Quyển 1: Bến Vạn Chài & Sóng Gió Tiêu Trang
Chương 25: Đan Nê Trùng Phùng, Mạch Nước Quy Nguyên
Nam Thiên Tu Tiên Truyện
Mục lục
30 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 30/30 chương
Tiết trời cuối thu sang đông, nắng vàng hanh hao rải một lớp mật ong sóng sánh lên dòng nước sông Mã. Gió bấc se lạnh thổi qua những bãi bồi ngút ngàn nương ngô xanh biếc, làm xào xạc rặng tre là ngà soi bóng xuống dòng sông êm đềm như một dải lụa ngọc.
Trong căn buồng nhỏ thoang thoảng mùi thuốc Nam và mùi giấy điệp tại gò Hải Thôn, Lý Quân ngồi xếp bằng trên chiếc chõng tre, trước mặt là tấm da cá chép ngả màu lam xám đã sờn rách bốn góc.
Đó chính là cuốn bí kíp tàn khuyết Thủy Linh Cửu Biến Quyết mà hắn tìm được trong mật đạo dưới đáy Vực Đan Nê hơn ba năm về trước.
Ngày ấy, hắn chỉ là một đứa trẻ mười tuổi mù chữ, chỉ biết nhìn theo những đường vân uốn lượn và các chấm đỏ biểu thị huyệt đạo trên hình vẽ người cá mà tự mò mẫm dẫn khí. Nay, sau nhiều tháng ngày miệt mài học chữ Nho, chữ Nôm từ cụ đồ Tuệ Ông, đọc thông hàng ngàn chữ cổ, đôi mắt Lý Quân nhìn lại cuốn bí kíp da cá chép bỗng bừng sáng lên một tầng nhận thức hoàn toàn mới.
Những dòng cổ tự viết bằng mực chu sa đỏ au, nét chữ bay bổng tựa sóng nước xô bờ, nay đã hiện rõ ràng từng câu từng chữ dưới ánh mắt hắn:
"Phù thủy giả, vạn vật chi nguyên. Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ vu đạo..."
(Kẻ học đạo Thủy, phải thấu suốt nước là gốc rễ của vạn vật. Cái thiện cao nhất như nước, nước làm lợi cho muôn loài mà không tranh giành, ở chỗ trũng thấp mà người đời chê bỏ, nên gần với Đạo vậy...)
Từng dòng khẩu quyết như dòng suối trong vắt xua tan đi màn sương mù u tối bấy lâu trong tâm trí Lý Quân.
Trước đây, khi vận chuyển Thủy Linh Dẫn Khí Pháp, hắn thường dùng ý niệm cố cưỡng ép chân khí Thủy thuộc tính chảy xiết qua kinh mạch như dòng lũ cuồn cuộn. Hắn ngỡ rằng khí càng mạnh, chảy càng xiết thì uy lực càng lớn, nào ngờ làm như vậy kinh mạch thường xuyên bị căng tức, đan điền chấn động đau buốt.
Nay đọc kỹ khẩu quyết của tiền nhân, hắn mới vỡ lẽ: Bản chất của Thủy là nhu hòa, là thẩm thấu, là thuận theo tự nhiên! Nước chảy chỗ trũng, gặp đá thì lượn quanh, gặp hang thì lấp đầy, mềm mại tột cùng nhưng khi dồn tụ lại thì muôn trượng đá hoa cương cũng bị mài mòn nát vụn!
Lý Quân khép mắt lại, từ từ điều chỉnh hơi thở.
Hắn buông lỏng toàn bộ cơ bắp, không còn cưỡng ép chân khí dâng trào mà để luồng Thủy Linh chân khí mát lành trong đan điền tự do lưu chuyển như dòng suối nhỏ róc rách len lỏi qua từng khe đá. Kỳ diệu thay, những điểm ứ trệ bấy lâu ở các khớp xương và huyệt vị bỗng chốc được khơi thông nhẹ nhàng, không một chút đau đớn! Toàn thân hắn nhẹ bẫng tựa như một chiếc lá sen bồng bềnh trôi trên mặt hồ phẳng lặng.
Lật tiếp sang những trang sau của tấm da cá chép, Lý Quân mừng rỡ phát hiện ra một bộ thân pháp di chuyển dưới nước mang tên Lăng Ba Bộ Thủy.
