao vào vạt áo, rồi cất con dao vào trong áo, sát ngực trái.

Ông đứng dậy. Ông không nói gì với Luân. Ông nhìn cái cọc thêm một lúc, rồi quay đi xuống dốc.

Luân ngồi nhìn cái chữ mới. Chữ ấy nó chưa học. Nhưng nó biết chữ ấy đọc là gì.

---

Ba hôm sau, Phong Sương Vệ nhổ trại đi.

Không có trống, không có tiếng lách cách. Những người còn đi được thì đi, những người còn nằm cáng thì được khiêng lên xe bò thuê của nhà Bá Hộ. Họ đi về phía Nam, theo con đường đê, lúc trời chưa sáng, lúc cả làng còn ngủ, hoặc là giả vờ ngủ.

Luân đứng ở đầu làng, cạnh cái giếng. Nó đếm. Nó không đếm được hết, vì sương dày.

Con ngựa hồng đi giữa đoàn, không có ai cưỡi, yên cương đã tháo ra. Cao Phong đi đầu, dắt con ngựa bạch. Ông đi qua cái giếng mà không nhìn sang.

Luân đứng nhìn tới lúc đoàn người chỉ còn là một vệt xám trên con đê, rồi tan vào sương.

---

Nửa tháng sau, bảy xe gạo vào làng.

Xe nào cũng cắm một lá cờ vàng nhạt viền xanh, gió thổi phần phật. Trên cờ có ba chữ. Luân đọc được chữ Thượng. Hai chữ kia nó không đọc được, nhưng người làng thì ai cũng biết, vì người đánh xe đi tới đâu cũng rao lên tới đấy.

"Phủ Thượng Phụ phát gạo tuất cho dân! Nhà nào có người tử trận ra nhận!"

Bảy xe gạo dừng ở sân đình, chỗ mười hai cái chum sành vẫn xếp dọc hiên, chỗ hôm nào còn nằm la liệt những cái cáng. Bao gạo chất cao như núi, bao nào cũng căng tròn, bằng vải gai mới. Trẻ con bu quanh, đứa này thò tay vào khe bao bốc trộm một nhúm gạo, bị người đánh xe quát, cười khanh khách chạy mất.

Đi sau bảy xe gạo là một cái kiệu nhỏ, bốn người khiêng. Trong kiệu bước ra một người đàn ông mặt tròn, da trắng, áo the lam, tay cầm cái quạt giấy phe phẩy. Người đánh xe bảo đấy là quan bên Hộ Bộ, trên kinh xuống. Ông lý chạy ra, suýt vấp phải bậc thềm, quỳ sụp xuống vái như tế sao.

"Bẩm quan lớn..."

"Đứng lên, đứng lên." Viên quan Hộ Bộ nói. Giọng ông nhỏ nhẹ, êm ru, nghe như gió thoảng qua rèm. "Ta là người đi lo việc cho dân. Dân vái ta thì ta biết đứng vào đâu."

Người làng nhìn nhau. Chưa có ông quan nào nói với dân Lò Trấu như thế bao giờ.

---

Luân đứng cạnh một chồng bao gạo, nhìn mấy chữ in trên bao.

Mực đỏ, in bằng con dấu gỗ to bằng bàn tay, bao nào cũng có. Hai chữ. Chữ đầu nó biết, ông lang dạy nó hồi mùa đông, bảo chữ này là cái xe có mái che bên trên, cái xe ấy không chở hàng, chở người đi đánh nhau.

軍.

Chữ thứ hai có bộ mễ, là gạo.

糧.

Quân lương. Gạo của lính.

Luân nhìn chữ ấy, rồi nhìn lá cờ vàng nhạt viền xanh cắm trên xe. Nó nhớ mười hai cái chum sành trống rỗng trên hiên đình cái hôm Phong Sương Vệ về, nhớ những người lính môi nứt nẻ ngồi bệt dưới hiên, nhớ ông quân y bảo cháo phải nấu loãng vì gạo chỉ còn đủ ba bữa.

Nó không hiểu. Nó chỉ thấy có một cái gì không khớp, như cái nút thắt buộc ra ngoài.

---

Buổi chiều, ở đình có lễ tế.

