Những Người Còn Ở Lại

Chương 18: Căn Phòng Cuối

Đăng: 17/09/2026 09:19 1,726 từ 50 lượt đọc

Màn hình điện thoại tối sầm.

Tiếng tút ngắt vụn để lại căn bếp tầng một trong khoảng im ắng lạnh ngắt. Gió luồn qua khe gạch thông gió sau giếng trời thổi vào gáy buốt rát. Trước mặt tôi, nép sát chân tường dưới gầm cầu thang, cánh cửa gỗ ép của gian nhà kho nằm im lìm trong bóng tối.

Cửa thấp hơn đầu người chừng một gang tay, mép dưới mục mủn rụng từng mẩu mùn cưa mục trên sàn gạch tàu. Chiếc then sắt han rỉ bị khóa chặt bằng một ổ đồng chữ U cáu bẩn mạng nhện và bụi xám.

“Mày tuyệt đối không được mở căn phòng cuối cùng.”

Lời dặn cuối cùng của mẹ vẫn còn đay nghiến bên tai. Một sự van nài hoảng loạn của người đàn bà cả đời khiếp sợ cái bóng của chồng mình.

Tôi thọc tay vào túi quần, lôi chùm chìa khóa cũ ra.

Mấy mẩu kim loại va vào nhau lách cách, vang rỗng giữa căn nhà vắng. Tôi gạt từng chiếc: chìa cổng sắt bản to, chìa cửa chính, chìa tủ bu-phê, rồi dừng lại ở chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu, thân dẹt, răng cưa đã mòn vẹt.

Đầu chìa cắm ngập vào ổ khóa. Lẫy rỉ bên trong sít rịt. Tôi phải nghiến răng lựa tay vặn ngược xuôi hai bận, cạnh đồng sắc cứa buốt đầu ngón tay mới nghe tiếng lò xo bên trong bật khực một tiếng khô khốc.

Ổ khóa được tháo ra, đặt tạm lên gờ bậu cửa. Then sắt trượt sang phải, cánh cửa gỗ ép rít một vệt dài trên nền gạch.

Khoảng tối bên trong phả ra mùi vôi ẩm, mùi gián và mùi hăng nồng của giấy bãi bằng lâu ngày nằm trong hòm kín. Tôi quờ tay dọc mép tường, ngón tay quẹt qua một lớp mạng nhện dày trước khi chạm vào miếng công tắc nhựa.

Bóng đèn quả nhót treo thòng lọng từ trần bê tông dốc chớp đỏ hai nhịp rồi bừng sáng thứ ánh sáng vàng vọt, chỉ vừa đủ soi rõ khoảng sàn hẹp chừng bốn mét vuông.

Căn phòng này vốn là nơi chứa đồ hỏng từ hồi tôi còn học cấp hai. Góc ngoài kê hai chiếc quạt con cóc cháy cuộn đồng, lốp xe đạp mini cũ và cái xô nhựa thủng đáy. Chiều qua, lúc lấy chiếc hộp bánh quy của thằng Duy cho bà Sáu, tôi chỉ mới lục lọi ở mấy thùng các-tông sát mép cửa rồi vội vã đi ngay.

Tôi cúi thấp đầu bước hẳn vào trong, tránh thanh dầm dốc của cầu thang.

Ẩn sau đống thùng các-tông đựng quần áo cũ ở góc sâu nhất là chiếc tủ gỗ ép ba ngăn kê sát vách. Phía trên mặt tủ, ai đó đã dùng một tấm bạt dứa màu xanh phủ kín mít, bốn góc chèn ngay ngắn bằng bốn viên gạch xỉ xám để chống chuột.

Bụi bám dày trên lớp bạt. Tôi nhấc từng viên gạch đặt xuống đất rồi kéo mép bạt nilon ra.

