Những Người Còn Ở Lại

Chương 28: Người Muốn Giữ

Đăng: 10/10/2026 07:08 1,467 từ 3 lượt đọc

Tôi đứng bên bờ rào dâm bụt trước nhà cô Tư, bước chân ngập ngừng không nỡ bước vào.

Bên trong sân, chiếc bóng đèn quả nhót đỏ quạnh treo lủng lẳng dưới mái hiên fibro xi măng hắt xuống một vệt sáng mỏng. Cô Tư vẫn ngồi bệt dưới bậc thềm xi măng nứt toác, hai bàn tay chai sần bấu chặt vào mép chiếc quần lụa đen đã sờn chỉ. Đứa con gái mười sáu tuổi ngồi trên chiếc xe lăn khung sắt han gỉ, co ro kéo chiếc chăn mỏng đắp ngang đùi, đôi mắt đờ đẫn nhìn dải băng nilon cắm ngay giữa lối đi.

Tôi bước qua chiếc cọc gỗ sơn đỏ, gót giày giẫm lên vạch sơn cam.

"Cô Tư," tôi cất tiếng gọi khẽ.

Người đàn bà giật mình ngước lên. Đôi mắt trũng sâu đỏ hoe, cánh tay gầy vội quẹt ngang vạt áo. Nhận ra tôi, cô gượng đứng dậy, vịn tay vào thành xe lăn của con:

"Khang đấy à cháu? Sang... sang tìm chú Thành có việc gì à?"

Cô buột miệng hỏi theo thói quen của người xóm cũ, rồi bỗng sững lại, khóe miệng méo xệch: "À... cô lú lẫn quá, chú Thành mất rồi..."

"Cháu vừa đi ngang qua đây," tôi kéo chiếc ghế đẩu gỗ con con kê dưới giàn mướp lại gần, ngồi xuống ngang tầm với hai mẹ con. "Ban dự án vừa cắm cọc chiều nay hả cô?"

"Cắm lúc ba giờ chiều cháu ạ," giọng cô Tư run run, từng tiếng nghẹn lại ở cổ họng. "Mấy chú bên đo đạc cầm máy ngắm, cầm cọc sắt xông thẳng vào sân. Họ bảo đường gom giai đoạn hai cắt chéo qua góc sân với nửa gian buồng ngủ. Bảo nhà cô thuộc diện giải tỏa đi nơi khác."

Tôi nhìn quanh khoảnh sân chật hẹp. Góc hiên kê chiếc bàn máy may con bướm cũ kỹ, bàn đạp sắt mòn vẹt vì hàng chục năm cô đạp chân. Phía trên giăng một sợi dây thép treo lủng lẳng dăm ba chiếc quần âu sờn gấu, vài bộ đồ bộ mặc nhà của mấy bà quanh xóm mang sang sửa khóa, lên lai. Mỗi lượt sửa năm nghìn, mười nghìn, tiền lẻ cô vuốt thẳng nhét vào chiếc hộp bánh quy bằng thiếc để mua gạo và thuốc men cho con.

"Cháu vừa ngoài quán nước chè đầu ngõ về," tôi nói chậm rãi. "Bên dự án họ bảo đợt này có khu tái định cư ngoài phía Tây thị trấn, chia lô đàng hoàng, có đường nhựa với cống ngầm..."

"Đàng hoàng với ai chứ đâu có đàng hoàng với mẹ con cô!" Cô Tư bỗng ngắt lời tôi, giọng lạc đi.

Cô chỉ tay vào chiếc máy may phủ tấm vải hoa đã ố màu:

"Cô không có ruộng, không có vốn buôn bán. Cả đời cô chỉ biết ngồi đạp cái máy này kiếm từng hào nuôi con bé Mai. Ở cái xóm cũ này, người ta thương tình mang quần áo rách sang cho cô vá. Mấy bà đi chợ ngang qua rẽ vào mua cho mớ rau, dúi cho quả cam. Giờ đẩy mẹ con cô ra khu chia lô ngoài bãi Tây, xung quanh toàn người lạ mặt, nhà đóng cửa then cài, ai mang đồ đến đây cho cô may? Cô lấy tiền đâu mà nộp tiền điện, tiền nước máy mỗi tháng?"

Cô Tư nghẹn ngào, bàn tay run rẩy xoa lên đầu gối khẳng khiu của đứa con gái:

"Căn nhà này thấp, dột nát thật, nhưng cô tự tay đổ cái ram dốc xi măng để con bé tự lăn xe ra sân phơi nắng được. Ra khu mới, nhà ống hai ba tầng, cầu thang dốc đứng, cô già rồi cõng nó làm sao nổi? Người ta đền cho cục tiền, ăn tiêu vài năm rồi hết, lúc đó hai mẹ con cô biết bấu víu vào đâu?"

Con bé Mai cúi gằm mặt, hai bàn tay khẳng khiu bấu chặt lấy vành bánh xe lăn han gỉ, bờ vai gầy run lên từng chặp.

