Chương 14: Người Đã Đến Đầu Tiên
Những Người Còn Ở Lại
Mục lục
24 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 24/24 chương
Căn phòng khách lợp ngói vảy rơi vào một khoảng im ắng kéo dài.
Bên ngoài, gió bãi đã ngưng bặt. Ánh đèn tròn treo giữa xà nhà phả xuống nền gạch hoa một quầng sáng vàng đục, tù mù.
Tôi nhìn chằm chằm vào điếu thuốc chưa châm trên tay Nam. Đầu ngón trỏ của anh hơi run, vết ố vàng của khói thuốc in đậm trên khớp xương gầy guộc.
"Bố em đào bùn?" Cổ họng tôi khô khốc, bật ra một câu hỏi vụng về đến trơ trẽn.
"Gần nửa tiếng," Nam đáp, mắt nhìn xuống chiếc nạng gỗ tựa bên vách tường. "Lúc người ta kéo được anh lên mặt đê, bố em ướt sũng từ đầu đến chân, áo rách tả tơi, hai bàn tay rách toác vì cạy đá hộc. Ông ấy bế xốc anh lên, chạy bộ hơn một cây số ra trạm xá xã giữa trời mưa tầm tã. Bác sĩ ở trạm bảo chậm chừng mười lăm phút nữa thôi, máu tụ chèn ép hoại tử động mạch, cái chân này không phải chỉ teo cơ như bây giờ đâu. Người ta sẽ cưa cụt lên tận háng."
Nam dừng lại, quẹt que diêm mồi lửa. Ngọn lửa bập bùng liếm vào đầu điếu thuốc. Anh rít một hơi thật sâu, ngửa đầu phả luồng khói xanh lên xà nhà mục.
"Sau đêm ấy, anh nằm ở viện tỉnh gần ba tháng. Mẹ ngất lên ngất xuống, bà ngoại thì nằm liệt giường. Chiều nào tan tiết dạy ở trường huyện, bố em cũng đạp xe mười mấy cây số lên viện. Có những đêm anh sốt li bì vì nhiễm trùng vết mổ, nửa đêm mở mắt ra chỉ thấy thầy Thành ngồi ngủ gục trên cái ghế đẩu cạnh giường, đầu tựa vào gióng sắt, tay vẫn còn kẹp xấp bài thi chấm dở."
Tôi ngồi chết trân trên chiếc ghế mít.
Mùa hè năm mười hai tuổi bỗng nứt toác ra trong trí nhớ. Tôi nhớ mùa hè năm đó bố gầy rộc, hai hõm má sâu hoắm. Mẹ càu nhàu suốt ngày vì những bữa cơm nấu xong để nguội ngắt, bố đi biền biệt từ sáng sớm đến nửa đêm. Có lần tôi bị sốt phát ban li bì hai ngày, tỉnh dậy thấy mẹ ngồi đắp khăn ướt, tôi hỏi bố đâu, mẹ gắt: "Bố mày bận lo chuyện thiên hạ rồi, hơi đâu mà ngó mày".
Năm ấy tôi tin mẹ. Tôi giận ông. Tôi nghĩ ông coi trọng công việc ngoài xã hội hơn thằng con ruột thịt.
Hóa ra những đêm ấy, ông thức trắng ở khoa chấn thương Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh An để giữ lại mạng sống cho một đứa trẻ mười bảy tuổi.
"Lúc biết chân phải bị liệt một phần, anh phát điên," giọng Nam chìm dưới tiếng rít thuốc lá. "Anh đập phá đồ đạc, đuổi tất cả mọi người ra ngoài. Anh gào lên với mẹ là thà chết đi còn hơn sống tàn phế. Mẹ chỉ biết ngồi sụp xuống góc phòng khóc. Chiều hôm ấy, bố em bước vào. Chẳng nói chẳng rằng, ông ấy tát anh một cái trời giáng."
Tôi giật nảy mình ngẩng lên. Suốt hai mươi bảy năm làm con của ông, dù tôi có nghịch ngợm hay ngỗ ngược đến đâu, bố chưa từng một lần đụng đến ngón tay. Hình phạt lớn nhất của ông luôn là sự im lặng. Một sự im lặng lạnh ngắt như bức tường đá.
"Cái tát nổ đom đóm mắt," Nam khẽ nhếch mép, những nếp nhăn quanh khóe mắt xô lại. "Tát xong, ông ấy túm cổ áo anh giật ngược dậy, gằn từng chữ: 'Mày muốn chết thì đợi mẹ mày chết trước đã rồi hãy chết. Mày còn hai bàn tay, còn cái đầu, què cái chân chứ có què nhân cách đâu mà hèn hạ thế?'. Mấy hôm sau, ông ấy bắt đầu mang mấy mẩu gỗ thừa với dao trổ lên viện, ép anh ngồi tỉa từng que tăm tre. Lúc đầu tức quá, anh vứt toẹt xuống gầm giường. Ông ấy lại lụi hụi nhặt lên, đặt vào tay anh. Cứ thế, ròng rã suốt hai năm trời..."