Nằm ngay ngắn trên nóc tủ là ba chiếc hộp nhựa trong suốt loại lớn có quai cài màu đỏ, loại hộp người ta hay dùng để lưu trữ tài liệu chống ẩm. Bên hông mỗi hộp đều dán một nhãn giấy kẻ ngang cẩn thận, nét bút dạ đen dứt khoát của bố hiện ra dưới ánh đèn vàng:

Hộp thứ nhất: Hồ sơ dân sinh (2012 – 2016)

Hộp thứ hai: Hồ sơ dân sinh (2017 – 2021)

Và chiếc hộp nằm sâu nhất ở góc kẹt, nhãn dán bằng giấy can đã ngả sang màu vàng chanh:

Tân Minh - Dữ liệu gốc (2010 – 2011).

Tôi đứng chôn chân giữa căn phòng chật chội. Cổ họng khô đắng, hai bàn tay buông thõng bên hông.

Mười lăm năm trước.

Mẹ không nói dối. Tất cả những gì thuộc về cái mùa hè định mệnh ấy đã được gom lại, niêm phong dưới gầm cầu thang suốt hơn một thập kỷ. Bố không xé bỏ, cũng không một lần nhắc đến trong những bữa cơm gia đình. Ông cất giấu nó ngay dưới sàn căn nhà nơi vợ con ông sinh sống mỗi ngày, lặng lẽ và nhẫn nại, như một kẻ tự chôn món nợ đời dưới chân giường ngủ.

Tôi quỳ một bên gối xuống nền gạch tàu lạnh buốt, gạt hai chiếc chốt nhựa màu đỏ sang hai bên. Nắp hộp nhựa được nhấc lên, kéo theo một luồng không khí hăng nồng mùi giấy ẩm tích tụ lâu năm.

Bên trong là hàng chục tập hồ sơ dày cộp. Kẹp sắt lớn rỉ sét thành những vệt màu nâu đỏ lem nhem trên mép giấy. Những tờ đơn khiếu nại viết tay bằng bút mực xanh, bản đồ quy hoạch trích lục phơi màu xanh lơ in tỷ lệ 1/2000 gấp làm tư, biên bản kiểm kê hoa màu phục vụ giải phóng mặt bằng… Từng tập được xếp ngay ngắn theo vần tên chủ hộ: Bà Sáu (thửa 12), Chú Bảy (thửa 18), Ông Minh (thửa 04)…

Đang lật dở tập giấy kiểm kê đất bãi, ngón tay tôi khựng lại trước một tấm bìa cứng nằm kẹp giữa hai tờ báo địa phương cũ.

Tôi rút tấm bìa ra.

Một bức ảnh màu khổ 15x21, bốn mép giấy đã cong vênh và ngả màu ố vàng vì hơi nước.

Ảnh chụp một buổi sáng nắng chang chang trên nền đất đỏ quạnh của công trường san lấp ven bờ kênh. Phía sau lưng những người trong ảnh là hàng cọc tiêu cắm cờ đuôi nheo và chiếc máy ủi bánh xích đỗ nghiêng bên con đập đất tạm.

Hơn mười người đứng chen chúc trong khung hình. Họ mặc quần áo lao động bạc phếch, chân xỏ ủng cao su dính bết bùn non, đầu đội mũ cối hoặc nón lá. Những gương mặt đen nhẻm vì nắng gió đang cùng nhìn thẳng vào ống kính máy ảnh.

Tôi nhận ra ông Minh sửa xe ngày ấy tóc vẫn còn xanh, một tay kẹp chiếc mỏ-lết, khóe miệng nhếch lên nụ cười nửa vời phong trần. Tôi nhận ra bà Sáu mặc chiếc áo cánh màu xanh công nhân, người đứng thẳng thớm chứ chưa còng rạp xuống vì thoái hóa khớp như bây giờ, tay xách chiếc làn mây đựng mấy gói xôi xéo.

Và đứng ở chính giữa nhóm người, một tay vịn vào vai người thợ đứng bên cạnh, là bố.

Nguyễn Văn Thành của mùa hè năm hai nghìn mười một.