Mâm cỗ bày kín sân, lợn luộc, xôi gấc, gà trống thiến, oản, chuối. Trên hương án đặt một tờ giấy hồng điều dài, ghi tên những người chết. Không phải chỉ ba người Lò Trấu. Tên người các làng quanh doanh cũng có, dài tới mấy chục cái tên.

Viên quan Hộ Bộ đứng trước hương án, hai tay nâng một tờ văn tế. Ông đọc. Giọng ông lúc nãy nhỏ nhẹ, bây giờ vang lên, ngân nga, trầm bổng, có lúc kéo dài như tiếng chuông chùa lúc chạng vạng, có lúc nghẹn lại như người sắp khóc.

"Hỡi ôi!

Lửa biên chưa tắt, khói đã phủ đầu non; trống trận vừa im, chiếu đã che mặt người.

Nhớ linh xưa:

Tay quen cầm cuốc, nào đã từng nắm giáo phất cờ; vai quen gánh lúa, đâu có biết mang cung đeo nỏ.

Một tờ lệnh xuống, bỏ mạ non chưa cấy, bỏ lúa chín chưa gặt, bỏ mẹ già tựa cửa ngóng trông, bỏ con dại đỏ hỏn trong nôi.

Ôi! Kẻ ở trên đếm quân như đếm thẻ, gãy một thẻ thì rút thẻ khác; người ở dưới mất một người như mất một cây cột, cột gãy thì nhà nghiêng.

Thương thay! Sống thì lấy chiếu làm giường ngủ đỡ ngoài biên, chết thì lấy chiếu làm áo quàn về cố quận..."

Mẹ anh Sáng òa lên khóc. Rồi mấy người đàn bà khác khóc theo. Rồi cả sân đình sụt sùi.

"Đúng quá." Có người nói nhỏ. "Người ta nói đúng quá."

Luân đứng ở góc sân, nghe câu kẻ ở trên đếm quân như đếm thẻ.

Nó nhớ cái hôm trên bãi tập, sáu người lính rách tướp đi về, người đi đầu giơ gói vải lên. Đi bảy, về sáu. Nó nhớ chú Lâm cầm con dao nguội trong lòng bàn tay, lâu, như người ta cân một nắm gạo, rồi khép bàn tay lại.

Người ấy không đếm thẻ.

Nhưng Luân không nói. Cả sân đình đang khóc, và cái người đọc văn tế đọc hay quá.

---

Đọc văn tế xong thì phát tuất.

Nhà nào có người chết được ba quan tiền, hai bao gạo. Viên thơ lại ngồi sau cái án gỗ, mở cái hòm, đọc tên, đếm tiền, người nhà lên điểm chỉ vào sổ. Mẹ anh Sáng run run ấn ngón tay cái vào mực, ấn lên giấy, ấn lệch ra ngoài ô, thơ lại cũng không bắt ấn lại. Chị Mộc nhận tiền, bỏ vào cái túi vải đeo cổ đứa con, không nói gì.

Vợ ông Thuận nhận tiền. Bà cúi đầu vái viên quan một vái, rồi quay đi, không nhìn lại.

Thằng Cò đứng cạnh Luân, khoanh tay.

"Năm ngoái Bá Hộ nộp năm quan là cả nhà ông ấy khỏi đi phu." Nó nói, nhỏ, chỉ đủ Luân nghe. "Năm nay anh Mộc chết, được ba quan."

Luân quay sang nhìn nó.

"Tao đi chợ huyện mãi." Thằng Cò nói. "Tao biết giá."

---

Mẹ thằng Nhỡ chen lên trước án. Thằng Nhỡ đứng sau lưng mẹ, ống tay áo trái rỗng không, buộc túm lại nhét vào thắt lưng, đầu cúi gằm.

"Bẩm quan... con tôi đi lính về..."

Viên thơ lại lật sổ. Lật một lượt. Lật thêm một lượt.

"Nguyễn Văn Nhỡ." Hắn đọc. "Còn sống."

"Dạ, còn sống. Nhưng cái tay..."

"Lệ tuất thì chỉ tuất người chết." Viên thơ lại nói, không ngẩng lên. "Sổ không có mục ấy."

Mẹ thằng Nhỡ đứng đấy. Bà nhìn cái sổ, nhìn cái hòm tiền, nhìn viên thơ lại. Rồi bà quay lại, đưa tay vuốt vuốt cái vai áo còn lại của con.

"Thôi. Về con." Bà nói. "Còn sống là được rồi."

