Chương 24: Người Trong Huyện - Bên Kia Đỉnh Núi
Con Trai Trần Gia
Mục lục
28 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 28/28 chương
Xe trâu lọc cọc về gần tới Cam Cốc khi đã sang đầu giờ chiều. Trần Chiêu ngồi dựa vào bao lương thực, hai mắt khép hờ như thể đi chơi cả ngày mệt lả, trong đầu lại đang lặp đi lặp lại những câu chuyện lộn xộn của đám trẻ ăn xin trong huyện thành.
Thằng nhóc Cẩu Oa gầy như que củi, mặc cái quần rách tứ tung, vừa gặm cái bánh ngô được hắn lén cho, vừa kể về những chuyện kỳ lạ mỗi đêm, khi nó nằm co ro gần cổng thành phía bắc:
“Đêm qua, quá giờ giới nghiêm rồi mà cổng vẫn hé ra cho cả mấy xe đồ của tiệm rèn nhà họ Lý cùng đi. Đám người đánh xe lại còn trùm khăn kín mặt. Chúng ta thì đến một miếng vải may quần cũng không có.”
Một đứa khác lớn hơn Cẩu Oa một chút bĩu môi, chen vào:
“Lần nào nửa đêm đoàn xe nhà họ đi qua ai mà chẳng trùm kín hết. Nhưng lính gác cũng chẳng hỏi gì. Chỉ cần giơ thẻ lên là cho qua luôn.”
Trần Chiêu miết ngón tay lên cổ tay, lại nhớ tới tiệm rèn nhà họ Lý ở phố đông. Lần trước hắn theo Trần Đại Sơn tới đó, muốn đánh thêm một lưỡi cuốc mà giá tận ba lượng bạc. Tính ra hơn một nửa con trâu. Khách khứa tới tiệm rèn vắng vẻ không một mống, vậy mà bên trong có hẳn ba bốn người thợ, thêm vài người phụ việc tay quai tay bễ tấp nập không ngớt. Lão Lý còn xua tay bảo đang bận làm hàng gấp cho quân doanh, muốn đặt lưỡi cuốc thì phải chờ khá lâu, giá cao cũng là vì thế.
Tiệm rèn nhà họ Lý thường làm và sửa đồ cho doanh trại đóng ở phía bắc, cách huyện thành 60 dặm. Muốn tới đó đi bằng xe trâu cũng mất nguyên ngày, cả đi lẫn về cần phải hai ngày đường. Đồ sắt quý giá, được nhà nước quản lý nghiêm ngặt như vậy, lại là hàng của quân đội. Không có người hộ tống, sao chúng không chờ trời sáng hãy đi cho an toàn mà lại toàn chờ lúc nửa đêm? Đi đường núi vào giữa đêm không sợ bị cướp sao?
Chúng đã có thẻ bài công vụ trong người, vậy mà vẫn phải chọn lúc nửa đêm, người đánh xe còn trùm kín mặt. Trần Chiêu nghĩ chẳng lẽ mấy xe đồ đó có lý do không muốn để ai trông thấy?
Mang danh hàng của quân đội, đương nhiên chẳng ai trong huyện dám cản. Nhưng cổng thành là việc của huyện, muốn mở sau giờ giới nghiêm vẫn cần có thẻ của nha môn. Dù kẻ đứng sau có là người bên quân doanh, thì trong huyện cũng phải có người lo liệu giấy tờ, thẻ bài cho chúng. Lần nào xe đi, người đó đều sẽ biết rõ.
Vậy thì kẻ chịu trách nhiệm ấy là ai? Không thể là một tên sai dịch bình thường. Cả huyện Trường Khê này chỉ có khả năng trong ba người: huyện lệnh, huyện thừa, sư gia. Hoặc là cả ba cùng nhau cấu kết.
