Quyển 1: Bến Vạn Chài & Sóng Gió Tiêu Trang
Chương 23: Âm Dương Thủy Hỏa, Bài Thuốc Trăm Năm
Nam Thiên Tu Tiên Truyện
Mục lục
30 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 30/30 chương
Gió đông bắc hun hút của những ngày giá buốt cuối năm dần nhường chỗ cho những làn gió xuân lành lạnh mà thanh nhẹ thổi từ biển biếc tràn vào chân dãy Trường Lệ.
Sáng sớm tinh sương ở gò Hải Thôn, vạn vật còn chìm trong màn sương bàng bạc giăng mắc qua những rặng bàng vuông và phi lao cổ thụ. Trên mái tranh mộc mạc của Tuệ gia y quán, từng sợi khói lam mỏng mảnh uốn lượn bay lên không trung, quyện cùng mùi thơm ngai ngái, nồng ấm của hàng chục vị thuốc Nam đang được sao sấy bên chái bếp.
Lý Quân thức dậy từ lúc canh năm khi tiếng gà gáy đầu tiên vừa điểm bên xóm chài.
Hắn mặc bộ quần áo vải thô màu nâu sồng đã giặt sờn, đôi chân trần thoăn thoắt quẩy đôi thùng gỗ đi gánh nước tưới đẫm từng luống thảo dược trong vườn thuốc của thầy đồ Tuệ Ông. Trải qua một thời gian tu luyện Thủy Linh Dẫn Khí Pháp, cơ thể hắn nhẹ nhàng uyển chuyển như cá bơi ngược dòng, ba mươi gánh nước tưới khắp khu vườn rộng cả mẫu đất chỉ mất chưa đầy một tuần trà mà hơi thở vẫn êm ru, trán chỉ lấm tấm một lớp mồ hôi mỏng.
Vườn thuốc Nam của Tuệ Ông tựa như một góc trời thanh tịnh biệt lập với trần ai. Nơi đây không có những vị thuốc Bắc xa xỉ đắt tựa vàng ròng mà thương lái phương Bắc hay chở thuyền xuôi bán, chỉ có toàn cỏ cây bản địa mộc mạc bám rễ sâu vào đất cát quê hương: những khóm ngải cứu biển xanh rì ôm lấy bờ đá, rặng sả thơm nồng đọng giọt sương mai lấp lánh như hạt ngọc, giàn kim ngân hoa nở hoa trắng hoa vàng thơm ngát một góc sân, rồi cả những củ bình vôi nâu sần sùi bám chặt vào vách đá rêu phong.
Tưới nước xong xuôi, Lý Quân cẩn thận dùng chổi tre quét sạch khoảng sân gạch rêu, rồi kính cẩn bước lên thềm hiên, châm một ấm nước vối tươi còn bốc khói dâng lên bàn trà của người thầy già.
Tuệ Ông mặc áo dài vải mộc màu xám tro, mái tóc bạc phơ búi gọn sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ dâu, đang ngồi ngay ngắn trên chiếc chõng tre lật xem từng trang sách thuốc chữ Nôm đã ố vàng theo năm tháng. Thấy Lý Quân bước vào với vẻ cung kính, mực thước, ánh mắt ông cụ ánh lên vẻ hài lòng sâu sắc.
"Quân nhi, ngồi xuống đây." Tuệ Ông nâng chén chè vối nhấp một ngụm nhỏ, giọng nói trầm ấm khoan thai như tiếng chuông chùa sớm mai vang vọng giữa thung lũng. "Mấy ngày qua con theo ta học chữ Nôm, phân biệt trăm loài cây cỏ quanh dãy Trường Lệ này, trong lòng có điều gì thắc mắc chăng?"
Lý Quân khẽ cúi đầu, hai tay khoanh trước ngực, đáp lời bằng giọng chất phác:
"Bạch thầy, con thấy người trong vạn chài khi ốm đau thường cố gom góp từng hào bạc để tìm mua thuốc Bắc nơi phố huyện. Nhưng thầy lại dạy con rằng cây cỏ phương Nam quanh vườn, bờ rào, vách đá ven biển đều có thể làm thuốc cứu người. Con muốn hiểu rõ vì sao cây cỏ bình dị nơi bùn đất cát mặn lại có công năng kỳ diệu dường ấy?"
