Quy Tắc Của Bụt

Chương 28: Thầy Cúng Bến Bãi & Vạch Tro

Đăng: 30/09/2026 10:44 3,779 từ 7 lượt đọc

Mưa phùn mùa đông rây từng hạt dày và buốt như kim châm xuống bãi bồi Luy Lâu.

Gió bấc thốc qua hàng rào nứa ven đê, quất những vệt nước buốt giá vào vách liếp điếm tuần. Dưới lòng máng trơ đáy sông Hát, ba chiếc xà lan bọc đồng cắm cờ đuôi nheo màu lục thẫm của Thủy Đạo Đề Đốc Ty vừa thả neo xong xuôi; những sợi xích sắt to bản nặng hàng trăm cân cọ xát ràn rạt trên đá cuội đáy sông, phát ra những chuỗi âm thanh kim loại đanh buốt, rền vang khắp dải bến lầy lội.

Cửa liếp điếm tuần bị một bàn tay thô bạo đẩy bật sang một bên, mang theo luồng gió lạnh tanh nồng mùi phù sa thốc thẳng vào trong phòng.

Bước qua ngưỡng cửa là một viên quan chừng ngoài năm mươi tuổi, vóc dáng đẫy đà nhưng đôi mắt ti hí sắc như dao cạo. Hắn mặc chiếc áo bào lụa chàm thêu hoa văn sóng nước cuộn tròn viền chỉ bạc, bên ngoài khoác áo choàng da hươu thuộc kỹ bóng nhẫy, mép áo được vén gọn gàng gài vào đai lưng da nẹp đồng xỉn màu để tránh vấy bùn. Bên hông hắn giắt thanh kiếm lệnh vỏ bọc đồi mồi nẹp vàng mắt muỗi, tay xách chiếc tráp gỗ sơn then cẩn xà cừ khắc hình chim trĩ ngậm thẻ lệnh.

Theo sau hắn là sáu tên lính áp giải vạm vỡ, mặc giáp da nẹp đồng, tay lăm lăm xích sắt và mác ba chĩa dài chạm trần nhà.

Đó là Tống Tuần Kiểm Sứ của Thủy Đạo Đề Đốc Ty.

Tống Tuần Kiểm Sứ không thèm liếc nhìn Đề lại Hoàng đang quỳ cùm gông dưới đất, cũng chẳng buồn để mắt tới đống tàn tro của hỏa lò sưởi ấm. Hắn dừng bước ngay giữa phản gỗ, đôi ủng da giẫm mạnh xuống mặt sàn đất nện phát ra một tiếng huỵch nặng trịch. Ngón tay trỏ đeo chiếc nhẫn ngọc xỉn màu của hắn gõ nhịp chan chát lên mặt tráp sơn then, đôi mắt ti hí khóa chặt vào Huyện thừa Lê đang ngồi xếp bằng ở đầu phản:

"Lê Huyện thừa. Ngài để công trường bãi tời rối loạn đến mức này, làm đê điều sụt lở, lại tự tiện giam giữ Đề lại của Thủy Đạo Ty, ngài định tính toán thế nào với hạn định vận tải của quan Tổng Lương?"

Huyện thừa Lê không đứng dậy. Hắn đặt con dao gọt bút xuống mặt phản gỗ, hai bàn tay thô ráp đan vào nhau đặt ngay ngắn trên đầu gối, ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt viên Tuần Kiểm Sứ cấp trên:

"Báo cáo Tống Tuần Kiểm. Bản quan phụng mệnh triều đình giữ yên bờ cõi Luy Lâu. Nạo vét luồng lạch là việc của Thủy Đạo Ty, nhưng hộ đê, giữ đinh bạ và tra xét các dấu hiệu hình án bất thường tại địa phương là chức phận của huyện sở tại. Việc sập giàn tời xuất phát từ việc Đốc Công tự tiện phá đinh nêm lúc nửa đêm; còn việc giữ Đề lại Hoàng là để xác minh nguồn gốc mười bảy phu phen dôi dư mang trát điều động bất minh."