Huyện lệnh Trường Khê - Vương Lâm Bình là người từ nơi khác tới, mới nhậm chức chưa tới hai năm. Đám trẻ ăn xin thường kể chúng thích nhất là cửa sau nhà ông ta, vì cứ vài hôm lại có tiệc, đồ ăn thừa đổ ra cả thùng.
Theo như Trần Chiêu từng thấy qua hồi mới tới, kết hợp với nghe ngóng suốt hơn một năm qua, Vương Lâm Bình đa số công việc đều dựa vào sư gia quyết định. Một người mới tới, không có gốc rễ ở đất này, lại lười nhác tới mức việc công cũng đẩy cho người khác, khó mà tự mình cẩn thận dựng nổi một đường dây bí mật cần phải lo từ tiệm rèn, người đánh xe, cho tới thẻ bài qua cổng thành. Huống hồ hôm ngay phân đất cho thôn hắn, huyện lệnh vốn đã định chia nhỏ ra các thôn, còn sắp nổi nóng tới nơi. Nếu thật sự là kẻ có chủ kiến, ông ta đã tự biết mình muốn gì, chẳng cần đợi người khác kéo ra thì thầm mới đổi ý.
Có điều, không tự tay dựng thì vẫn có thể ngồi yên nhận phần. Mà biết đâu chính vì là người nơi khác tới, chưa có chỗ dựa ở đất này, ông ta mới cố tình tỏ ra lười nhác, việc gì cũng dựa vào sư gia. Một vị quan mới nhậm chức mà làm như chẳng muốn động tay vào việc gì, những kẻ có gốc rễ ở đây sẽ yên tâm mà buông lỏng đề phòng. Còn ông ta muốn đạt được điều gì, thì bây giờ Trần Chiêu vẫn chưa đoán ra.
Nhưng bất kể là vì lẽ gì, việc cũng phải có người làm. Thẻ bài, ấn tín, giấy tờ đi lại giữa tiệm rèn và quân doanh, thứ nào cũng qua tay sư gia. Một người việc gì cũng giao cho sư gia, bỗng dưng tự tay đóng dấu, sai người giữa nửa đêm, sư gia sẽ là kẻ đầu tiên nhận ra. Hơn nữa Trần Chiêu còn nghe đám trẻ ăn xin lớn hơn nói, việc này đã có từ hồi ông huyện cũ còn ở đây rồi. Khi đặt cạnh nhau mới thấy, đường dây này có lẽ đã chạy từ trước khi Vương Lâm Bình tới Trường Khê.
Huyện thừa - Hoàng Trị thì khác. Nghe nói ông ta làm ở huyện này đã lâu, trải qua mấy nhiệm kỳ huyện lệnh. Người này có vẻ khắc nghiệt, hay đi dạo tửu lâu, thấy đám ăn xin hay người nghèo là quát đuổi. Ngay hồi phân đất Cam Cốc, ông ta chỉ đứng một bên, từ đầu tới cuối không nói lấy một câu.
Có gốc rễ lâu năm, về lý thì đủ sức lo liệu một đường dây như vậy. Nhưng Trần Chiêu ghép lại các mảnh thông tin mình có về ông ta thì thấy không có khả năng. Hoàng Trị suốt ngày loanh quanh trong thành, chỉ có việc thuế má đo đạc ruộng đất mới là mảng ông ta coi sóc. Sai nha trong nha môn hễ có việc gì đều chạy đi tìm sư gia, chẳng ai hỏi tới ông ta. Trần Chiêu còn từng nghe đồn hai người huyện thừa và sư gia có lần đã lớn tiếng với nhau trong nha môn, rồi Hoàng Trị phất tay áo bỏ ra ngoài.