Nam đưa mắt nhìn ra chiếc bàn dài kê sát cửa sổ, nơi những mô hình nhà cổ thu nhỏ đang nằm im lìm trong bóng tối.
"Bố em giúp mẹ làm thủ tục vay vốn chính sách, rồi nhờ người quen ở làng nghề bên huyện Đông dạy anh tiện gỗ, chạm khắc. Mấy xưởng lưu niệm trên thành phố chịu nhận mối hàng cũng là nhờ ông ấy lặn lội đi chào từng chỗ. Bố em không cho anh tiền. Ông ấy cho anh một cái nghề, để anh có thể tự ngẩng mặt nuôi mẹ già mà không phải ngửa tay xin xỏ ai một đồng cắc."
Minh Anh ngồi bên cạnh khẽ đặt cốc nước chè nguội xuống bàn. Nó quay sang nhìn tôi, nhưng tôi gí chặt mắt xuống mặt gỗ, né tránh hoàn toàn cái nhìn ấy.
Trong lồng ngực tôi lúc này không có một giọt xúc động nào.
Chỉ có một khối uất nghẹn dâng lên cuồn cuộn, rát buốt và cay đắng.
Tại sao?
Tại sao một người đàn ông có thể nhẫn nại, có thể bỏ ra hàng năm trời để nâng đỡ một người xa lạ... nhưng chưa từng nói với con trai mình lấy một lời tử tế?
Sáu năm tôi cày cuốc trên Hà Nội, ông chưa từng hỏi tôi có mệt không. Đêm tôi bị đối tác quỵt tiền, say khướt gọi điện về nhà, ông nghe máy đúng nửa phút rồi buông một câu cộc lốc: "Say thì đi ngủ đi, đừng làm phiền người khác". Ngày tôi thông báo lập công ty, ông chỉ lạnh tanh: "Tự làm thì tự chịu trách nhiệm".
Tôi đã xây dựng cả cuộc đời mình, sự kiêu ngạo và sĩ diện của mình trên một tiền đề duy nhất: Bố là một kẻ vô tâm.
Tôi rời Minh Khê vì muốn chứng minh tôi không cần ông. Tôi muốn giàu có trên thành phố để chứng minh sự thờ ơ của ông không thể bẻ gãy được tôi.
Vậy mà lúc này, từng người ở cái thị trấn này đang bước ra, đập nát cái tiền đề ấy thành tro bụi. Người ta nói cho tôi biết ông là một người thầy vĩ đại, một chỗ dựa vững chắc cho cả khu Tân Minh.
Nếu ông thực sự tốt đẹp đến thế... thì khoảng cách giữa hai bố con suốt ngần ấy năm rốt cuộc là lỗi của ai?
Chẳng lẽ là do tôi ích kỷ? Do tôi hẹp hòi?
"Khang này," tiếng Nam cắt ngang dòng suy nghĩ đang giằng xé trong đầu tôi.
Tôi ngước lên, cố gồng cơ mặt để giữ vẻ bình thản:
"Sao anh?"
"Hôm đưa tang, anh thấy em đứng ngoài cổng đón khách, mặt lạnh tanh," Nam nhìn thẳng vào mắt tôi, ánh mắt phẳng lặng đến mức khiến tôi thấy mình trơ trẽn. "Mấy người trong họ bảo em làm lớn trên phố nên xa cách, bố mất mà không rơi nổi một giọt nước mắt. Nhưng anh nhìn là anh biết."
Nam gõ đầu lọc thuốc lá vào gờ nắp hộp bánh quy:
"Em giống hệt bố em hồi trẻ. Càng đau, càng bế tắc thì mặt càng lầm lì, chẳng bao giờ chịu để người ngoài thấy mình đuối sức. Bố em lúc còn sống, mỗi lần sang đây uống nước, chẳng mấy khi nhắc chuyện giúp đỡ người này người kia. Nhưng cứ hễ nói về em là mắt ông ấy sáng lên. Ông ấy khoe bài báo viết về công ty của em, khoe cái máy tính xách tay em tự cày tiền mua được... Bố em tự hào về em lắm đấy."
Cổ họng tôi nghẹn cứng.