Khác với lối bơi lội phàm trần bằng sức mạnh cơ bắp của dân vạn chài, Lăng Ba Bộ Thủy là phép mượn sức đẩy của dòng nước ngầm và lực nâng của thủy triều. Người luyện thành pháp môn này có thể lướt đi trong lòng nước nhanh như mũi tên bắn mà không tạo ra một gợn bọt sóng, thậm chí khi chân khí đạt đến độ thâm hậu, có thể dùng đầu ngón chân đạp lên mặt sóng mà lướt đi tựa như đi trên đất bằng!
Nhìn những hình vẽ minh họa thân pháp uốn lượn, Lý Quân nén lòng thầm nghĩ:
"Muốn kiểm chứng thân pháp này và khai mở tầng thứ hai của bí kíp, ta cần một vùng nước sâu thẳm, nơi có dòng nước ngầm cuộn xoáy mãnh liệt như Vực Đan Nê năm xưa..."
Đúng lúc đó, cơ duyên trùng phùng bỗng mở ra trước mắt hắn.
Vào những ngày đầu tháng Mười, đoàn thuyền buôn cá và muối của người cha Lý Chấn chuẩn bị một chuyến ngược dòng sông Mã lên các bến chợ miền trung du thượng lưu (vùng Thiệu Hóa, Thọ Xuân) để giao hàng và đổi lấy nông sản, ngũ cốc dự trữ cho mùa đông sắp tới.
Nghe cha bàn chuyện đi buôn, Lý Quân liền thưa với cha mẹ xin được đi theo thuyền.
Hắn viện cớ muốn lên miền bán sơn địa để thu mua những vị thuốc Nam quý hiếm mà vùng biển Trường Lệ không có: như củ Cốt Toái Bổ mọc trên thân cây lim già, rễ Thổ Phục Linh khử phong thấp, và lá Dâm Dương Hoắc mọc trên vách đá vôi. Thầy Tuệ Ông cũng gật đầu tán thành, khuyên người học trò nhỏ nên đi nhiều nơi để mở mang tầm mắt về thổ nhưỡng dược liệu của quê hương.
Chiếc thuyền gỗ lim hai buồm kiên cố của cha con họ Lý giương buồm đón ngọn gió đông nam cuối mùa, rẽ sóng rời cửa Hới, rầm rập ngược dòng sông Mã.
Sông Mã mùa thu đẹp đến nao lòng.
Nước sông mùa này trong vắt, mang một sắc xanh biếc như ngọc bích, phản chiếu nền trời thu cao vời vợi không một gợn mây. Thuyền lướt qua ngọn núi Hàm Rồng sừng sững tựa đầu rồng khổng lồ đang cúi xuống uống nước sông, qua những xóm làng trù mật đôi bờ với những lũy tre xanh ngắt nghiêng mình soi bóng.
Sau hai ngày chèo chống ngược dòng, thuyền cập bến Bến Bông (Ngã Ba Giàng) — nơi hợp lưu giữa sông Chu và sông Mã.
Nơi đây ba năm trước từng là bãi chiến trường đẫm máu trong đêm Đông Chí đại chiến, nơi ma trận Huyết Thủy Tỏa Long Trận bị phá hủy. Nhưng thời gian là phương thuốc chữa lành màu nhiệm nhất. Đống tro tàn năm xưa nay đã được thay thế bằng những bãi ngô xanh ngút ngàn, bến thuyền buôn bán tấp nập tiếng cười nói của dân buôn gốm buôn vôi.
Vừa bước lên bờ, Lý Quân lập tức nhận ra bóng dáng quen thuộc của Cai Thụ và Lãm Mập!
Ba năm không gặp, Cai Thụ trông đã già dặn hơn, tóc mai điểm bạc, nhưng nét mặt lại thanh thản, an nhiên lạ thường. Sau biến cố Tiêu Trang tan rã, ông đã dứt khoát rửa tay gác kiếm, đem toàn bộ số bạc dành dụm mở một xưởng đóng thuyền gỗ và một lò gốm sành ngay bên bờ Bến Bông. Còn Lãm Mập thì vẫn béo tốt như xưa, nước da bánh mật bóng nhẫy, đang vừa gõ búa vừa chỉ huy đám thợ trẻ xảm thuyền.