Tuệ Ông mỉm cười, vuốt chòm râu bạc khẽ gật đầu:
"Hỏi hay lắm! Người đời thường chuộng cái xa xôi đắt đỏ mà quên mất cái gần gũi thâm sâu ngay dưới chân mình. Đại danh y Tuệ Tĩnh thiền sư ngàn năm trước đã đúc kết một chân lý ngời sáng: Nam dược trị Nam nhân. Đất phương Nam ta khí hậu nhiệt đới gió mùa, thổ nhưỡng phong nhiêu, linh khí non sông bồi tụ vào từng ngọn cỏ lá cây. Cây cỏ sinh ra trên mảnh đất này, hấp thu nắng gió sương mưa của trời Nam, nên tính khí của nó hòa hợp tuyệt đối với tạng phủ, huyết mạch của con người phương Nam."
Cụ đồ chỉ tay về phía chiếc chảo gang lớn đang đặt trên bếp than trấu cháy đỏ, nơi những lát gừng già nướng thơm lừng đang tỏa khói nghi ngút, tiếp tục giảng giải:
"Thuốc Nam mộc mạc nhưng đạo lý dụng dược thì vô cùng biến ảo, lấy gốc từ Âm Dương Ngũ Hành và Tính Vị Quy Kinh. Vạn vật trong trời đất không ngoài bốn khí: Hàn, Nhiệt, Ôn, Lương; và năm vị: Cay, Ngọt, Chua, Đắng, Mặn. Bệnh tật phát sinh cũng vì âm dương thiên lệch, tạng phủ mất điều hòa. Hàn gặp Hàn tắc tử, Nhiệt gặp Nhiệt tắc cuồng. Dùng thuốc cốt ở chỗ lấy cái thiên lệch của dược vật để sửa chữa cái thiên lệch của thân thể con người."
Ánh mắt Tuệ Ông bỗng trở nên nghiêm nghị, nhìn thẳng vào mắt Lý Quân:
"Nhưng điều then chốt nhất trong nghề thuốc, chính là Thủy Hỏa Chế Biến. Cây cỏ hái từ rừng sâu vách đá về, mang theo dược tính nguyên sơ nhưng cũng chứa đầy độc tính và tính khí hoang dại. Cùng một củ gừng, để sống thì cay nóng phát tán phong hàn; đem nướng chín thì ấm tỳ chỉ tả; sao cháy đen thành thán khương thì lại chỉ huyết ấm kinh. Nếu người thầy thuốc không hiểu rõ Thủy Hỏa chế biến, không biết dùng rượu, gấm, nước vo gạo hay lửa than hoa để tôi luyện, dẫn thuốc vào đúng kinh lạc, thì ngọn cỏ cứu mạng cũng có thể biến thành lưỡi đao giết người trong chớp mắt!"
Từng lời, từng chữ của Tuệ Ông như những giọt nước mưa rào thấm đẫm vào mảnh đất khô cằn trong tâm trí Lý Quân.
Hắn chăm chú lắng nghe, khắc cốt ghi tâm từng câu ca quyết. Một cánh cửa nhận thức hoàn toàn mới mở toang ra trước mắt thiếu niên mười tuổi. Hắn nhận ra, y thuật phương Nam không chỉ là chuyện lá cây rễ cỏ đơn thuần, mà là một môn học thâm sâu về sự vận hành của khí cơ, âm dương và quy luật tuần hoàn của trời đất.
Đêm rằm tháng Giêng, trăng rằm đầu xuân tròn vành vạnh treo lơ lửng trên đỉnh Hòn Trống Mái. Biển đêm mênh mông dát bạc, tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân vách đá Trường Lệ nghe như tiếng thở dài ngàn năm của đại dương.
Trong căn chòi nhỏ kín đáo dựng nép bên sườn vách đá, Lý Quân ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói đơn sơ. Cửa phên đóng chặt, ngọn đèn dầu lạc leo lét tỏa ra ánh sáng vàng dịu.
Hắn thò tay vào đáy túi vải thô, cẩn thận lấy ra Mảnh Trống Đồng Đông Sơn xanh rêu. Dưới ánh trăng rằm vằng vặc chiếu xuyên qua khe liếp, những hoa văn chim Lạc bay ngược và hình mặt trời mười hai cánh trên mảnh đồng cổ lại khẽ rung rinh, phát ra những gợn sóng linh khí huyền ảo.
Ngay tại tâm điểm hoa văn mặt trời, một giọt sương ngọc bích óng ánh, to tròn bằng hạt đỗ xanh đang lặng lẽ ngưng tụ, tỏa ra luồng sinh cơ tinh thuần đến nghẹt thở.
Nhìn giọt sương ngọc bích lấp lánh như gom góp trọn vẹn tinh hoa của trời đất, ánh mắt Lý Quân trầm ngâm, bao nhiêu ký ức về những lần thử nghiệm gian nan suốt mấy tháng qua bỗng dồn dập ùa về.