Trên danh nghĩa huyện thừa là quan triều đình bổ nhiệm, nhưng ấn tín không nằm trong tay. Thẻ bài đưa cho lính gác khi qua cổng thành, chắc hẳn phải có ấn tín của huyện nha. Ông ta muốn đưa đoàn xe ra cổng sau giờ giới nghiêm chỉ còn cách tạo quan hệ, mua chuộc đám lính gác, nhưng nếu vậy thì cần gì phải giơ thẻ. Huống hồ đám nha sai xưa nay nghe lời sư gia, với lịch sử bất hoà giữa hai người họ, Hoàng Trị làm thế chẳng khác nào đưa điểm yếu vào tay sư gia. Một người bị gạt ra rìa như vậy, dù có muốn cũng khó mà vươn tay tới chuyện này.
Còn tên sư gia - Tạ Việt đã làm sư gia ở Trường Khê từ đời huyện lệnh trước. Huyện lệnh mới tới không đuổi đi mà còn giữ lại, vì hắn am hiểu việc trong huyện hơn ai hết. Chắc hẳn mấy thứ giấy tờ, ấn tín trong nha môn đều qua tay hắn. Muốn có thẻ bài mở cổng sau giờ giới nghiêm, đương nhiên cũng phải qua tay hắn.
Bề ngoài Tạ Việt sống rất bình thường. Đám trẻ ăn xin chưa từng được nhà hắn cho lấy một miếng ăn, nhưng cũng chưa ai thấy nhà hắn bày tiệc hay sắm sửa phô trương gì. Chẳng rõ là có giấu tài sản ngầm hay không.
Tóm lại, Vương Lâm Bình có biết hay không, có nhận phần hay không, có đứng phía sau hay không, thì theo Trần Chiêu tên sư gia vẫn nhất định phải nằm trong chuyện này.
Tối đó, vừa ăn xong Trần Chiêu đã lấy lý do đi huyện thành chơi cả ngày mệt mỏi, rồi chuồn về phòng ngủ sớm.
Sau khi cài chặt then cửa, hắn trải tấm bạt chắn sáng thành cái lều nhỏ trùm kín góc giường, rồi mới lấy từ trong không gian ra một bộ tích điện cùng chiếc máy tính xách tay. Phòng của thằng nhóc Trần Húc ngay kế bên, tuy đoán nó có biết gì cũng sẽ chọn im lặng, nhưng Trần Chiêu nghĩ cũng không nên để nó thấy bất thường quá. Chờ màn hình vừa sáng lên, hắn vội chỉnh độ sáng xuống thấp nhất.
Hơn một năm nay, hắn đã lén thả drone khảo sát địa hình không biết bao nhiêu lần. Cũng lắp camera giấu kín ở vài điểm quan trọng quanh Cam Cốc. Drone của hắn có loại chuyên dùng cho khảo sát, đo vẽ bản đồ, thời gian bay lâu hơn các loại drone thông thường, cho bay theo lộ trình cài sẵn cũng không cần lo núi chắn mất sóng. Sau nhiều lần dần dần cũng ghép được thành một tấm bản đồ Cam Cốc cùng vùng núi xung quanh trong bán kính 20km - tính ra khoảng 35 đến 40 dặm - hoàn chỉnh.
Ra khỏi cổng bắc huyện thành Trường Khê là quan đạo chạy thẳng lên phía bắc. Đi chừng hai dặm thì gặp ngã ba thứ nhất. Đường lớn vẫn tiếp tục hướng bắc, thêm gần sáu mươi dặm nữa là tới doanh trại quân đội. Còn nhánh bên trái rẽ chếch lên phía tây bắc, dẫn về trấn Thượng Khê.
Theo nhánh đường về Thượng Khê thêm chừng mười ba dặm, tức cách huyện thành mười lăm dặm, lại gặp ngã ba thứ hai. Từ đây có một lối nhỏ rẽ xuống phía tây nam, qua cửa đèo Phong Môn Khẩu, đi thêm năm dặm nữa là vào tới lòng thung lũng Cam Cốc. Nếu không rẽ mà cứ theo đường cũ đi tiếp về phía tây bắc, qua chừng hai mươi lăm dặm sẽ tới trấn Thượng Khê. Ba điểm huyện thành, Cam Cốc và trấn Thượng Khê cứ thế tạo thành một hình tam giác, Cam Cốc nằm lọt thỏm ở góc phía tây.