"Bất minh cái gì?!" Tống Tuần Kiểm Sứ gằn giọng, bàn tay mũm mĩm đập mạnh chiếc tráp sơn then xuống mặt phản gỗ nghiến đánh chát một tiếng: "Đây là lệnh phối thuộc khẩn cấp của quan Tổng Lương Đốc Phủ! Khúc sông này là huyết mạch vận tải lương thực và khoáng đồng của triều đình, ba chiếc xà lan bọc đồng kia một giờ đỗ bến là hao tốn hàng trăm hộc thóc của kho lương! Bản quan mang theo hai mươi tên thủy thủ và lính áp giải đến đây là để tiếp quản hiện trường. Trước giờ Dần, toàn bộ khối gỗ dâu dưới cống ngầm và mười bảy tên phu kia phải được bốc lên thuyền áp giải xuôi dòng!"

"Muốn chuyển người và chuyển vật đi," Huyện thừa Lê cất giọng ráo hoác, từng chữ rơi xuống rành rọt như đếm đá: "Phải có công văn phúc thẩm chuyển tiếp qua bản phủ, có chữ ký của Tri phủ và dấu nhận của Huyện nha. Tờ trát của các ngài đóng dấu triện thật nhưng chất son không đúng lệ của Kinh kỳ, lại do một kỵ mã áo quạ bắn tên găm vào điếm tuần giữa đêm hôm. Bản quan không nhận trát kiểu đó."

Cơ mặt Tống Tuần Kiểm Sứ giật giật, thanh kiếm lệnh bên hông khẽ va vào đai da nẹp vàng phát ra tiếng lách cách. Không khí trong điếm tuần căng thẳng tựa một sợi dây cung kéo hết nấc. Đội trưởng Ti Phổ cùng đám lính tuần huyện nha ngoài cửa đồng loạt siết chặt đốc đoản đao, trong khi sáu tên lính áp giải của Đốc Phủ cũng hạ thấp mũi mác sắt.

"Tống Tuần Kiểm," một giọng nói trong trẻo nhưng buốt lạnh như sương muối bất ngờ vang lên từ góc tối.

Thanh Diệp bước ra nửa bước, ánh mắt dài hẹp nhìn thẳng vào chiếc tráp sơn then của viên quan cấp trên:

"Ngươi muốn áp giải vật chứng và nhân sự của một vụ án còn chưa rõ đầu mối đi ngay trong đêm, có từng nghĩ qua việc bản sao lưu của chuyến vận tải này sẽ được sao chép gửi thẳng về viện Đô Sát trước giờ Ngọ ngày mai không?"

Tống Tuần Kiểm Sứ khựng lại. Ánh mắt hắn đảo qua tà áo tơi đen tráng nhựa đường và bàn tay thon dài đang khẽ chạm vào mép chiếc trâm thép nguội của Thanh Diệp. Hắn hừ lạnh một tiếng, nuốt cơn giận dữ xuống cổ họng:

"Đô Sát Viện... Được lắm. Bản quan cho các người hạn định đến đầu giờ Dần để hoàn tất biên bản kiểm tra. Đúng giờ Dần, tời cáp của xà lan sẽ kéo cẩu khối gỗ, kẻ nào cản trở công vụ vận tải chiến lược sẽ chiếu theo quân pháp trừng trị!"

Dứt lời, hắn phất tay áo choàng da hươu, quay ngoắt người sải bước ra ngoài màn mưa phùn, hướng về phía ba chiếc xà lan bọc đồng đang đỏ rực ánh đuốc đầu bến.

Cùng lúc đó, tại khu lán trại dã chiến phía sau lũy thành cổ, một sự việc dị thường bắt đầu vượt khỏi tầm kiểm soát của đám lính tuần.

Đó là một chiếc lều bạt lớn che bằng chiếu cói và bạt gai dầu, chung quanh được rào kín bằng những cọc tre vót nhọn — nơi giam giữ mười bảy tên phu dôi dư vừa được vớt lên sau trận nước lũ dồn toa.

Bên ngoài lều, tiếng trống đồng hồ và tiếng mõ cầm canh của trạm dịch đầu bến chuẩn bị điểm sang giờ Dần.

Mưa phùn rơi tí tách trên mái lá cói ẩm mốc. Giữa khoảng đất trống lầy lội trước cửa lều, một ông lão chừng gần bảy mươi tuổi đang ngồi xổm trên một tấm mo cau khô dính đầy bùn đất. Lão mặc chiếc áo dài lương the đen bạc phếch, hai ống tay áo vắt ngược lên quá khuỷu để lộ đôi cẳng tay gầy guộc ám đầy vệt bồ hóng và móng tay đen kịt vì nhựa cau. Mười đầu ngón tay của lão chai sần, ngón trỏ và ngón cái tay phải vàng ố vì khói hương trầm ngâm nước.