Nhìn thấy cha con Lý Quân bước lên bến, Cai Thụ sững sờ đánh rơi cả chiếc thước gỗ trên tay.
"Trời đất ơi... Quân đó phải không?!" Lãm Mập quẳng chiếc búa thợ mộc sang một bên, chạy ùa lại ôm chầm lấy Lý Quân, vừa vỗ lưng bôm bốp vừa cười ha hả: "Mới ba năm không gặp mà chú mày lớn bổng lên thế này! Vai rộng, ngực nở, ra dáng một đấng nam nhi sông nước rồi đấy!"
Cai Thụ bước lại, ánh mắt rưng rưng nhìn Lý Quân:
"Tốt... Tốt lắm! Nghe người ta đồn cháu theo thầy học chữ, học nghề thuốc Nam cứu người khắp vùng biển Trường Lệ, chú mừng cho cháu lắm! Năm xưa cháu cứu chú và ba mươi phu thuyền thoát khỏi tay lũ ác nhân ở miếu hoang Bến Gốm, ơn sâu nghĩa nặng ấy chú cả đời không bao giờ quên!"
Lý Quân vội khoanh tay cúi đầu thật sâu:
"Chú Cai Thụ, anh Lãm, ơn chú năm xưa che chở cho cháu ở Thủy Tiêu Đội, cháu khắc cốt ghi tâm. Cháu chỉ làm điều nên làm của một phu chèo sông nước, chú đừng nhắc chuyện ơn nghĩa làm cháu ngượng."
Bữa cơm tao ngộ chiều hôm đó bên hiên xưởng thuyền nhìn ra ngã ba sông đượm nồng khói bếp và ấm áp ân tình.
Cai Thụ sai người đem lên những món đặc sản trứ danh của vùng sông Mã: đĩa cá lăng sông Mã béo ngậy nướng than hoa kẹp trong thanh tre tươi thơm phức, chấm với muối hột giã ớt chỉ thiên và hạt dổi cay nồng; bát canh cá ngạnh nấu măng chua bốc khói nghi ngút, vị chua thanh cay xé lưỡi; đĩa bánh đúc ngô chấm tương ngọt bùi đậm đà phong vị quê hương.
Bên chén rượu nếp cái hoa vàng cay nồng, những câu chuyện về sông nước, về luồng lạch hiểm trở và lẽ đời chìm nổi lại được những người đàn ông sông Mã hàn huyên suốt đêm dài.
Canh ba đêm ấy, khi vầng trăng khuyết treo lơ lửng trên rặng tre ngà và mọi người trong xưởng thuyền đã chìm sâu vào giấc ngủ êm đềm sau men rượu, Lý Quân lẳng lặng rời khỏi chiếu nằm.
Hắn mặc chiếc quần cộc vải thô bó sát, lưng giắt theo một chiếc túi da nhỏ đựng hạt sen cổ và chiếc lọ sứ hòa loãng linh dịch Trống Đồng. Hắn men theo bờ lau sậy rậm rạp, lặng lẽ bước xuống bến sông, rẽ nước bơi ngược dòng sông Chu về phía Vực Đan Nê.
Màn đêm đen đặc bao trùm mặt nước. Tiếng côn trùng rả rích bên bờ càng làm tăng thêm vẻ thâm u, tịch mịch của vực nước sâu khét tiếng.
Đứng trên mỏm đá ngầm quen thuộc — nơi ba năm trước hắn từng liều mạng lặn xuống mò cổ vật và vớt được Mảnh Trống Đồng Đông Sơn, lòng Lý Quân dâng lên một cảm xúc bồi hồi khôn tả.
Hớp một ngụm khí giữ chặt trong lồng ngực, Lý Quân khẽ nhón chân, thân hình uyển chuyển như một con giải biển trườn êm vào lòng nước buốt lạnh.
Tõm!
Không một tiếng động lớn, không một gợn sóng xao động!
Vừa chìm xuống nước, Lý Quân lập tức vận chuyển khẩu quyết Lăng Ba Bộ Thủy. Chân khí Thủy thuộc tính từ đan điền chảy tràn ra lòng bàn chân và hai cánh tay, tạo thành một màng chân khí mỏng bao bọc lấy toàn thân.