Mô hình bản đồ ba chiều hiện lên từng lớp. Thung lũng lọt thỏm giữa ba mặt núi, Bạch Hổ Sơn sừng sững phía bắc, đồi Kê Lâm thoai thoải phía đông nam, dãy Thiên Nham trắng xám chạy dọc phía tây. Phong Môn Khẩu như cái cổ chai, dẫn ra con đường lớn uốn mình về quan đạo.
Trần Chiêu kéo khung hình ra phía đường lớn, lần theo từng đoạn.
Hắn không biết đoàn xe rẽ ở đâu. Đám trẻ ăn xin chỉ thấy xe ra khỏi cổng bắc, còn đi tiếp thế nào thì chẳng ai hay. Có khi chúng đi thẳng tới doanh trại thật, còn những gì hắn nghĩ ra từ chiều tới giờ rất có thể đều là tự nghĩ nhiều.
Hắn lọc hết những lối rẽ khỏi con đường lớn trong phạm vi tấm bản đồ. Phần lớn là đường mòn cho người đi, hẹp, dốc, rễ cây chằng chịt, gánh gồng thì được, xe trâu chở nặng không lọt nổi. Có vài lối rộng hơn, nhưng chỉ vào tới mấy khoảnh ruộng bỏ hoang hay bãi đất người ta đốn củi là tới đường cụt. Loại dần từng lối theo độ rộng, độ dốc, bán kính khúc quanh, việc này hắn đã làm cả nghìn lần ở kiếp trước khi đi khảo sát mở đường cho những dự án vùng núi. Chỉ khác là khi đó vây quanh hắn có cả một đội kỹ sư, còn bây giờ chỉ có một đứa bé bốn tuổi như hắn lần mò giữa đêm.
Cuối cùng, hắn dừng lại ở một lối rẽ nằm trước Phong Môn Khẩu chừng vài dặm.
Nhìn từ trên cao, nó chẳng có gì nổi bật. Miệng lối rẽ bị một lùm cây rậm che khuất, nếu đi ngang qua trên đường lớn, hẳn chỉ tưởng là lối mòn của tiều phu. Nhưng khi hắn lần theo vào trong, con đường cứ thế kéo dài, men theo chân phía tây của dãy Thiên Nham, luồn qua rừng thông rồi mất hút dưới tán cây.
Trần Chiêu phóng to từng đoạn.
Chỗ đường lộ ra giữa các khoảng rừng thưa đủ rộng cho một chiếc xe trâu. Mặt đất trống trơn, không một ngọn cỏ, có vài đoạn trũng xuống thành hai vệt song song, như bị bánh xe nghiến đi nghiến lại nhiều lần. Ở một khúc cua gấp, hắn thấy mấy gốc cây bị cưa ngang sát đất, mặt cắt còn sáng màu. Lối của tiều phu thì chẳng ai cất công dọn cây đổ cho rộng ra như thế.
Còn độ dốc. Đoạn đường lên sườn núi không đâm thẳng mà vòng qua vòng lại mấy lượt, mỗi đoạn đều thoai thoải vừa đủ cho trâu kéo xe nặng. Người đi bộ đương nhiên chẳng cần và chẳng có khả năng làm như vậy.
Con đường này có người làm ra. Và có người vẫn đang giữ nó. Ở thời đại mà công cụ lao động vô cùng thiếu thốn này, không thể nào chỉ là người dân bình thường mà có thể tạo ra nó, phải là một tổ chức có nguồn lực lớn. Hoặc có mục tiêu lớn đáng để họ bỏ sức người, sức của tạo nên con đường này.