Thằng Nhỡ đi theo mẹ. Ống tay áo rỗng tuột ra khỏi thắt lưng, đung đưa theo mỗi bước chân.

---

Tối ấy cả làng ăn cỗ.

Sân đình thắp đuốc sáng trưng. Người ngồi kín chiếu, kín cả ngõ. Lò mổ nhà Hợi mổ lợn từ chiều, sáu con, tiết đựng đầy mấy cái chậu thau. Rượu bà hàng rượu đong không kịp. Ông lý, ông trùm, ông Bá Hộ ngồi mâm trên cùng với viên quan Hộ Bộ, nâng chén mời lấy mời để.

Rượu vào rồi thì người ta nói to.

"Thái Úy thì bắt đi, Thượng Phụ thì mang về."

"Một đằng mặt sắt, một đằng mặt Bụt."

"Trời có mắt đấy. Người làm quan mà biết thương dân thì trời thương lại."

"Nghe đâu cái gạo này là ông Thượng Phụ xin mãi trên triều mới được, Thái Úy còn không cho."

Viên quan Hộ Bộ nghe hết. Ông không nói gì. Ông cười hiền, phe phẩy cái quạt giấy, gắp một miếng thịt lợn đặt vào bát ông lý.

Rượu được ba tuần thì viên quan đứng dậy. Ông gõ cái quạt giấy vào miệng chén, keng keng mấy tiếng. Sân đình im dần.

"Còn một việc, phủ Thượng Phụ dặn ta nói với bà con." Ông nói. Giọng vẫn nhỏ nhẹ, mà vang khắp sân. "Làng quanh biên, người lớn đi phu đi lính, trẻ con thì chăn trâu cắt cỏ, chữ không biết, võ không hay. Thượng Phụ thương. Trên huyện đang dựng trường. Dựng xong thì trẻ con các làng từ mười tuổi trở lên, trai gái gì cũng được, đứa nào có tên trong sổ hộ thì được lên huyện học. Đứa ham chữ thì học chữ. Đứa khỏe thì học võ. Ăn ở, giấy bút, phủ Thượng Phụ lo cả."

Cả sân đình lặng đi một nhịp. Rồi ồ lên như pháo nổ.

Có bà mẹ ôm lấy con mà khóc. Có ông bố đứng bật dậy, quay về phía mâm trên mà vái, vái mãi không thôi. Mẹ thằng Nhỡ ngồi mâm dưới, tay vẫn cầm đũa, nhìn trân trân cái ống tay áo rỗng của con.

Thằng Bống giật giật tay áo Luân.

"Anh Luân! Lên huyện học!" Nó nói, mắt sáng rực. "Em học khắc chữ làm biển!"

Thằng Cò không reo. Nó nhìn viên quan một lúc lâu.

"Học võ thì có được ăn no không?" Nó hỏi, không hỏi ai.

Luân không nói gì. Nó nghe câu đứa nào có tên trong sổ hộ. Nó nhớ quyển sổ mỏng dính ông lý giở ra hôm bắt phu, đọc từng tên một. Nó chưa bao giờ nghe ai đọc tên nó từ một quyển sổ nào.

Luân ngồi ở chiếu cuối với thằng Cò và thằng Bống. Nó ăn. Thịt lợn luộc chấm muối, xôi gấc đỏ au, ngon. Nó ăn mà không thấy ngon.

Ở góc sân, thằng Hợi đứng bên cái chậu tiết, tay còn cầm con dao mổ, áo không mặc, người đỏ lựng dưới ánh đuốc. Nó không ăn cỗ. Nó nhìn thằng Nhỡ ngồi mâm dưới, đang cúi xuống cố gắp miếng xôi bằng một tay. Nhìn cái ống tay áo rỗng.

Nó nhìn mãi. Lúc viên quan nói tới câu đứa khỏe thì học võ, bàn tay trái cầm con dao mổ của nó siết chặt lại.

Rồi bố nó quát một tiếng từ phía lò mổ. Nó quay người đi, không ngoảnh lại.

---

Sáng hôm sau, hai người thơ lại vác cuộn dây đo đi khắp làng.