Đó là thầy Hà — một thầy cúng bản địa chuyên nghề làm lễ khao lề, cúng tế thần sông và vớt xác chết đuối tại các khúc bến hiểm trở của huyện Luy Lâu suốt mấy chục năm qua.

Bên cạnh lão đặt một chiếc giỏ tre đan nan mắt cáo đã đen bóng màu mồ hôi. Trong giỏ không có sách cúng chữ Nho hay chuông lệnh đồng thau màu mè; đồ nghề của lão chỉ gồm một bát sành mẻ miệng đựng muối hạt lẫn gạo nếp mốc, ba củ gừng già nướng cháy xém còn vương tro than, một bó phướn bằng giấy bản nhuộm nước vỏ cây nâu cắt răng cưa, và một chiếc liễn sành đựng tro bếp rơm nếp tháng Mười mịn như cám.

Huyện thừa Lê cùng Vương Quang và Chu Bá Cửu bước qua vũng bùn lầy tiến lại gần lều cấm giới. Đội trưởng Ti Phổ cầm đuốc lồng kính soi rọi vào bên trong qua khe hở của tấm bạt gai.

Dưới ánh sáng vàng vọt, mười bảy bóng người đang ngồi ngay ngắn trên nền đất cát ẩm ướt.

Họ không nằm, không cựa quậy, cũng không hề run rẩy trước những cơn gió buốt luồn qua kẽ liếp. Cả mười bảy thân xác gầy guộc đều đồng loạt ngồi thẳng lưng, hai bàn tay buông thõng đặt trên đầu gối, mặt quay về cùng một hướng duy nhất: hướng thẳng về phía vòm cống gạch ngầm dưới lòng sông Hát nơi khối gỗ dâu đang chèn chặt.

Và trên khóe miệng của từng người, những dòng bùn đen non mịn lẫn cát xám đang từ từ rỉ ra, chảy dài xuống cằm, nhỏ giọt đều đặn xuống nền đất cát thành những vũng sền sệt:

Tỏng... Tỏng... Tỏng...

"Thầy ơi..." Chu Bá Cửu rùng mình, hai hàm răng va vào nhau lập cập: "Họ... họ nhả bùn ra kìa! Từ lúc kéo lên đến giờ họ có ăn uống gì đâu mà trong bụng toàn bùn sông thế kia?!"

Thầy cúng họ Hà không ngẩng đầu lên. Đôi mắt kèm nhèm của lão dán chặt vào khóe miệng và kẽ móng chân của đám phu phen.

Theo phản xạ của một kẻ cả đời vớt xác đáy sông, lão không thò lòng bàn tay vào thử người; lão nghiêng người, đưa mu bàn tay gầy guộc lướt khẽ ngang khoảng không cách miệng gã phu ngồi ngoài cùng chừng nửa tấc để đón luồng hơi thở.

Hơi thở không có độ ấm, nhưng luồng khí phả ra mang theo vị tanh nồng của bùn chết ngàn năm.

Lão rụt tay lại rất nhanh, vồ lấy củ gừng già nướng cháy trên mâm mộc, bẻ đôi đánh tách, rồi thả vào chén rượu trắng. Dùng ba đầu ngón tay nhúng vào chén rượu gừng nồng nặc, lão vẩy mạnh ra khoảng không trước cửa lều ba cái. Động tác của lão thuần thục, dứt khoát, không thừa một nhịp lạy lục rườm rà.

Kế đó, lão bốc một nắm gạo muối trong bát sành, ném bạt ngang qua ngưỡng cửa lều.

Nhưng hạt gạo bay ra không hề rơi lộp bộp xuống mặt đất.

Vừa chạm vào làn không khí ẩm ướt cách ngưỡng cửa lều chừng một thước, những hạt gạo trắng bỗng nhiên khựng lại giữa màn mưa phùn, rồi tựa như bị một lớp nhựa dính hút lấy, toàn bộ số gạo muối bay tạt ngược trở lại, dính bết chặt vào da thịt, lên ngực áo và lên gò má tái mét của mười bảy tên phu phen đang ngồi bất động.