Trong ảnh, ông mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu trắng đã ngả màu cháo lòng, đeo cặp kính cận gọng đồi mồi quen thuộc.

Ông cười.

Một nụ cười rạng rỡ, mắt sáng rực niềm tin.

Tôi đứng chết lặng trong góc kho tối. Suốt gần ba mươi năm làm con của ông, chưa một lần tôi nhìn thấy nụ cười ấy. Trong trí nhớ của tôi, ông luôn là một khối đá trầm mặc, đôi mắt mệt mỏi sau cặp kính lão và khóe môi mím chặt như một vết sẹo câm lặng.

Lúc chụp bức ảnh này, ông và tất cả những con người đứng đây đều tin con đập đất kia sẽ mang lại một tương lai khác cho Minh Khê. Họ tin những bãi sình lầy ven sông sắp nhường chỗ cho một khu phố sạch sẽ, khang trang. Họ đứng cạnh nhau, chia sẻ chung một niềm hy vọng chất phác trước ngưỡng cửa đổi đời.

Để rồi chỉ mười ngày sau, cơn mưa tháng Bảy quét sạch tất cả.

Tôi lật mặt sau của bức ảnh.

Nền giấy tráng bạc đã ngả màu vàng đục, bám vài vệt ốc sên bò khô lại thành đường chỉ bóng nhẫy. Ở góc trên bên trái, bằng nét bút mực Cửu Long quen thuộc, bố viết một dòng chữ duy nhất:

“Có những thứ nếu không giữ lại sẽ biến mất.”

Ngày tháng ghi bên dưới: Minh Khê, 02/07/2011.

Đúng mười hai ngày trước đêm con đập tạm vỡ toác.

Tôi ngồi bệt xuống sàn nhà kho, lưng tựa vào vách gỗ mục của chiếc tủ ép, mắt dán chặt vào nét mực đã phai màu.

Bố giữ lại những thứ này không phải để làm bằng chứng kết tội ai. Ông giữ lại vì ông sợ thời gian sẽ bôi xóa tất cả. Sợ rằng khi đất đá bị dọn đi, khi dự án bị bỏ hoang cho cỏ dại mọc lút đầu người, khi dân làng tản mát hoặc cố tình quên đi nỗi đau để tiếp tục mưu sinh, thì những tổn thương, những lời hứa dở dang và niềm hy vọng từng có của những con người này sẽ biến mất như bọt nước.

Ông giữ lại, để cả đời tự nhắc mình rằng ông từng là một phần của sự đổ vỡ ấy.

Gió đêm luồn qua khe thông gió thổi vào sau gáy lạnh ran. Bóng đèn quả nhót trên trần tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù.

Tôi cúi người, đưa tay với xuống đáy chiếc hộp nhựa, nơi một tập tài liệu dày nhất vẫn nằm im lìm dưới lớp báo cũ.

Đầu ngón tay chạm vào một tập bìa còng màu nâu sẫm, dày cộp chừng bốn năm phân, kẹp chặt bằng hai nẹp sắt to bản đã hoen gỉ. Gáy bìa đã sờn rách lớp simili, để lộ phần giấy ép xám xịt bên trong. Nhưng trên mặt bìa trước, tờ giấy A4 bọc trong lớp màng bóng kính dán băng keo vẫn còn nguyên vẹn.

Dòng tiêu đề in bằng máy in kim đậm nét:

DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI TÂN MINH - BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VÀ HỒ SƠ THỎA THUẬN DÂN SỰ (LƯU TRỮ ĐỘC LẬP)

Phía dưới tiêu đề, ở phần đại diện ký kết, có hai chữ ký tươi nằm song song:

Một chữ ký bằng mực xanh dứt khoát của bố tôi: Nguyễn Văn Thành.

Và chữ ký thứ hai, bằng mực đen đậm nét, nét bút uốn lượn đầy uy quyền của người đại diện liên danh chủ đầu tư:

Trần Văn Quang.


0