Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 26: Chim Sớ

Đăng: 04/10/2026 10:17 2,361 từ 10 lượt đọc

Trạm Sớ nằm ngoài cửa Bắc thành Phượng Thê, cách chân thành chừng ba tầm tên bắn.

Không có biển, không có cờ. Chỉ là một cái nhà sàn thấp lợp cỏ gianh, dựng trên gò đất giữa đồng, xung quanh là ruộng chiêm đang ngả vàng. Người đi đường qua lại, tưởng là chòi canh lúa của nhà ai. Dưới gầm sàn có mấy cái lồng tre đan mắt thưa. Chỉ một lồng có chim, con chim cuộn mình ngủ, lông chàm không một chiếc trắng. Trên sàn, chỗ gần cửa sổ, treo một chùm nhạc đồng, mười hai quả nhạc nhỏ bằng đầu ngón tay cái, buộc vào một cái vòng mây.

Chim sớ không vào được thành. Tường thành Phượng Thê đã trấn yểm từ đời vua trước, bùa chôn dưới chân từng cửa, lại thêm trong thành có những người mà hơi thở của họ nặng tới mức một con chim đi qua cõi ma chẳng dám đáp xuống gần. Thế nên đường sớ của phủ Thái Úy tới đây là hết. Từ đây vào thành, thư đi bằng chân người.

Đặng Tiến Minh không thích thư đi bằng chân người. Chân người thì phải qua cửa. Qua cửa thì có người gác. Người gác thì có người nuôi.

Cho nên có những buổi sáng, ông tự ra đây mà đợi.

Hôm ấy trời chưa rạng. Sương đồng trắng đục, mặt ruộng phẳng lì như ai trải một tấm vải màn. Ông ngồi trên sàn, lưng thẳng, hai tay đặt trên đầu gối, không nói gì. Hai người lính đứng dưới chân cầu thang, không dám ngáp.

Bà Then ngồi xếp bằng cạnh cửa sổ.

Bà người Nùng, họ Nông, tuổi đã ngoài năm mươi, mặc áo chàm dài tới gối, cài khuy bên nách, đầu vấn khăn chàm. Trên cổ tay bà đeo một chuỗi hạt gỗ đen bóng. Bà không nói tiếng Kinh nhiều, nói ra thì chữ nào cũng nặng trịch, rơi xuống sàn như hòn sỏi. Cả buổi, bà chỉ ngồi nhìn cái chùm nhạc.

Rồi chùm nhạc động.

Không có gió. Mười hai quả nhạc đồng cùng rung lên một lượt, leng keng, leng keng, khe khẽ như tiếng nước mưa rơi trên lá chuối. Bà Then ngồi thẳng dậy. Bà lấy trong túi vải ra một nắm gạo, rải lên bậu cửa sổ, miệng lầm rầm một câu hát bằng tiếng Nùng, giọng trầm và ngân, câu hát cứ lượn đi lượn lại như con suối chảy qua đá.

Ngoài cửa sổ, giữa khoảng không trước mặt, không khí sẫm lại thành một vệt. Vệt ấy màu chàm, loang ra rồi thu lại, như giọt mực nhỏ vào bát nước mà chảy ngược. Rồi nó thành hình. Một cái đầu nhỏ. Một cái đuôi chẻ. Hai cánh cụp.

Con chim sớ đậu xuống bậu cửa, mổ một hạt gạo.

Nó nhỏ cỡ con chim én, lông chàm từ đầu tới đuôi, óng lên dưới ánh đèn như tấm áo mới nhuộm. Chỉ có ở cổ, trong đám lông cứng dựng lên như cái bờm, có hai chiếc đã trắng. Trắng bệch, trắng như tóc người già.

Bà Then đưa tay vuốt hai chiếc lông trắng ấy. Bà vuốt lâu, mắt nhắm lại.

"Nó gặp cái gì." Bà nói. "Trên đường."

"Cái gì?" Đặng Tiến Minh hỏi.

Bà Then lắc đầu. Bà không biết, hay bà không muốn nói, ông không đoán được. Bà tháo cái ống tre bé bằng ngón tay út buộc ở chân chim ra, hai tay dâng lên.

Miệng ống tre niêm một mảnh giấy bản vẽ bùa đỏ, nét bùa ngoằn ngoèo như rễ cây. Bà Then đặt ngón tay lên, hát một câu, mảnh giấy tự bong ra. Cuộn sớ bên trong bé bằng ngón tay út.