Tôi ngồi chết lặng bên mép thềm. Những lời tính toán tiền tỷ rôm rả ngoài quán nước chè bỗng nghẹn đắng nơi cuống họng khi nhìn vào chiếc bàn máy may con bướm và dải dốc xi măng tróc lở dưới chân xe lăn.

Rời nhà cô Tư, tôi đi men theo con ngõ vòng phía sau trạm y tế cũ. Trước hiên tiệm tạp hóa của bà Hiền, bóng mấy người già ngồi chụm lại dưới ánh đèn tròn, tiếng bàn tán rì rầm đứt quãng giữa đêm vắng.

Bà Hiền - người mở tiệm tạp hóa hơn hai mươi năm ở cái góc ngã tư này - đang cặm cụi lật từng trang cuốn sổ nợ bìa các-tông dày cộp dưới ánh đèn tròn.

"Tôi dứt khoát không ký," bà Hiền gằn giọng, ngón tay cái dính mực quệt mạnh lên mặt bàn gỗ. "Bảo tôi già rồi, nhận tiền ra khu tái định cư mà dưỡng già. Dưỡng già cái nỗi gì! Cái tiệm tạp hóa này mỗi ngày bán vài gói thuốc lá, dăm chai nước ngọt, lạng chè mạn cho mấy ông hưu trí ngồi chơi cờ tướng. Tôi sống là nhờ có người ra người vào nói chuyện cho đỡ quạnh quẽ. Chuyển đi chỗ khác, biệt lập từng căn nhà ống đóng cửa cuốn kín mít, già như tôi chắc chết vì buồn trước khi chết vì bệnh!"

Ngồi cạnh bà Hiền là thầy giáo Kiên, người từng dạy cùng tổ Xã hội với bố tôi ở trường cấp ba, đã về hưu gần chục năm. Căn nhà cấp bốn của thầy nằm sát mép mương thoát nước, rợp bóng hai cây ngọc lan cổ thụ do chính tay thầy trồng từ ngày mới về thị trấn công tác.

"Nhà tôi cách trường cũ chưa đầy năm trăm mét," thầy Kiên tháo cặp kính lão xuống, thở dài. "Ngày nào tôi cũng đi bộ sang thư viện trường đọc báo, chiều chiều ra sân thể dục nhìn học sinh đá bóng. Cả cuộc đời tôi gắn liền với cái cổng trường ấy. Giờ chuyển ra tít khu phía Tây, xa lắc xa lơ, đi lại phải phiền con cháu chở xe máy. Tiền đền bù nhiều để làm gì khi mà những thói quen mấy chục năm bị xới tung lên hết?"

Một người đàn ông trạc tuổi anh Nam bước vào tiệm mua bao thuốc lá, nghe thấy câu chuyện thì dừng lại, góp lời:

"Còn thằng cu nhà cháu nữa các bác ơi. Nó bị chậm phát triển, học lớp chuyên biệt ở trường tiểu học ngay đầu xóm. Mấy năm nay nó mới quen được đường đi từ nhà sang trường, người làng người xóm ai cũng biết mặt để dắt hộ nếu nó đi lạc. Giờ dọn ra mặt đường lớn xe tải chạy ầm ầm, cháu đi làm công nhân ca kíp thì ai trông nó? Tiền đền bù có mua lại được sự an toàn cho con cháu không?"

Tôi đứng dựa lưng vào cột hiên tiệm tạp hóa, điếu thuốc trên môi cháy lụi dần. Không một ai trong số họ nhắc đến giá đất. Nỗi sợ của họ nằm ở những thứ bình dị nhất: chiếc máy may con bướm, ấm trà mạn tuổi già, thói quen đi bộ sang trường cũ, và bước chân của một đứa trẻ thiểu năng tập đi giữa làng.

Trên bản vẽ quy hoạch bóng bẩy của Vinh, những con người này chỉ là những con số kiểm đếm vô hồn. Chẳng có dự án nào đền bù nổi một nếp sống đã bện rễ suốt nửa đời người.

Tôi lẳng lặng quay gót bước về nhà.

Con đường bê tông ngột ngạt mùi cát bụi. Tiếng cười nói bàn tán tiền tỷ ngoài quán nước chè vẫn vọng lại râm ran, đối lập với bóng tối câm lặng đang bủa vây lấy những căn nhà cấp bốn xóm trong.

Tôi bước đến trước cổng nhà mình, đứng nhìn chiếc cọc gỗ sơn đỏ cắm trơ trọi bên bờ tường hoa.

Gió đêm thổi thốc qua bờ tường hoa, lạnh buốt. Chiếc cọc gỗ sơn đỏ cắm sâu xuống nền đất, chia cắt ngõ nhà thành hai nửa. Trong đầu tôi, dòng chữ cuối cùng trong lá thư của bố lại hiện lên rành rọt: “Tôi chỉ mong sau này mọi người được tự quyết định bằng đủ thông tin.”

Đứng trước con đường mới, cả người muốn bán lẫn người muốn giữ đều đang bị cuốn vào một cơn sốt mà họ không hề nắm được tương lai phía sau nó.


0