Từ khi vớt được Mảnh Trống Đồng từ đáy vực Đan Nê cho đến nay, hắn chưa bao giờ thôi trăn trở về công năng thực sự của thứ chất lỏng thần bí này. Là một đứa trẻ sinh ra nơi bến bãi nghèo hèn nhưng trời phú cho tính cẩn trọng và lòng ham học hỏi, Lý Quân đã từng thử nghiệm đủ trăm phương ngàn kế, song kết quả nhận lại toàn là những thất bại cay đắng và hiểm nguy thót tim.
Hắn từng nghĩ, nếu giọt linh dịch này mang sức mạnh phi thường huyền diệu, liệu nó có thể biến sắt vụn thành bảo kiếm sắc bén chém sắt như chém bùn? Nghĩ là làm, hồi còn ở lò rèn Thủy Tiêu Đội, hắn đã lén dùng một giọt sương nhỏ lên lưỡi đoản đao rèn bằng quặng sắt sông Chu và mũi dao găm xương cá. Nào ngờ, giọt sương ngọc bích vừa chạm vào mặt kim loại trơ lì liền lập tức trượt tuột đi như giọt nước rơi trên lá khoai môn, rớt xuống đất rồi bốc hơi thành một làn khói trắng mỏng manh biến mất không dấu vết! Thanh đao sắt vẫn là sắt thô gỉ sét, chẳng tăng thêm nửa phần sắc bén, thân dao xương cá cũng không có lấy một chút biến đổi mảy may. Hắn lại thử nhỏ lên viên linh thạch hạ phẩm nhặt được trong túi trữ vật của tên ma tu, nhưng kết cấu khoáng thạch vô tri cũng hoàn toàn bài xích, giọt sương chẳng thể nào dung hòa.
Kim thạch vô tình, bất khả xâm nhập.
Không nản lòng, Lý Quân lại chuyển hướng thử nghiệm trên loài máu thịt. Hắn từng bắt một con bồ nông biển bị gãy cánh và một con gà rừng trên vách đá Trường Lệ, hòa tan một phần mười giọt sương vào gáo nước ngọt cho chúng uống thử với hy vọng chữa lành thương tật và tăng cường sức lực cho chúng. Nhưng cảnh tượng xảy ra sau đó khiến hắn rùng mình kinh hãi: Con gà rừng vừa nuốt nước vào họng, đôi mắt bỗng đỏ ngầu như rỏ máu, toàn thân run rẩy cuồng loạn đập cánh gãy cả lông, huyết quản dưới da căng phồng rồi bạo liệt nứt toác, nó giãy giụa đứt ruột mà chết tươi ngay tại chỗ! Con bồ nông biển cũng không thoát khỏi số phận, tạng phủ co giật rồi chết cứng trong vũng máu bầm.
Cảnh tượng rợn người ấy khiến Lý Quân bừng tỉnh. Hắn chợt nhớ lại hồi còn ở xóm chài Hoằng Hóa, bầy cá bống trong chậu sống dai và lớn nhanh lạ thường sau khi được nhỏ linh dịch, hóa ra hoàn toàn không phải vì cơ thể con cá trực tiếp hấp thu thứ năng lượng này. Mà bởi vì giọt sương khi hòa tan vào nước hồ đã kích thích đám rêu tảo và vi sinh vật thủy sinh sinh sôi nảy nở gấp trăm lần! Đám cá ăn rêu tảo tươi tốt giàu linh khí ấy nên mới khỏe mạnh, chứ bản thân giọt linh dịch đối với giống loài mang máu thịt phàm thai thì cuồng bạo chẳng khác nào kịch độc đoạt mạng!
Nguy hiểm nhất là lần hắn mạo hiểm thử nghiệm trên chính cơ thể mình. Sau khi đột phá Luyện Khí tầng một, vì nóng lòng muốn tìm hiểu xem linh dịch có thể giúp tăng tiến tu vi như đan dược trong truyền thuyết hay không, hắn đã dùng đầu lông vũ chấm một vi hạt nhỏ li ti như hạt bụi phấn đặt lên đầu lưỡi toan vận chuyển chân khí luyện hóa. Vừa chạm vào, một cỗ năng lượng sinh cơ nguyên sơ bạo liệt tựa như sóng thần tràn vào cuốn phăng mọi thứ! Đan điền hắn lập tức bị bế tắc, kinh mạch toàn thân căng phồng đau buốt như bị vạn lưỡi dao băm vạt, máu mũi ứa ra ròng ròng, suýt chút nữa tẩu hỏa nhập ma nổ tung kinh mạch mà chết! May nhờ phản ứng cực nhanh, hắn dùng ngón tay móc họng nôn thốc nôn tháo, lại liều mạng vận chuyển Thủy Linh chân khí liên tục suốt một ngày một đêm mới đẩy hết cỗ khí tức hoang dại ấy ra ngoài.