Hắn tiếp tục lần theo. Con đường vòng qua phía sau dãy Thiên Nham, càng đi càng xa đường lớn, rồi đột ngột dừng lại ở một khoảng trống sát chân vách đá. Chỗ đó nằm ở rìa tấm bản đồ, hình ảnh mờ nhoè vì lần ấy drone đã bay tới giới hạn. Hắn chỉ nhìn ra được một khoảnh đất bằng, mấy bóng đen lờ mờ dưới tán cây, không rõ là tảng đá hay mái che.
Hắn thử tính toán khoảng cách. Từ khoảng trống ấy, nếu vượt qua sống núi Thiên Nham mà xuống, chưa tới ba dặm là tới lòng thung lũng. Tới đúng dải chân núi phía tây, nơi có khu nghĩa địa hoang và ngôi mộ tập thể phủ vôi.
Trần Chiêu ngồi ngẩn người một lúc lâu.
Một thung lũng bỏ hoang bốn năm. Một tên sư gia kéo huyện lệnh ra thì thầm vào phút chót. Một thôn lưu dân vừa nghèo vừa cả tin, lại mang ơn huyện, được đưa vào đúng chỗ này. Từ ngày tới đây, người Cam Cốc chỉ quanh quẩn trong cốc làm ăn, lên núi săn bắt cũng chỉ đi phía Kê Lâm với Bạch Hổ Sơn. Dãy Thiên Nham toàn đá, cây cối thưa thớt, thú rừng chẳng có bao nhiêu, xưa nay đương nhiên không ai dở hơi mà trèo sang bên kia.
Hắn tắt máy, thu hết mọi thứ vào không gian, rồi nằm xuống nhìn lên mái nhà tối om. Hắn cảm thấy hơi muốn thở dài, nếu suy đoán của hắn không sai, thì có lẽ cả thôn bấy lâu nay lại đang sống ngay sau lưng cái kho hàng của người khác.
Nếu muốn biết cái kho ấy chứa gì, hắn còn phải thả drone qua bên kia núi xem kỹ thêm một chuyến. Nhưng hắn vẫn đang nghi ngờ khu vực đó có thể liên quan mấy xe đồ sắt của tiệm rèn nhà họ Lý.
Phải đợi thêm hai ngày, Trần Chiêu mới tìm được cơ hội. Thằng nhóc Trần Húc sáng sớm đã theo Lưu Hải lên Kê Lâm săn bắn chuẩn bị tích trữ cho mùa đông sắp tới, bình thường thì phải chiều nó mới về. Cả nhà hôm nay bắt đầu tất bật gieo lúa mì vụ đông, đứa trẻ bốn tuổi như hắn, chẳng ai trông mong làm việc gì, chỉ được dặn một câu chơi quanh nhà, đừng đi xa.
Trần Chiêu gật đầu ra một vẻ bé ngoan nghe cha mẹ dặn. Chờ họ vừa ra khỏi nhà, hắn mới chắp tay sau lưng, lững thững đi về phía chân núi Thiên Nham.
Khu nghĩa địa hoang vẫn vắng tanh như mọi khi. Người trong thôn kiêng kỵ, bình thường chẳng ai muốn lai vãng tới gần. Trần Chiêu tìm một mỏm đá thấp khuất sau mấy bụi cây, loay hoay trèo lên. Mỏm đá chỉ cao ngang đầu người lớn, vậy mà cái thân bốn tuổi này của hắn phải bám tay bám chân mất nửa ngày mới lên được tới nơi.
Hắn ngồi thở một lúc, rồi mới lấy chiếc drone từ trong không gian ra.
Lộ trình bay hắn đã cài sẵn từ đêm qua. Cất cánh, lên thẳng cao hơn sống núi vài trăm mét, lướt qua khoảng trống bên kia theo một đường thẳng, không vòng lại, không hạ thấp, rồi tự quay về chỗ cũ. Đèn cũng tắt hết. Máy ảnh để chế độ chụp liên tục, phải quay luôn cả đoạn đường đi.
Hắn đặt drone xuống mặt đá, bấm lệnh.