Họ đo ruộng. Đo từng thửa, từ bờ này sang bờ kia, một người cầm đầu dây, một người cầm cuối dây, ông lý lẽo đẽo theo sau chỉ trỏ ruộng nhà ai. Đo xong thửa nào thì một người ngồi xổm xuống bờ ruộng, giở cuốn sổ ra, vẽ vẽ ghi ghi.

"Để lập lại sổ điền, sổ hộ." Ông lý giải thích với ai hỏi. "Sổ cũ lụt trôi mất rồi. Có sổ mới thì tiền tuất tới đúng tay nhà mình, không lọt vào túi đứa nào."

Ông lý nói câu ấy mà mặt không đỏ.

Chiều, hai người thơ lại vào nhà ông lang. Ông lang pha nước mời, rồi ngồi ở hiên, không nói gì. Người thơ lại già giở cuốn sổ, hỏi, người thơ lại trẻ ghi.

"Chủ hộ thì sổ cũ còn tên rồi." Người thơ lại già nói, đọc lướt, rồi gật gù. "Trong nhà còn ai?"

"Hai đứa." Ông lang nói.

"Tên?"

"Thằng Hạc. Con nhà Nguyễn ở xóm Hạ. U nó mất năm dịch."

Người thơ lại trẻ ghi. Thằng Cò đứng ở bậc bếp, nghe cái tên chữ của mình, cái tên chẳng ai gọi bao giờ, thì gãi gáy.

"Còn thằng này?"

"Minh Luân."

"Họ gì? Con nhà ai? Quê ở đâu? Sinh năm nào?"

Ông lang không trả lời. Ông lý đứng sau lưng hai người thơ lại, vội chen vào.

"Bẩm, thằng này là thằng đào mả. Trẻ vô thừa nhận, lão mõ vớt dưới sông lên từ hồi nó còn ẵm ngửa, chẳng ai biết nó ở đâu ra."

Người thơ lại già đặt bút xuống.

"Không cha không mẹ, không họ không quê, không năm sinh thì không ghi được." Hắn nói. Rồi hắn nhìn ông lang. "Ông nhận nó làm con nuôi thì ghi vào hộ ông."

Ông lang nhìn người thơ lại. Nhìn lâu. Rồi ông nhìn sang Luân đang đứng ở góc sân, cái chổi tre còn cầm trong tay.

"Thôi." Ông nói.

Người thơ lại nhún vai, gấp sổ lại. Hai người đi. Ông lý đi theo, ngoái lại liếc Luân một cái.

Tối ấy thằng Cò nằm trong ổ rơm, trằn trọc mãi.

"Ông ấy không nhận mày à?" Nó hỏi, trong bóng tối.

Luân nằm im một lúc.

"Ông ấy có nhận." Nó nói. "Tao ở đây còn gì."

Thằng Cò không hỏi nữa.

Luân đeo giỏ đi hái thuốc. Nó đi theo hai người thơ lại một quãng xa, không cố ý, chỉ vì họ đi cùng đường với nó.

Họ đo hết ruộng thì đo sang bãi tha ma. Đo cả những hàng mả mới, mười bảy cái cọc tre còn xanh. Rồi họ đi lên. Qua cây gạo già. Lên đồi tranh. Họ đo con đường mòn dẫn lên đồi sim, con đường mòn dẫn về phía bức tường thành đá.

Ở đấy không có ruộng.

Người thơ lại cầm đầu dây quay lại, thấy Luân. Hắn lau mồ hôi trán.

"Này thằng bé." Hắn gọi. "Mày hay lên đây à?"

"Dạ."

"Đường lên rừng chỉ có lối ấy?"

Luân đứng im.

Câu ấy nó nghe rồi. Nghe ở giếng đình, hôm sương mù dày, từ một người ngồi trên lưng con ngựa bạch nhìn lên cây gạo. Người ấy hỏi đúng câu ấy. Không thừa một chữ, không thiếu một chữ.

"Dạ." Luân nói. "Lối người đi thì có lối ấy ạ."

Người thơ lại gật gù, ghi vào sổ. Hắn không hỏi thêm.

Luân đi tiếp lên đồi sim. Nó không nói dối. Nó chỉ không nói hết. Những lối con lợn lòi đi, lối con nai đi, lối nó bò qua những bụi mây gai để sang bên kia tường thành, những lối ấy không phải lối người đi.

Nó không biết vì sao nó không nói hết.