Từ lằn ranh sinh tử trở về, Lý Quân toát mồ hôi hột, tự thề với lòng không bao giờ được phép khinh suất.
Qua hàng loạt thử nghiệm và trả giá, một kết luận đanh thép, sáng rõ như trăng rằm đã định hình vững chắc trong tâm trí thiếu niên:
Mảnh Trống Đồng Đông Sơn ngàn năm trước vốn là bảo vật linh thiêng của tổ tiên Lạc Việt — nền văn minh lúa nước thờ phụng Thần Mặt Trời, chim Lạc và mùa màng tươi tốt. Tinh túy ngưng tụ từ mảnh đồng cổ này mang đậm bản chất của đất mẹ và sự sinh sôi của cỏ cây. Bởi vậy, nó hoàn toàn vô hiệu với kim thạch vô tri, bạo liệt chí tử với loài mang máu thịt, và chỉ có tác dụng duy nhất, tối thượng đối với THỰC VẬT (hoa cỏ, cây cối, củ rễ thảo mộc)!
Chỉ có loài thực vật có rễ cắm sâu vào lòng đất mẹ mới có đủ tính âm nhu, bền bỉ để hấp thu, chuyển hóa luồng sinh cơ mãnh liệt ấy thành dược lực thuần hậu. Và muốn con người có thể hấp thu được nguồn dược lực trăm năm ngàn năm đó mà không bị bạo thể, thì bắt buộc phải thông qua con đường Nam Dược và thuật Thủy Hỏa Chế Biến mà thầy Tuệ Ông vừa truyền dạy!
Nghĩ thông suốt lẽ huyền vi ấy, ánh mắt Lý Quân trở nên trong sáng và vững chãi lạ thường.
Trước mặt Lý Quân lúc này là hai nhánh cây thuốc do chính tay hắn trèo vách Hòn Trống Mái hái về: một củ Cát Căn (sắn dây rừng biển) sần sùi to bằng ngón tay cái và một nắm Ngải Cứu Biển lá nhọn xám bạc.
Nín thở định thần, Lý Quân cẩn thận dùng một chiếc lông chim bồ nông chấm nhẹ giọt linh dịch ngọc bích, chia làm hai phần nhỏ lần lượt nhỏ lên gốc củ Cát Căn và gốc cành Ngải Cứu.
Xì xì...
Một cảnh tượng kỳ diệu diễn ra trước mắt hắn!
Giọt linh dịch vừa chạm vào vỏ cây liền nhanh chóng thẩm thấu vào tận thớ gỗ bên trong. Trong nháy mắt, củ Cát Căn bé nhỏ bỗng phình to với tốc độ có thể nhìn thấy bằng mắt thường, vỏ ngoài nứt ra từng mảng rồi chuyển dần sang màu trắng ngà mịn màng như ngọc thạch. Rễ con đâm tủa ra tua tủa, tỏa ra làn sương trắng mỏng manh mang theo hơi lạnh thấu xương!
Bên cạnh đó, cành Ngải Cứu hoang dại cũng vươn mình đâm chồi nảy lộc, thân cây hóa thành màu nâu tím cổ kính, lá ngải mọc dày đặc với lớp lông tơ bạc óng ánh, tỏa ra một mùi hương ngải nồng đượm xộc thẳng vào mũi, mang theo luồng nhiệt khí hâm hấp tựa như một lò than hồng cỡ nhỏ!
Dược tính của hai nhánh thảo dược bình thường trong chốc lát đã nhảy vọt, tích tụ sinh cơ tương đương với những gốc linh thảo sống hoang dã hàng trăm năm trên đỉnh núi cao!
Chứng kiến cảnh tượng ấy, nếu là một kẻ tham lam nông nổi, có lẽ đã lập tức nhai nuốt ngay để mong tăng tiến công lực. Nhưng Lý Quân vốn tính cẩn trọng, đôn hậu, lại vừa lĩnh hội bài học sâu sắc về "Tính Vị Quy Kinh" của Tuệ Ông ban sáng, hắn tuyệt đối không làm điều khinh suất.
Hắn dùng móng tay bấm lấy một mẩu xơ rễ Cát Căn nhỏ li ti bằng đầu tăm, cẩn thận đặt lên đầu lưỡi nếm thử.
Oanh!