Hai bàn tay thọc sâu trong túi quần siết chặt lại đến mức các khớp ngón tay đau buốt. Một cảm giác nhục nhã, bẽ bàng tràn ngập buồng phổi, khiến tôi không thở nổi.
Tôi đứng bật dậy, chiếc ghế mít cọ xuống nền gạch hoa kêu một tiếng rít chói tai:
"Muộn rồi. Em xin phép về trước, hôm nào rảnh em lại qua."
Giọng tôi khô khốc, run rẩy một cách thảm hại.
Nam nhìn tôi, ánh mắt không hề bất ngờ. Anh khẽ gật đầu:
"Ừ, về đi em. Đường ngõ tối lắm, hai đứa đi cẩn thận."
Tôi quay người bước nhanh ra khỏi cửa, như một kẻ vừa bị lột sạch quần áo giữa ban ngày đang cắm đầu tháo chạy.
Con đường đất ven bờ kênh cũ tối đen như mực. Đèn pha xe máy của Minh Anh quét một vệt sáng vàng vọt qua những bờ chuối rậm rạp và những rãnh nước tù đọng váng đỏ.
Tôi ngồi phía sau, kéo cao cổ áo khoác, cắn chặt môi để ngăn những đợt run rẩy vô cớ truyền từ lồng ngực ra hai bả vai. Gió đêm thốc vào mặt buốt rát.
Minh Anh lái xe rất chậm, né từng sống trâu trên mặt đường lồi lõm. Ra đến mặt đường nhựa liên xã thênh thang, nó bỗng giảm ga, tấp xe vào lề đường dưới bóng một gốc xà cừ cổ thụ rồi tắt phụt máy.
Ánh đèn đường heo hắt soi rõ bóng hai đứa đổ dài ngoằng trên mặt đường nhựa. Tiếng lốc máy con xe ga vừa tắt còn lách tách tản nhiệt trong đêm.
"Anh sao thế?" Minh Anh chống chân xuống mặt đường, xoay hẳn người lại.
"Sao là sao?" Tôi đút hai tay vào túi quần, quay mặt nhìn hút ra cánh đồng tối om phía xa.
"Từ lúc ở nhà anh Nam ra, mặt anh như người mất hồn," giọng nó hạ xuống, rụng sạch vẻ cợt nhả ban ngày. "Nghe người ta kể tốt về bố mình thì phải thấy nhẹ nhõm chứ. Sao mặt lại hầm hầm như muốn chém người thế?"
"Bà không hiểu đâu."
"Tôi không hiểu thì anh nói mẹ ra xem nào," Minh Anh nhướng mày, ngón tay gõ cộc cộc lên ghi-đông sắt. "Hay là anh tức vì nhận ra bố anh chẳng tồi tệ như anh vẫn rủa suốt mười mấy năm nay? Nhận ra mình trách nhầm ông ấy nên thấy nhục chứ gì?"
Máu trong người tôi sôi lên sùng sục, giật thắt hai bên thái dương.
"Bà câm mồm đi!" Tôi quát thẳng vào mặt nó, quai hàm bạnh ra. "Bà biết cái thớ gì mà phán? Người ngoài nhìn vào ai chẳng thấy ông ấy vĩ đại, ai chẳng khen ông ấy tử tế! Nhưng bà có từng phải sống trong một căn nhà mà bố nhớ từng viên thuốc khớp của con mụ bán bánh cuốn, nhưng chưa một lần thèm bước chân đi họp phụ huynh cho con mình không? Bà có biết cảm giác bố mình thức trắng đêm lau đờm giặt tã cho người dưng ở bệnh viện, nhưng ngày con trai xách ba lô đi thi đại học thì vứt cho mấy tờ bạc lẻ rồi quay lưng bỏ đi không? Cái thứ lòng tốt ấy... với thiên hạ là ân huệ, còn với người nhà là đồ tàn nhẫn!"
Tiếng quát vỡ vụn rọc qua không gian vắng ngắt.
Gió thốc qua rặng xà cừ ràn rạt. Tôi đứng thở dốc, lồng ngực phập phồng nghẹn đắng. Đã bao nhiêu năm tôi luôn cố tỏ ra điềm tĩnh, cố dựng lên cái vỏ bọc của một thằng làm công nghệ thành đạt, lạnh lùng, không bận tâm quá khứ. Vậy mà lúc này, trước mặt một đứa bạn học cũ, tôi đứng gào lên như một thằng hèn bị lột trần vết sẹo thảm hại nhất.
Minh Anh không lùi lại. Đôi mắt một mí của nó dưới ánh đèn vàng vẫn phẳng lì, nhìn xói thẳng vào mắt tôi không chớp.
"Nói xong chưa?" Nó hỏi, giọng nhẹ bẫng.