Tiếng cánh quạt vo lên một thoáng rồi nhỏ dần. Chấm đen vút thẳng lên trời, khi qua khỏi đỉnh Thiên Nham thì chỉ còn bé bằng hạt đậu, rồi mất hút sau sống núi.
Chẳng có hình ảnh nào truyền về. Núi đá chắn hết sóng.
Trần Chiêu ngồi co chân trên mỏm đá, lẳng lặng nhìn mấy ngôi mộ xung quanh. Hắn đã tính toán kỹ, pin đủ cho gấp ba quãng đường. Nhưng biết là một chuyện, ngồi chờ lại là chuyện khác. Trong đầu hắn cứ tự lẩm nhẩm lại thời gian bay, tốc độ gió, độ cao sống núi. Ở kiếp trước, lần đầu ngồi chờ kết quả đấu thầu một dự án lớn, hắn cũng chẳng sốt ruột tới như vậy.
Hai mươi phút sau, chấm đen mới lại hiện ra trên nền trời. Nó hạ xuống, đậu lại đúng chỗ cũ, cánh quạt dừng hẳn.
Trần Chiêu lúc này mới khẽ thở phào, thu ngay chiếc máy vào không gian, rồi lại vất vả bám tay bám chân tụt xuống khỏi mỏm đá.
Sau khi về nhà, cài chặt then cửa, hắn mới mở dữ liệu ra tỉ mỉ xem kỹ từng ảnh.
Đoạn đường mòn sau lưng Thiên Nham hiện ra rõ ràng hơn hẳn tấm bản đồ cũ. Con đường uốn quanh chân núi, chui dưới tán thông, tới một khoảng trống sát vách đá thì dừng.
Hắn phóng to tấm ảnh trên màn hình. Khoảng trống ấy rộng chừng bằng hai cái sân nhà hắn gộp lại. Dưới tán cây có ba gian lán lợp cỏ tranh, mái thấp, vách phủ đầy cành lá, nhìn từ xa dễ tưởng là bụi rậm. Cạnh lán có một bãi đất nện phẳng, dấu bánh xe dày đặc, chồng lên nhau thành từng lớp. Hai chiếc xe trâu trống trơn nằm lăn lóc ở góc sân.
Hắn đếm được tám người. Hai người ngồi dưới gốc cây, sáu người đang khuân vác gì đó từ trong lán ra. Quần áo bọn họ mặc chẳng khác gì nông dân bình thường. Nhưng cả tám người đều đeo đao bên hông.
Trần Chiêu phóng to thêm nữa. Thứ bọn họ khuân vác là những bó dài, được quấn chặt bằng chiếu cỏ. Ở một tấm ảnh, mép chiếu bị xô lệch, để lộ ra một góc sáng loáng dưới nắng trưa. Những thanh dài xếp khít vào nhau, đầu nhọn.
Trần Chiêu thầm nghĩ, có lẽ hắn tìm được số đồ sắt của tiệm rèn nhà họ Lý đi đâu rồi.
Hắn kéo tiếp đoạn phim quay. Phía sau mấy gian lán, men theo chân vách đá, còn một lối mòn nhỏ hơn nữa. Lối này hẹp tới mức xe không lọt, ngoằn ngoèo chạy về phía tây bắc, luồn sâu vào những dãy núi trập trùng rồi mất hút ngoài khung hình.
Nếu như đoàn xe đêm chở hàng từ tiệm rèn tới đây. Những người đánh xe có thể chờ ở đây một ngày, đợi cho đủ thời gian rồi mới quay trở về, khớp đúng thời gian như là vừa đi doanh trại. Còn hàng thì được chuyển sang phương thức vận chuyển khác, đi tiếp vào sâu trong núi.
Vậy thì nơi này không phải cái kho. Nó là một trạm trung chuyển. Thứ hàng kia còn đi xa hơn nữa, về phía mà hắn chưa nhìn thấy.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.