Vừa ngậm vào miệng, một luồng hàn khí buốt giá kinh người tựa như nước đá ngàn năm lập tức bùng nổ, làm tê liệt toàn bộ khoang miệng hắn! Luồng hàn khí cuồn cuộn không theo quy củ xông thẳng xuống thực quản, đánh mạnh vào tỳ vị khiến Lý Quân rùng mình ớn lạnh, lồng ngực đau nhói, chân khí Thủy thuộc tính trong đan điền chấn động dữ dội!
Hắn vội vàng vận chuyển Thủy Linh Cửu Biến Quyết, dẫn dắt chân khí bao bọc lấy luồng hàn khí dại đó, mất trọn nửa tuần trà mới tiêu trừ được dư độc ra ngoài qua đầu ngón tay.
Lý Quân mở bừng mắt, trán toát ra một lớp mồ hôi lạnh, trong lòng không khỏi kinh sợ:
"Nguy hiểm thật! Cát Căn vốn tính lương hàn, dùng giải nhiệt tán hỏa. Nhưng khi được linh dịch Trống Đồng thúc ép thành dị thảo trăm năm, hàn khí tích tụ quá đậm đặc đã biến thành Đại Hàn Kịch Độc! Ngược lại, ngải cứu vốn tính ấm, nếu biến thành cây trăm năm thì nhiệt khí hừng hực sẽ biến thành Đại Nhiệt Hỏa Độc!"
Hắn nhìn củ sắn dây trắng ngọc và cành ngải cứu tím biếc trên bàn, thở dài một hơi cảm thán:
"Lời thầy dạy quả không sai một chữ! Thảo dược dù quý đến đâu nhưng nếu âm dương thiên lệch quá mức mà đem cho người phàm uống trực tiếp, thì chẳng khác nào cho uống độc dược đoạt mạng. Cha ta mang chứng bệnh phong hàn trầm kha cả chục năm, tạng phủ hư hàn suy yếu tột cùng, nếu uống phải thứ hàn khí trăm năm này thì kinh mạch đứt đoạn, mất mạng tức khắc!"
Nhớ tới người cha gầy gò bao năm cắn răng chịu đựng những cơn đau nhức buốt xương mỗi khi gió mùa trở lạnh, ánh mắt Lý Quân lóe lên vẻ kiên định. Hắn quyết tâm vận dụng toàn bộ y lý Nam Dược đã học để thuần hóa hai vị dị thảo trăm năm này, biến chúng thành thang thuốc bổ dưỡng cứu mạng cha già!
Suốt hai ngày hai đêm sau đó, Lý Quân giam mình trong gian bếp phụ sau nhà thuốc Tuệ gia, tỉ mẩn thực hiện từng bước Thủy Hỏa Chế Biến.
Đầu tiên, hắn dùng dao tre cẩn thận gọt bỏ lớp vỏ ngoài của củ Cát Căn trăm năm, thái thành từng lát mỏng dính trong suốt như cánh ve. Hắn đem những lát Cát Căn ngâm vào trong nước vo gạo nếp cái hoa vàng suốt một ngày một đêm. Nước gạo nếp ngọt mát, mang tính bình của đất mẹ, từ từ rút bỏ tính hàn dại hung hãn của củ sắn dây rừng. Sau đó, hắn vớt ra rửa sạch bằng nước giếng ngọt ngào, đem rải trên chiếc sọt tre phơi dưới nắng hanh đầu xuân cho đến khi từng lát thuốc se khô lại, tỏa ra hương thơm dịu nhẹ thanh mát.
Tiếp theo là chế biến Ngải Cứu trăm năm. Vị thuốc này mang tính nhiệt hỏa quá mạnh, nếu để nguyên sẽ gây bốc hỏa, tổn thương tân dịch. Lý Quân đốt một lò than củi nhãn đỏ rực, đặt lên một chiếc chảo gang dày. Hắn cho cám gạo sạch vào sao vàng, sau đó đổ lá ngải cứu trăm năm vào đảo đều tay cho đến khi mép lá hơi xém vàng, mùi thơm thảo mộc bốc lên ngào ngạt. Đúng lúc chảo nóng nhất, hắn nhanh tay rưới vào một chén rượu gạo nếp đã ngâm gừng già nướng chín.
Xèo... xèo...!
Hơi rượu quyện với hơi gừng bốc lên nghi ngút, bao phủ lấy từng chiếc lá ngải cứu. Dưới tác động của rượu và lửa, tính nhiệt táo bạo của ngải cứu bị chế ngự hoàn toàn, biến đổi thành một luồng ôn khí nhu hòa, ấm áp mà sâu lắng, có khả năng dẫn dược lực đi thẳng vào kinh can, tỳ và thận!