Không một hạt gạo nào rơi xuống đất. Từng hạt gạo bám chặt vào da thịt họ như dán hồ, lập tức chuyển sang một màu xám đục nhớp nháp.

Thầy cúng họ Hà không hề biến sắc hay la hoảng. Đôi bàn tay chai sạn của lão lập tức bốc từng vốc tro bếp rơm nếp trong liễn sành, cúi rạp người rải thành một vệt tròn khép kín quanh chiếc lều cấm giới.

Đặc biệt, trong suốt quá trình rải tro, hai bàn chân lão đi giật lùi, tuyệt đối không để mũi ủng của mình dẫm đè lên hoặc bước cắt ngang qua vệt tro vừa rải.

Thế nhưng, vừa rải xong vòng tro khép kín chưa đầy năm nhịp thở, một luồng khí ẩm lạnh buốt từ dưới lòng đất bỗng xì lên nhè nhẹ. Lớp tro rơm nếp trắng mịn bỗng nhiên ngả sang màu đen kịt, ẩm ướt và lún thụt xuống thành từng vệt lõm sâu chừng nửa đốt ngón tay.

Những vệt lõm ấy nối tiếp nhau, in rõ hình dạng của những bàn chân người trần gầy guộc, nhưng toàn bộ phần gót chân lại hướng vào bên trong lều, còn đầu ngón chân lại quay ngược ra ngoài bờ sông — một chuỗi dấu chân quay ngược chiều hoàn toàn với hướng ngồi của đám phu phen.

Thấy vệt tro lún xuống hình bàn chân quay ngược, phản xạ đầu tiên của thầy Hà không phải là quỳ lạy, mà là vồ lấy liễn sành, bốc thêm một nắm tro bếp lớn dập mạnh đè lên dấu lõm để xóa sạch hình dạng bàn chân, miệng lẩm bẩm một câu cổ ngữ ngắn ngủn bằng tiếng địa phương: "Đất ngậm chân, nước ngậm bóng, cấm thành khuôn."

Đội trưởng Ti Phổ thấy cảnh tượng quái gở, hoảng hốt mở miệng định gọi tên gã phu đứng đầu sổ:

"Thằng Thược... Mày có phải..."

"Ngậm mồm lại!"

Thầy cúng họ Hà quay ngoắt đầu lại, gằn giọng quát một tiếng khô khốc cắt ngang lời viên đội trưởng. Đôi mắt lão vằn lên những tia đỏ quạnh:

"Đừng gọi đủ ba chữ tên chúng nó! Bùn đã trào ra khóe mép mà người còn ngồi trơ trơ thế kia, thì cái tên cúng cơm của chúng nó đã không còn nằm yên ở chỗ cũ nữa rồi!"

Huyện thừa Lê bước lên nửa bước, ánh mắt dừng lại ở vệt tro vừa bị xóa dấu:

"Thầy Hà, lệ dưới sông kiêng kỵ điều này thế nào?"

Thầy cúng họ Hà phủi lớp tro bám trên kẽ móng tay, cất giọng khàn đặc, cụt lủn đúng chất dân sông nước:

"Bẩm quan lớn, từ xưa dân chài vớt xác kiêng nhất là gặp người ngậm bùn đáy mà gót chân quay ngược. Dấu này là dưới nước có vật giữ, hồn chưa thoát mà xác đã thành cọc neo. Tuyệt đối không được gọi tên sau giờ Dần! Ai cất tiếng điểm đủ họ tên gọi nó về lúc này, là kinh động đến cái thứ đang cắm dưới đáy sông, lúc đó bến này lở sạch!"

Huyện thừa Lê đứng lặng người giữa màn mưa phùn, hai bàn tay siết chặt lại sau lưng. Hắn không nói gì, quay sang nhìn Vương Quang:

"Vương Ký lục. Ngươi thấy thế nào?"

Vương Quang bước tập tễnh tới bậu cửa lều cấm giới, cẩn thận không giẫm lên mép vòng tro đen của thầy Hà. Hắn khom người, tì đầu gối trái xuống đất.