Chữ trong sớ to nhỏ chen nhau, dòng sau đè lên mép dòng trước, nét nào cũng đè mực xuống thật mạnh, chỗ thì đậm tới mức thủng giấy, chỗ thì nét ngang chưa đi hết đã nhấc bút. Chữ của một người cầm giáo từ năm mười bốn tuổi, hai mươi tuổi mới học viết cái tên mình. Đặng Tiến Minh nhìn nét chữ ấy, và ông thấy Phạm Ngũ Lâm ngồi cúi gập người trên một cái hòm gỗ trong lán, cầm cây bút lông như cầm cái dùi, mồ hôi nhỏ xuống giấy.

Sớ viết ngắn.

Tốp trinh sát đi bảy về sáu. Người chết là lính Phong Sương, dao đã mang về. Phía bên kia tường, ngựa lạ lẫn trong quân Mạc, cao hơn ngựa ta một cái đầu, người cưỡi tóc tết. Bắc Trấn mười lăm ngày không có một người chạy về. Chim sớ thả sang phía doanh Bắc Trấn ba con, về hai, cả hai trắng lông cổ. Con thứ ba không về. Diêu Hoa Quốc Nữ ngày nào cũng đòi đi tìm thầy, đã hai lần trốn khỏi lán. Xin thêm ba doanh.

Ông đọc hai lượt. Rồi ông cuộn tờ sớ lại, cầm trong tay, nhìn ra cánh đồng.

Ba doanh. Ông không có ba doanh.

Quân thì có. Lương thì không. Lương nằm trong kho Hộ Bộ, mà chìa khóa kho Hộ Bộ thì nằm trong tay áo phủ Thượng Phụ. Xin một doanh thì phủ Thượng Phụ tâu lên rằng quốc khố còn đang hụt vì xá thuế năm lũ. Xin ba doanh thì phủ Thượng Phụ tâu lên rằng Thái Úy lấy cớ Bắc Trấn mất tin mà dồn quân lên biên, e Hạo Nguyên sinh nghi. Câu nào cũng đúng. Chữ nào cũng không hở.

Mà dù có quân, ông cũng không có người để dẫn.

Ông đếm trong đầu, như người nông dân đếm trâu trong chuồng lúc trời sắp bão. Đông Trấn, Ngô Yết Hải, đang giữ mặt biển, Long Kình mà thấy mặt biển trống một đêm thì đêm ấy có thuyền cập bến. Tây Trấn, Đặng Kiều, còn ở mạn Thánh Vực, chưa rút được. Nam Trấn giữ Gianh Hải, Lĩnh Nam nằm im mấy chục năm, nhưng chẳng ai tin là nó nằm im thật. Bắc Trấn thì mười lăm ngày không một tin.

Còn trong thành.

Trong thành có Trịnh Gia Mưu. Người ta chỉ biết Thượng Phụ là một ông quan văn, đọc sách thánh hiền, viết chữ đẹp, nói năng mềm mỏng. Ít người biết cái học của nhà Nho, học tới cùng, thì cũng là một đường tu. Cái chính khí người ta hay nói trong sách, ở Trịnh Gia Mưu không phải là chữ. Ông ta đã tới Trấn Quốc từ lâu. Sau lưng ông ta lại có hai người hộ pháp, cũng Trấn Quốc cả hai, cùng một đám môn khách Hoá Thành đông như kiến cỏ. Rồi còn Cấm Quân, quân của vua, không thuộc Thái Úy, không thuộc Thượng Phụ, mà viên đô chỉ huy Cấm Quân cũng đã Trấn Quốc.

Bàn cân trong kinh thành bây giờ đang đứng thăng bằng như cái cán cân tiểu ly của người bán thuốc bắc, nhích một hạt thóc cũng lệch. Ông mà gọi một Trấn tướng rời chỗ đi tìm Bắc Trấn, thì bên này bàn cân mất một quả. Còn Bắc Trấn mà mất thật, thì quả ấy đã mất rồi.

Đặng Tiến Minh không nghĩ tiếp chữ "mất thật". Ông gác nó sang một bên, như người ta gác cái cuốc vào góc nhà, biết là mai thế nào cũng phải cầm lên.

"Giấy." Ông nói.

Người lính dưới chân cầu thang chạy lên, dâng một tờ giấy bản rọc sẵn thành dải nhỏ, một thỏi mực, một cây bút lông ngọn nhỏ như que tăm.

Ông viết. Chữ ông nhỏ, thẳng, không một nét thừa.