---

Chiều, Luân vác về một bao gạo. Nhà ông lang không có người đi lính, nhưng viên quan Hộ Bộ bảo gạo thừa thì chia cho mỗi nhà trong làng một ít, "gọi là lộc triều đình".

Nó đặt bao gạo xuống hiên. Mặt bao quay lên, hai chữ đỏ.

Ông lang đang ngồi sàng thuốc. Ông liếc sang cái bao. Tay ông ngừng lại, cái sàng đứng im giữa không trung một lúc.

Luân chờ ông hỏi. Ông không hỏi.

"Đổ vào chum." Ông nói.

"Thầy..." Luân nói. "Gạo này là gạo của lính ạ."

"Ừ."

"Thế sao lại..."

"Gạo thì không có tội." Ông lang nói. Cái sàng lại lắc, xạch, xạch. "Đổ vào chum. Ăn."

---

Tối, Luân mang một lá chuối gói xôi với mấy miếng thịt lợn ra điếm.

Lão ăn mày ngồi ở ngưỡng cửa, lưng dựa khung gỗ, như mọi tối. Tiếng cỗ ở đình lại vọng sang, tối thứ hai, tiếng cười nói, tiếng chạm chén, tiếng ai hát nghêu ngao.

Luân đưa gói lá chuối. Lão nhìn gói ấy. Không cầm.

"Cỗ đình à?"

"Dạ."

Lão ăn mày ngẩng lên, nhìn về phía ánh đuốc ở sân đình. Nhìn rất lâu.

"Cỗ này không phải cỗ đám." Lão nói.

Luân đứng chờ. Lão không nói tiếp. Nó hỏi.

"Thế là cỗ gì ạ?"

Lão ăn mày cầm bầu rượu lên, tu một ngụm. Đặt xuống.

"Cỗ tiễn."

"Tiễn ai ạ? Người chết thì chôn rồi."

Lão không trả lời. Lão đẩy gói lá chuối trả lại vào tay Luân.

"Mày ăn đi." Lão nói. "Tao không ăn cỗ tiễn."

Rồi lão nhắm mắt lại.

Luân ngồi xuống bậc điếm, mở gói lá chuối ra. Xôi đã nguội. Nó ăn một miếng. Bên kia bãi tha ma, mười sáu cái cọc tre đứng trong bóng tối, và dưới chân dốc, cạnh cây giáo gãy, còn một cái cọc nữa. Bên này, tiếng cỗ ở đình vẫn râm ran, vang xa, như người ta đang mừng một cái gì.

---

*Đêm ấy, cách Lò Trấu ba ngày đường, ở khúc sông thứ hai trong ba khúc sông có thủy áp, một chiếc lâu thuyền đậu giữa dòng.*

Trăng hạ huyền treo lơ lửng trên đầu con đê. Sương sông dâng lên từ mặt nước, trắng đục, lững lờ trôi, phủ kín hai bờ lau sậy, phủ kín cả những cánh cửa gỗ lim cao ngất của thủy áp phía thượng lưu, chỉ để lộ ra những cái trụ đá đen sừng sững như vai những người khổng lồ đứng giữa dòng.

Chiếc lâu thuyền ba tầng, mái cong như đuôi chim phượng, mạn sơn son thếp vàng, treo mười hai ngọn đèn lồng lụa đỏ, ánh đèn loang loáng trên mặt nước đen như những vệt son. Trên tầng cao nhất, sau bức rèm trúc, có người ngồi. Trước mặt người ấy là một bàn cờ gỗ trắc, quân cờ bằng ngà.

Quanh chiếc thuyền, suốt cả một khúc sông, nửa dặm đổ lại, sương không vào được.

Không có gió nào thổi. Không có lửa nào xua. Sương cứ trôi tới, trôi tới mép cái vòng vô hình ấy thì dừng lại, dựng đứng lên thành một bức vách trắng mịn, tròn trịa, như có ai úp một cái nón trắng lên cả khúc sông. Bên trong vành nón ấy, mặt nước phẳng lặng như tờ, soi rõ từng ngọn đèn lồng.

Trên bờ đê, một người đi tới.

Người ấy mặc áo đen, không đội mũ, không mang theo tùy tùng. Ông dừng lại ở mép nước, nhìn cái vòng không có sương. Rồi ông bước xuống.