Theo thói quen nghề nghiệp của một kẻ làm trắc đạc hình án, Vương Quang rút thanh Thiết Xích Khảo Sát trên tay trái ra. Hắn dùng vạt áo khô lau sạch mép thước thép, rồi cẩn thận luồn cạnh vát bằng thép nguội cạo một mảng chất bùn đen vừa rớt từ khóe miệng của một gã phu phen xuống nền cát.

Chất bùn ấy dẻo quánh, đen nhánh như hắc ín ngâm nước lâu ngày, bốc lên mùi phèn chua loét nồng nặc. Vương Quang nghiêng thanh thước sắt dưới ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn bão bọc giấy dầu do Chu Bá Cửu cầm, nheo con mắt trái lại để quan sát từng thớ cặn li ti.

Dưới góc chiếu nghiêng của ngọn đèn, lớp bùn đen non mịn bộc lộ những thành phần vật chất bất thường:

Trộn lẫn bên trong chất bùn đáy sâu là hàng ngàn mảnh vảy cá mòi li ti, mỏng như vảy bạc, chưa hề bị dịch vị dạ dày tiêu hóa hay phân hủy. Và xen lẫn giữa những mảnh vảy cá ấy, là những đoạn sợi chỉ màu xanh bạc dài chừng nửa đốt ngón tay, sợi chỉ se bằng sợi gai dai chắc, nhuộm một lớp phẩm chàm ngậm nước lâu ngày — mang đặc tính vật chất và màu sắc hoàn toàn trùng khớp với những sợi chỉ chàm đang khâu chặt chiếc thẻ chì bát giác trên xương quai xanh của Trần Tứ ngoài bến sông.

Vương Quang dùng móng tay cái bấm nhẹ vào một đoạn chỉ chàm.

Sợi chỉ dai, không bị mục nát dù ngâm trong chất dịch bùn. Hắn lật ngửa bàn tay, dùng hai ngón tay áp nhẹ vào mạch cổ tay của gã phu phen đang ngồi trơ đá.

Thịt da lạnh ngắt. Mạch đập ở cổ tay cực kỳ vi tế, ngắt quãng từng nhịp rời rạc đến mức gần như không thể cảm nhận được bằng xúc giác thông thường. Thế nhưng, các khớp xương ngón tay, khớp cổ chân và cơ hàm của người này vẫn duy trì nguyên vẹn hình dạng tự nhiên, hoàn toàn không có dấu hiệu hoại tử, trương phù hay biến dạng của một người ngâm nước lâu ngày.

Bùn đáy sông, vảy cá mòi và sợi chỉ chàm xuất hiện đồng thời trong chất dịch nhả ra từ khoang miệng; thân nhiệt hạ thấp dưới mức thông thường nhưng các khớp cơ vẫn giữ được tính toàn vẹn cơ học.

Vương Quang thu thước sắt về nẹp áo, đứng thẳng người dậy. Hắn nhìn Huyện thừa Lê, buông một câu ráo hoác:

"Chất dịch trong miệng họ là bùn ngấu dưới đáy sâu, có lẫn vảy cá sống và sợi chỉ gai nhuộm chàm. Thân nhiệt hạ rất thấp, nhịp đập nơi huyết quản yếu ớt nhưng thể xác chưa hề hoại tử. Chưa đủ dữ kiện để khẳng định tình trạng thực tế của họ."

"Không cần dữ kiện gì hết!"

Một tiếng quát hống hách đầy vẻ trịch thượng bất ngờ xé toạc màn mưa phùn.

Tống Tuần Kiểm Sứ cùng sáu tên lính áp giải mang theo xích sắt đã quay trở lại lều cấm giới từ lúc nào. Viên quan của Thủy Đạo Ty trừng trừng nhìn vệt tro bếp và mâm lễ cúng của thầy Hà, khóe môi nhếch lên một nụ cười khinh bỉ tột cùng:

"Trò ma thuật mê tín của bọn dân chài bến bãi! Một lũ phu phen trúng hàn khí dưới sông mà các người cũng bày vẽ lễ cúng giữ vía! Giờ Dần đã điểm, thuyền của Thủy Đạo Ty bắt đầu nhổ neo. Quân lính! Đem xích sắt khóa cổ toàn bộ mười bảy tên này, lôi xuống xà lan cho ta!"

"Tuân lệnh!"