Không có thêm doanh nào. Mỗi làng quanh doanh lấy năm suất, đàn ông từ mười sáu tới bốn mươi lăm. Lấy người đã đi phu trước, người đã đứng được giữa nước lũ thì không phải mạ non. Không nhận tiền thế. Không được đi tìm Bắc Trấn. Giữ tường. Giữ Diêu Hoa Quốc Nữ trong doanh, bằng mọi giá.

Ông ngừng bút. Ông nhìn dòng chữ cuối một lúc lâu.

Rồi ông viết thêm một dòng nữa, bên dưới, nhỏ hơn. Viết xong, ông đọc lại, gấp mép giấy lại che dòng ấy đi, rồi mới cuộn cả tờ lại.

Bà Then nhận cuộn sớ, nhét vào ống tre, dán bùa lên miệng ống. Bà sai người lính xuống gầm sàn mang cái lồng lên, lấy ra con chim đang ngủ. Bà áp cái ống tre vào chân nó, buộc lại bằng sợi chỉ đỏ, rồi ôm con chim vào lòng, ghé miệng sát đầu nó mà hát.

Đúng lúc ấy, hai người lính dưới chân cầu thang cùng quay đầu nhìn ra phía cửa thành.

Có người đang đi trên bờ ruộng tới.

Một người mặc áo thâm dài, khăn lượt đen, tay chắp sau lưng, đi thong thả như người đi dạo buổi sớm. Đằng sau người ấy, cách xa chừng mười bước, có hai người khác. Một ông già gầy như cây sào, cầm một cái quạt giấy gấp kín. Một người cao lớn, mặt vuông, hai bàn tay giấu trong ống tay áo rộng. Hai người ấy dừng lại ở đầu bờ ruộng, không đi tiếp. Họ đứng đấy thôi, không làm gì. Vậy mà hai người lính của Đặng Tiến Minh dưới chân cầu thang tự nhiên thở gấp, lưng áo ướt đẫm mồ hôi, dù sương sớm còn lạnh.

Người mặc áo thâm đi một mình tới chân nhà sàn.

Đường bờ ruộng đêm qua mưa, lầy lội, bùn ngập mắt cá. Người ấy đi qua mà đôi giày vải trắng đế vẫn trắng tinh, không dính một vết bùn. Vạt áo thâm quệt qua bụi cỏ ướt mà không ướt. Người ngoài trông vào thì bảo đấy đúng là người quân tử, như câu ca dao người ta vẫn hát về hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Đặng Tiến Minh nhìn vào thì biết đấy là khí Trấn Quốc tỏa ra dưới gót giày, tỏa ra vừa đủ một lớp mỏng như sương, để cho người ta nhìn thấy.

Trịnh Gia Mưu bước lên cầu thang, chắp tay vái.

"Thái Úy dậy sớm." Ông ta nói. Giọng mềm, ấm, tròn chữ, như người đọc văn tế. "Tôi đi dạo ngoài thành, thấy đèn trạm còn sáng, ghé vào thăm."

"Thượng Phụ cũng dậy sớm."

"Tuổi già ngủ ít." Trịnh Gia Mưu cười. Cái cười không lộ răng.

Ông ta không ngồi. Ông ta đứng ở cửa, nhìn con chim trong lòng bà Then, nhìn lâu, như người ta xem một món đồ lạ ở chợ phiên.

"Chim của Thái Úy đẹp thật. Lông chàm như áo người Nùng." Ông ta nói. "Chỉ tiếc là không vào được thành. Chắc tại trong thành lắm người mặc áo gấm quá, nó ngại."

"Chim khôn thì chọn cành mà đậu." Đặng Tiến Minh nói. "Trong thành thì cành nào cũng có người ngồi cả rồi."

Trịnh Gia Mưu gật gật, như vừa nghe một câu đối hay. Ông ta chắp tay sau lưng, nhìn ra cánh đồng. Sương đã tan bớt. Lúa chiêm ngả vàng, bông trĩu xuống, gió thổi qua thì cả cánh đồng dợn lên từng đợt như lưng con trâu thở.

"Nghe nói Thái Úy lại cần người." Ông ta nói, mắt vẫn nhìn ruộng. "Lúa thì một năm hai vụ. Người thì mười tám năm mới được một vụ. Thái Úy gặt nhanh quá, dân trồng không kịp."

"Cỏ mọc nhanh hơn lúa." Đặng Tiến Minh nói. "Không nhổ cỏ thì chẳng còn gì mà gặt."

"Nhổ cỏ thì phải biết cây nào là cỏ, cây nào là mạ. Mạ non mà nhổ lên thì cũng héo như cỏ thôi."

"Tôi nhổ cỏ. Tôi không nhổ mạ."