Dòng nước ngầm cuộn xoáy dữ dội của Vực Đan Nê từng khiến những tay thợ lặn cừ khôi nhất phải khiếp vía, nay chạm vào thân thể Lý Quân bỗng trở nên nhu thuận lạ thường. Hắn không hề tốn sức vùng vẫy bơi lội, mà chỉ khẽ nghiêng người, mượn chính lực đẩy của dòng xoáy ngầm để lướt đi vùn vụt trong làn nước sâu!
Mười trượng... hai mươi trượng... ba mươi trượng!
Chỉ trong chớp mắt, hắn đã lặn sâu xuống tận đáy vực ngầm tối tăm như mực.
Nhờ tu vi Luyện Khí tầng một viên mãn và đôi mắt được chân khí tôi luyện, Lý Quân nhìn xuyên qua làn nước đêm đen đặc. Dưới đáy vực, nơi khe nứt đá ngầm ngày xưa, một luồng mạch nước ngầm từ sâu trong lòng núi đá vôi vẫn đang róc rách tuôn trào, tạo thành một "Thủy Huyệt" tự nhiên tích tụ linh khí Thủy tính mát lành, thanh khiết lạ thường.
Lý Quân khẽ thò tay vào chiếc túi da chống nước buộc bên hông, lấy ra hạt sen cổ Thủy Tinh Liên Tử.
Hạt sen màu xanh biếc như ngọc thạch, to bằng ngón chân cái, vỏ ngoài cứng rắn như kim cương, nằm im lìm suốt ba năm qua trong hành trang của hắn. Năm xưa nhặt được hạt sen này cùng cuốn bí kíp dưới đáy mật đạo, hắn không biết làm cách nào để ươm mầm.
Nay, với hiểu biết sâu sắc về sinh cơ của thực vật và y lý Nam Dược, hắn biết đây là cơ hội ngàn năm có một!
Chỉ có mạch nước ngầm linh thiêng của Vực Đan Nê — nơi khởi nguyên của cơ duyên — mới đủ linh khí thuần khiết để nuôi dưỡng hạt giống tiên gia thượng cổ này!
Lý Quân cẩn thận dùng tay bới một lớp bùn phù sa mịn như nhung dưới đáy thủy huyệt, đặt hạt sen cổ vào chính giữa. Sau đó, hắn rút chiếc lọ sứ nhỏ, nghiêng miệng nhỏ một giọt sương ngọc bích của Mảnh Trống Đồng đã được hòa loãng kỹ lưỡng trong nước suối ngọt.
Xì... xì...
Một cảnh tượng kỳ ảo rung động lòng người diễn ra dưới đáy nước sâu!
Giọt linh dịch loãng vừa chạm vào vỏ hạt sen cổ, toàn bộ hạt sen lập tức phát ra những luồng hào quang màu xanh lục biếc rực rỡ, chiếu sáng rực rỡ cả một góc đáy vực Đan Nê!
Rắc!
Một tiếng nứt thanh thúy vang lên dưới nước. Lớp vỏ đá ngọc cứng ngắc nứt toác ra thành một khe rãnh nhỏ, từ bên trong, một mầm sen non nớt, mềm mại màu ngọc bích từ từ vươn mình nhú ra ngoài. Những chiếc rễ con trong suốt như sợi tơ bạc đâm tủa ra xung quanh, bám chặt vào lớp bùn phù sa màu mỡ, điên cuồng hút lấy thủy linh khí của mạch nước ngầm!
Một luồng linh khí Thủy tính thuần tịnh, thanh tao ngào ngạt tựa như hương hoa sen đầu hạ bùng nổ, lan tỏa khắp đáy vực!
Lý Quân ngắm nhìn mầm sen ngọc bích đang khẽ đung đưa trong dòng nước ngầm, trong lòng ngập tràn niềm kính sợ trước sức sống mãnh liệt của tạo hóa. Hắn biết, đây là loài dị thảo thủy sinh thượng cổ, cần thời gian bén rễ hấp thu tinh hoa sông ngòi, tuyệt đối không thể vội vã nhổ lên mang đi.
Hắn cẩn thận dùng những tảng đá cuội tròn nhẵn xếp thành một vòng tròn bảo vệ xung quanh mầm sen, lại dùng bùn cát ngụy trang kín đáo, biến nơi này thành một "động phủ bí mật" nuôi dưỡng linh dược của riêng mình.