Hai tên lính áp giải vạm vỡ lập tức xách sợi xích sắt to bản nặng trịch bước xộc vào trong lều. Tên lính đi đầu vung tay, quàng chiếc vòng xích sắt lạnh toát vào cổ gã phu phen đầu tiên đang ngồi nhả bùn.

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc vòng xích sắt vừa chạm vào lớp da thịt bết gạo muối của gã phu, một biến cố kinh hoàng bỗng nhiên xảy ra.

Tên lính áp giải bỗng rú lên một tiếng thảm thiết:

"Á... Lạnh! Lạnh quá!"

Bàn tay trần của tên lính đang cầm xích sắt bỗng nhiên co giật dữ dội. Một luồng khí ẩm buốt giá từ cổ gã phu phen truyền thẳng qua mắt xích kim loại, ăn sâu vào da thịt tên lính trong chớp mắt. Toàn bộ bàn tay phải của tên lính áp giải lập tức chuyển sang một màu tím tái nhờn nhợt, các đường gân mu bàn tay co rút quắt lại, da thịt tê dại mất hoàn toàn cảm giác khiến sợi xích sắt tuột khỏi tay rơi đánh xoảng xuống đất cát.

Tên lính ngã ngửa ra sau, ôm chặt lấy cánh tay phải đang run bắn lên bần bật, mặt cắt không còn một giọt máu.

Cả khu lán trại bỗng chốc rơi vào một sự kinh hoàng tột độ. Sáu tên lính áp giải còn lại vội vã lùi giật ngược ra ngoài, không một kẻ nào dám thò tay chạm vào sợi xích sắt đang nằm trơ trọi dưới chân mười bảy tên phu phen.

Đúng lúc đó, từ phía chiếc chòi gác canh bến cách đó một dặm, tiếng mõ cầm canh bằng gỗ lim già bắt đầu gõ dồn dập ba tiếng khô khốc, đanh đục báo hiệu thời khắc chuyển giao:

CỐC... CỐC... CỐC...

Giờ Dần đã chính thức điểm.

Tiếng mõ vừa dứt, từ sâu trong màn mưa phùn dày đặc phủ kín con đường đất dẫn ra ngã ba sông Hát, tiếng bước chân khập khiễng, nặng nề bì bõm dẫm lên bùn nhão chầm chậm tiến lại gần.

Đó là một người đàn ông trung niên vóc dáng cao gầy, khoác chiếc áo tơi lá tơi tả đã ngả màu xám xịt vì dãi dầu mưa nắng. Gã đi chân đất, ống quần vải thô xắn cao quá đầu gối để lộ đôi bắp chân chằng chịt những vết sẹo do đá ngầm cào xước. Tay phải gã chống một cây gậy tre đực bánh tẻ, đầu gậy bịt một vòng sắt hoen gỉ dùng để thọc sâu xuống bùn dò độ sụt lún của lòng sông; tay trái gã xách một chiếc nậm rượu bằng gốm da lươn sứt vòi, bên hông lủng lẳng một chiếc túi da trâu đựng ống đo cao trình đáy nước đã mòn nhẵn góc.

Gã không nhìn đám quan lại, cũng chẳng đoái hoài gì đến mười bảy tên phu phen đang ngồi trong lều.

Vừa bước tới mép bãi bồi, gã dừng lại, ngửa cổ hớp một ngụm rượu nếp lớn, rồi phun phì một luồng rượu trắng xuống mặt nước bùn ven bờ. Ánh mắt gã chăm chú nhìn vào sức căng của màng nước và hướng trôi của bọt rượu trên mặt sóng phù sa. Kế đó, gã cúi người, dùng đầu ngón tay cái quệt một vệt bùn bám ở chân cọc tiêu đo mớn nước, đưa sát lên mũi ngửi một hơi thật sâu.

Làm xong chuỗi động tác của một kẻ cả đời sống bằng nghề đo nước bến bãi, gã mới chầm chậm ngẩng đầu lên. Đôi mắt đỏ ngầu tơ máu của gã nhìn trừng trừng vào thanh Thiết Xích Khảo Sát trên tay Vương Quang, cất lên một tiếng cười khàn đặc như tiếng đá mài:

"Vương Quang... Mày cầm thước sắt đi đo đê điều cho triều đình bao năm, mà vẫn để bọn quan lại đem một sợi xích sắt đi trói cái bóng dưới đáy sông à?"

Lý Tử Trình đã tới.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3