Để bài thuốc đạt đến độ hoàn hảo "Quân Thần Tá Sứ", Lý Quân dùng Cát Căn trăm năm chế biến làm Quân (chủ trị giải cơ, trừ phong nhiệt ẩn tàng trong xương tủy); dùng Ngải Cứu trăm năm sao rượu gừng làm Thần (ôn trung tán hàn, bổ tỳ vị); lại phối thêm vài lát Trần Bì năm năm tuổi để hành khí tiêu đờm, và một nhúm rễ Cam Thảo Đất ngọt ngào mọc ven biển làm Tá Sứ để điều hòa bách vị, dẫn thuốc đi khắp mười hai kinh lạc.
Đêm ngày thứ ba, dưới ánh trăng xuân dịu mát, Lý Quân đặt chiếc ấm đất nung Bát Tràng lên bếp trấu rơm. Hắn dùng nước suối ngọt lấy từ khe đá đỉnh Trường Lệ, châm lửa than hoa riu riu nấu ba bát nước sắc lại còn đúng một bát.
Khi nắp ấm đất hé mở, một làn hơi thuốc màu trắng mờ ảo bốc lên, tỏa ra mùi thơm thảo mộc thanh tao, ấm áp lạ thường. Nước thuốc sánh mịn như mật ong loãng, mang sắc nâu cánh gián óng ả tuyệt đẹp.
Lý Quân cẩn thận rót bát thuốc nóng hổi vào chiếc bát sứ hoa lam, hai tay bưng về gian nhà ngói mới của cha mẹ ở chân rặng phi lao ven biển.
"Cha, con vừa sắc xong thang thuốc Nam này theo phương thuốc cổ truyền của thầy Tuệ Ông. Cha hãy uống khi còn nóng để giải trừ khí lạnh bấy lâu trong tủy xương."
Người cha già Lý Chấn ngồi trên giường gỗ lim thơm mùi mộc mới, nhìn đứa con trai mười tuổi với ánh mắt ngập tràn thương yêu và tự hào. Ông đón lấy bát thuốc, không hề ngần ngại nâng lên uống cạn từng ngụm một.
Thuốc vừa trôi qua cổ họng, người cha bỗng khựng lại.
Một cảm giác ấm áp kỳ diệu như dòng suối xuân tràn trề từ thực quản chảy thẳng xuống đan điền, rồi từ đan điền lan tỏa ra khắp tứ chi, len lỏi vào từng khớp xương, từng thớ thịt!
Suốt mười năm ngâm mình dưới đáy sông đáy biển giá buốt, hàn độc tích tụ khiến hai đầu gối và các khớp ngón tay của ông lúc nào cũng lạnh ngắt, đau buốt như có hàng ngàn mũi kim châm mỗi khi trái gió trở trời. Nhưng giờ đây, dưới sức ấm nhu hòa mãnh liệt của bài thuốc trăm năm, lớp băng giá vô hình tích tụ trong xương tủy như gặp phải vầng thái dương mùa xuân, bắt đầu tan chảy nhanh chóng!
Xì... xì...
Toàn thân Lý Chấn nóng bừng lên. Từ trán, lưng và lòng bàn chân ông, từng giọt mồ hôi đen nhánh, dính nhớp và nồng nặc mùi tanh hôi của hàn độc đua nhau túa ra như tắm!
"Khí huyết thông suốt rồi! Mình ơi, lấy cho tôi cái khăn lau người!" Lý Chấn kích động reo lên, giọng nói vốn khàn đục vì ốm yếu nay bỗng trở nên sang sảng, tràn đầy sinh khí.
Mẹ Lý Quân vội vã chạy lại cầm khăn lau sạch lớp mồ hôi độc trên người chồng. Khi lau xong, cả hai vợ chồng đều sững sờ: đôi chân từng sưng vù, run rẩy không thể đứng vững của Lý Chấn nay đã thu nhỏ lại bình thường, da dẻ hồng hào khỏe khoắn, các khớp ngón tay co duỗi linh hoạt mà không hề còn một chút cảm giác đau đớn nào!
Người cha bước xuống giường, đôi chân trần dẫm vững chãi lên nền gạch nung đỏ au, bước đi thoăn thoắt ra tận thềm cửa đón gió biển ban đêm mà không hề thấy ớn lạnh một mảy may.
"Khỏi rồi... Thần kỳ quá! Bệnh phong hàn mười năm của cha... dứt hẳn rồi con ơi!" Người cha ôm chầm lấy Lý Quân, hai hàng nước mắt hạnh phúc lăn dài trên gò má sạm đen vì nắng gió.