Tôi cắn chặt môi, quay ngoắt đầu sang bờ ruộng.
"Anh nói đúng một nửa," Minh Anh thở hắt ra một hơi, đưa tay nới lỏng quai mũ bảo hiểm dưới cằm. "Chú Thành không hoàn hảo. Chú ấy nợ anh với cô Lan một người bố, một người chồng đàng hoàng. Chuyện đấy chẳng ai cãi hộ chú được. Nhưng Khang này... người ta chỉ cho đi được thứ người ta có thôi. Chú Thành vụng, chú ấy không biết mở mồm nói ngọt với người nhà, chú ấy mang cái nợ máu với cả cái xóm này suốt nửa đời người. Chú ấy sai, nhưng chú ấy không phải đồ khốn nạn. Anh cứ ôm khư khư cái nỗi hận ấy để làm gì? Để chứng minh cả đời này anh là nạn nhân à?"
Từng câu của nó nện xuống như búa tạ.
Tôi đứng chôn chân bên mép cỏ may. Gió đêm lùa rát buốt qua cổ áo, nhưng bên trong lồng ngực chỉ còn lại một khoảng trống hoác, lạnh tanh.
Minh Anh không nói thêm nửa lời. Nó gạt chân chống, đề máy con xe ga:
"Lên xe. Về thôi, sương xuống buốt đầu rồi."
Suốt quãng đường ngoằn ngoèo rẽ vào ngõ Tân Minh, không ai mở miệng. Tiếng xích xe của chiếc xe chở đất đằng xa vọng lại rù rù.
Dừng trước cánh cổng sắt bong tróc, tôi bước xuống, đưa tay tháo chiếc mũ bảo hiểm trả lại.
"Cảm ơn bà hôm nay," tôi nói khẽ, giọng rệu rã như vừa đi mượn.
Minh Anh đón lấy mũ, nhìn tôi một thoáng rồi khẽ hất cằm:
"Ngủ sớm đi. Đừng có lẩn thẩn."
Ánh đèn hậu đỏ quạch vụt qua khúc quanh rồi chìm nghỉm vào bóng tối của con đường làng.
Khóa cổng sắt xong, tôi bước qua khoảng sân rêu trơn tuột. Không buồn với tay bật đèn tuýp phòng khách, tôi lần từng bậc cầu thang gỗ mò lên tầng hai.
Căn phòng làm việc mờ mờ ánh trăng hắt qua khung chớp. Mùi giấy ố và mùi ẩm mốc bốc lên quen thuộc.
Tôi đi lại gần bàn làm việc, bật chiếc đèn chụp sắt màu xanh lên. Ánh sáng vàng tròn xoe phủ lên xấp hồ sơ dự án Tân Minh năm 2011 mà chiều nay tôi mang về từ trường cũ.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế xoay bọc nỉ cũ kỹ, rút chiếc điện thoại của bố trong túi quần ra đặt lên mặt bàn.
Chiếc điện thoại vỏ nhựa đen nhám vẫn nằm im lìm. Không có tin nhắn nhiệm vụ mới, không có tiếng chuông rung.
Tôi mở chiếc laptop của mình lên, bấm vào thư mục trích xuất dữ liệu của ứng dụng Việc Chưa Xong.
Ngón tay tôi lướt trên bàn rê chuột, mở vào danh mục People. Tôi cuộn xuống tìm cái tên Nguyễn Nhật Nam.
Tệp hồ sơ của Nam hiện ra trên màn hình.
Khác với hồ sơ của bà Sáu hay cô Hạnh - nơi những dòng ghi chú đều có dấu tích xanh hoàn thành hoặc những tệp âm thanh ghi lại kết quả - hồ sơ của Nguyễn Nhật Nam chỉ có một dòng trạng thái duy nhất được tạo từ ba năm trước.
Dòng chữ viết hoa bằng phông chữ không chân thô ráp, bên cạnh là một ô vuông màu đỏ chưa được tích chọn:
[Hồ sơ: Nguyễn Nhật Nam - Trạng thái: Nam việc chưa xong.]
Tôi nhìn chằm chằm vào bốn chữ ấy.
Nam việc chưa xong.
Tại sao?
Nam đã hồi phục, đã có nghề mộc tinh xảo để tự nuôi sống bản thân, đã không còn oán hận chuyện cũ, thậm chí còn biết ơn bố tôi suốt mười lăm năm qua. Mọi thứ tưởng như đã có một kết cục êm đẹp nhất có thể sau một bi kịch.
Vậy rốt cuộc... điều gì về Nguyễn Nhật Nam mà bố tôi vẫn coi là "chưa xong"?
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.