Trịnh Gia Mưu quay lại nhìn ông. Ông ta biết tờ sớ viết gì. Ông ta không cần đọc cũng biết. Đặng Tiến Minh cũng biết là ông ta biết.

"Thái Úy tính giỏi." Trịnh Gia Mưu nói, như khen thật. "Chỉ sợ dân không biết tính. Dân chỉ nhớ ai bắt con mình đi. Dân không nhớ bắt đi để làm gì."

"Dân nhớ gì thì tùy dân. Tôi không làm quan để được dân nhớ."

"Vâng." Trịnh Gia Mưu cúi đầu, chắp tay vái một vái. "Việc được dân nhớ, để tôi lo."

Ông ta quay người bước xuống cầu thang. Xuống được ba bậc thì dừng lại, ngoảnh đầu, nhìn con chim trong lòng bà Then một lần nữa.

"À." Ông ta nói. "Nghe đâu dạo này có con về trắng cả lông cổ. Đường sớ đi qua cõi ma, thì ma đọc trước cả vua." Ông ta cười. "Thái Úy nhớ niêm bùa cho kỹ."

Rồi ông ta đi. Bờ ruộng lầy lội, đôi giày vải vẫn trắng tinh. Tới đầu bờ, hai người hộ pháp lặng lẽ đi theo sau, như hai cái bóng.

Hai người lính dưới chân cầu thang thở hắt ra một lượt.

Đặng Tiến Minh ngồi im rất lâu.

Trên sàn, bà Then vẫn ôm con chim, vẫn hát. Hát xong, bà đứng dậy, ra cửa sổ, xòe hai tay. Con chim nhảy lên bậu cửa, nghiêng đầu nhìn cánh đồng, rồi vỗ cánh.

Nó bay được ba sải tay thì nhạt đi. Thân nó mờ dần như giọt mực loang vào nước, cái đuôi chẻ tan ra trước, rồi đôi cánh, rồi cái đầu. Trên vòng mây, mười hai quả nhạc đồng rung lên một lượt, leng keng, rồi im.

Ba ngày đường ngựa từ đây lên biên. Con chim sẽ tới đấy trước lúc cháy hết một nén nhang.

Chỉ có điều, ông nghĩ, dân không nhớ con chim bay nhanh thế nào. Dân nhớ năm người đàn ông trong làng mình bị gọi tên ra khỏi hàng.

Năm hôm sau, một toán Phong Sương Vệ xuống Lò Trấu. Người dẫn đầu không đeo phù bạc.


Lông chàm trắng cổ đường mây,

Ba doanh chẳng có, gọi đầy năm tên.

Giày ai bùn chẳng bám lên,

Chim nhanh mấy khắc dân quên, nhớ người.

Lời tác giả chương này:

Đôi lời về Én Then Lúc nghĩ xem người trong truyện gửi thư cho nhau bằng cách nào, thứ đầu tiên hiện ra trong đầu tôi là chim bồ câu. Rồi tôi gạch đi ngay. Bồ câu đưa thư là hình ảnh của phim châu Âu, của truyện Tàu, chứ không phải của trời đất mình. Tôi bèn quay về núi rừng phía Bắc, nơi người Tày, người Nùng vẫn giữ tục hát Then. Trong tín ngưỡng ấy, thầy Then là người đứng giữa cõi người và Mường Trời, theo tiếng đàn tính lẳng lặng mà đi lên trời, mang lời của dân bản dâng lên trên. Nói cách khác, Then vốn đã là một nghề đưa tin, chỉ có điều tin đi xuyên qua các cõi. Thực hành Then được UNESCO công nhận năm 2019, và với tôi nó là một trong những thứ đẹp nhất mà đất mình còn giữ được. Còn vì sao lại là chim én? Vì én là con chim gần gũi với người Việt nhất. Én liệng là xuân về, ai cũng biết. Một con chim nhỏ bé như thế, dập dờn bay qua những vết nứt của trời đất để mang một cuộn thư bằng ngón tay, tôi thấy nó vừa nhẹ nhàng vừa có cái gì đó rất buồn. Én Then trong truyện là hư cấu. Năng lực của nó, luật lệ của nó đều do tôi bịa ra. Nhưng thầy Then thì tôi cố viết sao cho đúng với cái tinh thần mà cộng đồng người Tày, người Nùng kính trọng: người có nghề, có đạo, trọng ơn nghĩa hơn bạc vàng. Nếu bạn đọc là người Tày, người Nùng, hoặc hiểu về Then hơn tôi, mà thấy chỗ nào tôi viết chưa phải, xin cứ thẳng thắn góp ý nha!
0