Bữa cơm tối hôm đó dưới mái nhà ngói mới rộn rã tiếng cười vui và ấm áp tình thân gia đình: đĩa tôm he biển hấp sả ngọt lịm, bát canh cá bớp nấu lá giang chua thanh đượm vị, đĩa rau muống biển luộc xanh mướt chấm mắm cá cơm thơm lừng. Hai đứa em nhỏ Lý Hoa và Lý Hiển tíu tít quanh anh trai, không khí đầm ấm ngập tràn gian nhà nhỏ ven chân sóng.
Không chỉ chữa dứt bệnh cho cha, phần bã thuốc quý còn lại sau khi sắc, Lý Quân đem chưng cất với mỡ trăn và bột củ nghệ vàng biển thành một hũ sáp cao dán. Hắn mang hũ cao này sang lều của bác Ba Lưới — một lão ngư côi cút nghèo khổ đầu xóm chài, người bị ngâm nước mặn quanh năm khiến đôi bàn chân lở loét hoại tử bốc mùi tanh, đi lại vô cùng khốn khổ.
Chỉ sau ba ngày đắp lớp cao thuốc của Lý Quân, vết lở loét nhiều năm của lão ngư kỳ diệu khô miệng, da non màu hồng nhạt đùn lên lành lặn như chưa từng mang bệnh tật. Lão ngư xúc động ôm lấy hắn khóc nức nở, cả xóm chài ai nấy đều tấm tắc khen ngợi tấm lòng đôn hậu, thơm thảo của cậu bé nhà họ Lý.
Vài ngày sau, Tuệ Ông gọi Lý Quân vào gian thư phòng phía sau y quán.
Sau khi kiểm tra mấy bài khóa chữ Nôm và các bảng phân loại thảo dược do Lý Quân chép lại, Tuệ Ông không khỏi vuốt râu thầm thán phục. Đứa trẻ này không chỉ cần cù, cẩn trọng, mà tư chất thông tuệ dị thường, bất kỳ nét chữ hay ca quyết phức tạp nào cũng chỉ cần chỉ bảo qua một lần là nhớ như in vào đầu óc.
"Quân nhi, con có thiên phú phi phàm về y đạo và chữ nghĩa. Hôm nay ta cho phép con được vào gian cổ thư gia truyền của ta, giúp ta lau bụi và sắp xếp lại các pho sách cổ."
Gian phòng sách cổ của Tuệ gia không lớn, nhưng chứa hàng trăm cuốn sách chữ Nho, chữ Nôm đóng bìa cẩn thận bằng chỉ dù, toát lên mùi thơm trầm mặc của giấy điệp và gỗ thông.
Lý Quân kính cẩn cầm giẻ sạch cẩn thận lau từng chiếc giá gỗ. Khi dọn đến góc trong cùng của chiếc tủ gỗ lim chạm trổ hoa văn rồng mây cổ kính, ánh mắt hắn bỗng dừng lại ở một cuốn sách đóng bằng bìa da dê đã ngả màu vàng ố vì thời gian.
Trên bìa sách đề bốn chữ đại tự chân phương: Nam Dược Dị Thảo Chí.
Lý Quân khẽ mở từng trang sách cổ. Đây là cuốn chép tay của một bậc danh y kiêm ẩn sĩ thời Trần để lại. Lật đến phần ghi chép về các vùng núi non linh thiêng đất Ái Châu (vùng Thanh Hóa ngày nay), một chương sách bỗng đập vào mắt hắn:
"... Về phía bắc Ái Châu, nơi giáp ranh đất Ninh Bình, có dãy núi đá vôi Nga Sơn sừng sững tựa bức bình phong che chắn biển đông. Núi non nơi ấy kỳ tú lạ thường, hang động ăn sâu vào lòng thạch bích, mây mù bao phủ quanh năm.
Trong đó, đệ nhất danh thắng chính là Động Bích Đào (người đời quen gọi là Động Từ Thức). Tương truyền thời Trần phế đế, quan tri huyện Từ Thức vì mê cảnh đẹp non sông đã từ quan về đây du ngoạn, hữu duyên gặp được tiên nữ Giáng Hương, bước chân vào chốn Động Thiên Phúc Địa không vướng bụi trần.
Động Bích Đào sâu thăm thẳm, bên trong nhũ đá rủ xuống tựa rèm châu, nước ngọc róc rách chảy không ngừng, linh khí nồng đượm gấp trăm lần chốn phàm trần. Nơi vách đá cheo leo của cổ động mọc loài Cửu Diệp Ngọc Chi và cây đào tiên ngậm sương trời, có công năng cải tử hoàn sinh, giúp phàm nhân tẩy tủy dịch cân, bước chân vào cõi trường sinh..."