Chân ông đặt lên mặt sông. Nước không lún. Chỉ có một vòng sóng nhỏ loang ra từ gót chân ông, tròn và mảnh như vòng sóng khi người ta thả một chiếc lá. Bước thứ hai. Vòng sóng thứ hai. Ông đi trên mặt nước chậm rãi, thong thả, như người đi trên sân gạch nhà mình, qua ba mươi trượng sông tới mạn thuyền.

Lúc ông bước qua mép cái vòng không có sương, sương bên ngoài khẽ rùng mình. Trong một thoáng, ở chỗ ấy hiện ra một đường ranh mảnh như sợi tóc, một bên sương dạt ra, một bên sương dồn lại, như hai dòng nước một nóng một lạnh chạm vào nhau mà không chịu hòa.

Rồi đường ranh ấy tan đi.

Ông bước lên mạn thuyền. Chiếc lâu thuyền ba tầng không chòng chành lấy một li.

---

"Thái Úy tới muộn." Trịnh Gia Mưu nói, không ngẩng lên khỏi bàn cờ. "Tôi đã đi trước một nước."

Đặng Tiến Minh ngồi xuống phía bên kia bàn cờ. Ông nhìn bàn cờ. Con pháo bên phía Trịnh đã vào giữa bàn. Pháo đầu. Ông lên mã, không nghĩ lâu.

"Tôi nghe tin ông cho người lên Lò Trấu." Đặng nói.

"Tôi cho người lên chôn mấy người lính của Thái Úy." Trịnh đẩy con tốt lên một bước. "Lính của Thái Úy, Thái Úy lo lúc sống. Tôi lo lúc chết. Chia nhau thế cho công bằng."

"Lính của tôi thì chôn xong từ nửa tháng trước rồi."

"Thế thì tôi lo cho người sống." Trịnh cười, cái cười không lộ răng. "Người sống thì cần cỗ hơn người chết."

"Ông lấy gạo của lính mà làm cỗ cho dân khóc lính."

"Gạo nào mà chẳng là gạo của dân." Trịnh nhấp một ngụm trà. Nước trà trong chén không gợn một vòng sóng nào, dù thuyền đang đậu giữa dòng. "Mà dân quê mình, có cỗ mới có đám. Có đám mới có người nhớ."

Đặng Tiến Minh cầm con xe lên, đặt xuống.

"Hay có cỗ thì mới có người quên."

Trịnh không đáp. Ông nhìn bàn cờ, lâu như người ta nhìn một thửa ruộng đang ngả vàng.

"Thái Úy đánh cờ thì quý con xe." Trịnh nói. "Xe đi ngang đi dọc, một nước chạy từ đầu bàn tới cuối bàn, oai lắm." Ông đẩy con tốt qua vạch sông. Tiếng ngà gõ lên gỗ trắc nghe cạch một tiếng, nhỏ, gọn, rõ. "Tôi thì quý con tốt. Tốt chưa qua sông thì chỉ biết đi thẳng. Tốt qua sông rồi thì không lùi được nữa, nhưng đi được cả ngang."

"Tốt qua sông thì vẫn là tốt."

"Vâng." Trịnh Gia Mưu cười. "Có điều ván nào cũng thế, về cuối thì con tướng toàn chết vì một con tốt."

Đặng Tiến Minh không nhìn bàn cờ nữa. Ông nhìn ra ngoài mạn thuyền, về phía thượng lưu, nơi những cánh cửa lim của thủy áp đang đóng im lìm trong sương.

"Cửa thủy áp đóng thêm một tháng," ông nói, "thì thuyền buôn khúc dưới nằm cạn giữa lòng sông cả tháng."

Trịnh Gia Mưu đặt chén trà xuống. Lần này, trong chén, nước trà khẽ gợn một vòng.

"Thái Úy nói phải." Ông nói, giọng vẫn êm như cũ. "Nước thì phải có người giữ cửa."

Ngoài mạn thuyền, sông đứng lặng. Mười hai ngọn đèn lồng đỏ soi xuống mặt nước, không ngọn nào lay.

Hai người ngồi đánh tiếp ván cờ tới lúc gà gáy. Không ai nhắc tới Lò Trấu thêm lần nào nữa.

---

Sân đình cỗ đỏ đuốc hồng,

Văn ai tế khéo, khóc chồng khóc con.

Dây đo quấn lối đồi non,

Cỗ này tiễn kẻ chết, còn tiễn ai?

0