Trong lúc cúi người xếp đá ngụy trang, ánh mắt tinh tường của Lý Quân bỗng dừng lại ở vách đá ngầm sâu nhất phía sau thủy huyệt.
Nơi đó có một mảng rêu phong xanh thẫm bám dày đặc trên mặt đá hoa cương. Dưới tác động của luồng hào quang phát ra từ mầm sen ngọc bích, lớp rêu phong bỗng để lộ ra những đường rãnh chạm khắc chìm vào thân đá!
Lý Quân giật mình, vội vàng bơi lại gần, dùng bàn tay gạt sạch lớp rêu nhớp nháp bám trên vách đá.
Hiện ra trước mắt hắn là một bức đồ hình cổ kính được đục khắc vô cùng công phu!
Bức đồ hình chạm khắc dòng chảy phong thủy của hệ thống sông ngòi xứ Thanh: sông Chu bắt nguồn từ miền tây đổ về hợp lưu với sông Mã tại Ngã Ba Giàng, rồi từ sông Mã đổ ra biển Đông qua ba cửa lạch. Nhưng điều kỳ lạ nhất là, từ chính Vực Đan Nê này, trên vách đá có khắc một đường thủy đạo ngầm cổ xưa, xuyên qua các khe nứt thạch nhũ trong lòng núi đá vôi, dẫn thẳng lên phía bắc — nối liền với hệ thống hang động của dãy Nga Sơn giáp ranh đất Ninh Bình!
Và ngay tại góc dưới của bức đồ hình thủy đạo, có khắc chìm một biểu tượng cổ xưa:
Hình một loài chim linh điểu ngậm hoa đào sải cánh, cùng một hàng phù văn uốn lượn như dải mây bay!
Oanh!
Đầu óc Lý Quân chấn động dữ dội!
Nét khắc uốn lượn như mây bay ấy... có cấu trúc nét bút, thần vận và phong thái hoàn toàn y hệt như lối chữ Vân Triện trên miếng ngọc bội cổ màu xanh biếc mà hắn đang đeo trước ngực!
Một mắt xích then chốt nữa lại khẽ lay động!
Vực Đan Nê sâu thẳm này không phải là một khúc sông tình cờ vô danh. Nơi đây năm xưa chính là một trạm dừng chân, một mắt xích liên thông quan trọng trong hệ thống Thủy Mạch cổ xưa của các bậc tiền nhân, nối liền dòng sông Mã cuồn cuộn với vùng đất tiên cảnh Động Bích Đào nơi Nga Sơn mây mù bao phủ!
Lý Quân áp chặt hai bàn tay lên vách đá ngầm, nhắm mắt ghi khắc từng đường nét của bức đồ hình thủy đạo vào tận sâu trong tâm khảm.
Hắn hiểu rằng, một bức tranh toàn cảnh rộng lớn đang từng bước hiện ra trước mắt hắn. Việc hắn tìm được Mảnh Trống Đồng, nhặt được hạt sen cổ, học được bí kíp Thủy Linh, và sở hữu miếng ngọc bội Vân Triện... tất cả không phải là ngẫu nhiên, mà dường như có một sợi dây vô hình của số mệnh đang dẫn lối cho hắn!
Trời gần sáng, sương mai bắt đầu phủ kín mặt sông Chu.
Lý Quân khẽ đạp chân vào dòng nước, thi triển thân pháp Lăng Ba Bộ Thủy, thân hình như một bóng chim le lướt êm ru trên sóng nước, lặng lẽ bơi về phía xưởng thuyền Bến Bông khi tiếng gà gáy đầu tiên vừa điểm bên xóm vạn chài.
Một ngày mới lại bắt đầu, và trên con đường vấn đạo của thiếu niên làng chài, một nấc thang mới lại vừa được dựng xây vững chãi.
THƠ KẾT CHƯƠNG:
Tác giả: Xuân Hội
Nước biếc Đan Nê cuộn sóng lồng,
Trang kinh chữ rõ sáng dòng sông.
Chìm sâu sen ngọc ươm mầm biếc,
Lưng vách đá rêu tạc dấu rồng.
Chữ cổ ngàn năm ghi tích cũ,
Dòng thiêng muôn dặm rẽ đường thông.
Đèn soi chữ nghĩa bồi tâm đức,
Gió thoảng buồm xuôi dạo cõi hồng.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.