Đọc đến những dòng ghi chép về chốn động thiên và loài dị thảo huyền bí ấy, trong lòng Lý Quân dâng lên một nỗi xúc động và hiếu kỳ khôn xiết. Nhưng sách cổ cũng chỉ ghi lại truyền thuyết dân gian mông lung mờ ảo, cảnh vật nơi thạch bích hiểm trở mây mù che phủ ngàn năm, người phàm xưa nay chưa từng có ai tìm thấy lối vào chốn tiên cảnh ấy.
Lý Quân khẽ thở dài, cẩn thận gấp cuốn sách cổ đặt ngay ngắn lại chỗ cũ.
Đêm hôm đó, dưới ánh đèn dầu lạc leo lét trong căn chòi nhỏ bên mép đá Trường Lệ, Lý Quân thò tay vào đáy túi vải, lấy ra miếng ngọc bội cổ màu xanh biếc vớt được từ đáy cát ngầm sông Mã trong đêm Đông Chí đại chiến.
Dưới ánh đèn vàng vọt, mặt ngọc mát lạnh như băng tuyết, ánh lên một tầng hào quang mờ ảo. Hoa văn hình loài chim lạ sải cánh bay lượn và hai chữ triện cổ khắc chính giữa vẫn uốn lượn tinh xảo như rồng cuộn mây vần, phong kín tựa như một chiếc khóa sắt ngàn năm không có chìa.
Lý Quân cặm cụi lật giở từng trang sách chữ Nho, sách Thuyết Văn Giải Tự và mấy cuốn tự điển mà hắn chép lại từ thư phòng của thầy Tuệ Ông. Hắn soi từng nét phẩy, nét móc, cố gắng đối chiếu từng bộ thủ để tìm xem hai chữ triện trên ngọc bội rốt cuộc là hai chữ gì.
Nhưng vô ích!
Toàn bộ sách vở chữ nghĩa phàm trần mà hắn có được đều hoàn toàn không có tung tích của hai chữ triện này! Nét chữ trên miếng ngọc vừa giống chữ triện cổ thời thượng cổ, lại vừa mang phong thái của phù chú Đạo gia kỳ bí, vượt xa khỏi tầm hiểu biết của một đứa trẻ làng chài mới học vỡ lòng vài trăm chữ Nôm, chữ Nho.
Miếng ngọc bội cổ vẫn là một bức màn bí mật dày đặc, không một kẽ hở!
Cầm miếng ngọc bội trong tay, Lý Quân bước ra mép vách đá Trường Lệ, ngồi lặng lẽ nhìn ra biển đêm mênh mông bát ngát. Đêm về khuya, trăng tàn gác núi, mặt biển đen thẫm khẽ thở dài từng đợt sóng bạc đầu xô vào rạn san hô ngầm, bọt sóng vỡ tan như những mảnh đời phù du chốn trần ai. Gió đại dương thổi lồng lộng qua vạt áo nâu sờn rách, mang theo cái mặn mòi muôn thuở của non nước trời Nam.
Trước sự bao la đến rợn ngợp của thiên địa, con người sống giữa trời đất này nhỏ bé biết bao! Người phàm cả đời tất bật ngược xuôi, trăm năm rồi cũng gửi thân vào nấm mồ xanh cỏ mục; kẻ tu tiên dốc cạn tâm can nghịch thiên cải mệnh, nhưng giữa biển sương mịt mùng của đại đạo, liệu có mấy ai thoát khỏi vòng quay nghiệt ngã của tạo hóa?
Lý Quân khẽ siết chặt miếng ngọc trong lòng bàn tay, cảm nhận hơi lạnh thanh khiết ngấm vào từng thớ thịt. Hắn hiểu rằng, thế giới ngoài kia vô cùng rộng lớn và ẩn chứa những phong ba bão táp ngút ngàn hiểm trở. Muốn bảo toàn tính mạng, muốn che chở cho cha mẹ và các em không bị con sóng thời cuộc nuốt chửng, thì con đường duy nhất trước mắt là phải nhẫn nại: học chữ cho thông, học y cho tường, từng bước tôi rèn căn cơ từ bùn đất, như hạt mầm ủ trong lòng đất mẹ, tuyệt đối không được nóng vội hay manh động!
THƠ KẾT CHƯƠNG:
Tác giả: Xuân Hội
Lửa ấm tro tàn rực ánh uyên,
Trăm năm thuốc quý đượm hơi thuyền.
Sương ngưng cội bách trừ tà khí,
Lửa đốt mầm xuân dưỡng cội nguyên.
Nét mực soi dòng tra chữ cổ,
Đèn khuya gắng chí đợi kỳ duyên.
Ơn sâu tấc dạ bền son sắt,
Đạo hiếu ghi lòng giữ vẹn tuyền.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.