Quyển 1: Man Di
Chương 10: Đêm Giải Cứu
Nam Kha và A Phúc chờ đến khi trăng lên. Không phải vì trăng giúp ích gì, mà vì A-Phúc ra hiệu bằng cách chỉ lên trời rồi đặt lòng bàn tay xuống đất. Và Nam Kha hiểu rằng khi trăng lên cao hơn tán cây, ánh sáng sẽ dịch qua bên kia trại, phía sau lều, phía họ đến sẽ tối hơn bây giờ. Cậu bé chín tuổi hiểu rừng đêm như anh hiểu bố cục một bài tiểu luận. Đó là bản năng, không cần giải thích, và Nam Kha đã ngừng ngạc nhiên về chuyện đó từ lúc nào anh không nhớ nữa.
Khi ánh trăng bạc dịch đủ xa, A-Phúc chạm vào cánh tay anh một cái nhẹ, rồi bắt đầu bò.
Khoảng đất trống từ rìa rừng đến hàng cọc phía sau lều dài khoảng ba mươi bước chân, Nam Kha đã đếm ban chiều. Nhưng bây giờ, khi anh đang nằm sấp trên lớp cỏ ướt sương bò từng centimet về phía đó, ba mươi bước trở thành ba mươi thế kỷ. Mặt đất dưới bụng anh lạnh ngấm vì sương đêm đã thấm đều, cái lạnh ẩm len qua áo vào da. Mùi cỏ bị ép dập dưới ngực anh trộn với mùi đất mùn tạo thành một thứ mùi nồng đậm mà anh sẽ nhớ mãi, vì nó gắn liền với cái cảm giác tim đập trong lồng ngực mạnh đến mức anh sợ tên lính đi vòng nghe thấy.
Bếp lửa trong trại đã tàn xuống thành đám than đỏ lờ mờ, không còn ngọn lửa thật, chỉ ánh sáng cam nhạt đủ để vẽ ra bóng một tên lính đang ngồi gục đầu cạnh đó. Vai tên lính hạ xuống theo nhịp thở đều của người đã chìm vào giấc ngủ chập chờn. Tên đứng gần cổng cũng không còn đứng, mà ngồi tựa lưng vào cọc, đầu ngả sang một bên. Chỉ tên đi vòng vẫn còn di chuyển, nhưng bước chân hắn giờ chậm hơn ban chiều rất nhiều, kéo lê trên đất như người đang đếm từng vòng còn lại trước khi được đổi ca.
Mấy con dế kêu đều trong bụi rậm hai bên bỗng ngắt ngang khi Nam Kha bò qua, im bặt một nhịp rồi kêu lại sau lưng anh. Nam Kha nhận ra rằng tiếng dế là đồng hồ đo khoảng cách, mỗi lần chúng ngắt tiếng kêu nghĩa là anh đang ở đó. Nếu tên lính đi vòng đủ tỉnh táo để nghe thấy cái khoảng im bất thường đó giữa tiếng côn trùng đêm thì mọi thứ sẽ kết thúc trước khi kịp bắt đầu.
A-Phúc bò phía trước, cách Nam Kha chừng hai sải tay, bóng cậu bé thấp sát đất gần như lẫn vào cỏ. Anh cố bắt chước cách cậu bé di chuyển, dùng khuỷu tay và đầu gối thay vì lòng bàn tay, nhưng cơ thể anh to hơn, nặng hơn. Mỗi lần nhích về phía trước, cỏ dưới ngực anh phát ra một tiếng xào xạc nhỏ mà anh nghe rõ mồn một dù có lẽ nó không to hơn tiếng gió.
Họ đã bò được chừng hai phần ba khoảng cách khi tên lính đi vòng đột ngột quay lại.
Nam Kha chết lặng. Anh nằm bẹp, mặt áp xuống cỏ ướt, mùi đất ngấm lên mũi, và anh nhắm mắt lại theo bản năng dù biết điều đó vô nghĩa. Vì nhắm mắt không làm mình vô hình, nhưng cơ thể anh từ chối mở mắt nhìn khi nghe tiếng bước chân kéo lê đang đến gần, từng bước đều và chậm, nặng hơn lúc trước vì tên lính đang đi thẳng về hướng hai người thay vì đi vòng theo lối cũ. Tim Nam Kha đập dồn dập đến mức anh cảm thấy mạch đập trên thái dương, trên cổ, trên cổ tay, trên từng đầu ngón tay đang bấu vào đất ẩm. Anh nghĩ rất nhanh, rất rõ, rằng nếu tên lính nhìn xuống chân mình lúc này thì hắn sẽ thấy hai cái bóng nằm sấp trên cỏ cách hắn chỉ bốn năm bước, và mọi thứ sẽ kết thúc bằng tiếng hét và giáo đồng.
Bước chân bỗng dừng lại ngay đó, gần đến mức Nam Kha nghe được tiếng tên lính hít mũi, tiếng vải áo cọ vào da khi hắn ta gãi cổ, rồi tiếng một cái ngáp dài, uể oải, kéo lê từ đầu đến cuối. Kiểu ngáp của người mệt đến mức không còn buồn cảnh giác. Rồi bước chân tiếp tục, nhưng lần này đổi hướng, quay về phía cổng, xa dần, xa dần, cho đến khi chỉ còn tiếng dế kêu trở lại đều đặn quanh chỗ Nam Kha nằm.
Nam Kha thở ra không thành tiếng, chỉ là một luồng hơi nóng thấm vào cỏ ướt dưới mặt. Cánh tay anh, khi anh cố nhấc người lên để bò tiếp, run đến mức khuỷu tay khuỵu xuống một lần trước khi giữ được. A-Phúc đã bò đến hàng cọc, quay lại nhìn anh trong bóng tối và chờ. Trong khi đó Nam Kha cố gắng bò nốt đoạn còn lại bằng ý chí nhiều hơn bằng cơ bắp.
Luồn qua khoảng hở giữa hai cọc gỗ, A-Phúc lách vào dễ dàng, thân hình cậu bé nhỏ vừa khít. Còn Nam Kha vai cọ vào gỗ thô ráp, một bên áo xước rách, nhưng anh không để ý, vì mắt anh đã dán vào những hình người đang nằm co ro phía trong trại.
Bà già là người tỉnh trước. Nam Kha nhận ra điều đó qua cách bà ta không động, không giật mình, chỉ mở mắt chậm, như người đã quen tỉnh dậy giữa đêm để nghe ngóng nguy hiểm trước khi quyết định phản ứng. Bà nhìn thẳng vào Nam Kha, ánh than đỏ hắt một vệt mờ lên một bên mặt bà, nửa kia chìm trong bóng tối. Bà nhìn lâu, rất lâu, lâu đến mức anh cảm thấy mình đang bị cân đo từng phân trong im lặng, rồi bà gật đầu. Một cái gật đầu nhỏ, không kịch tính, không cần lời nào đi kèm, nhưng nó đủ rồi.
A-Phúc đã đến bên cạnh bà, hai tay lần tìm nút dây thừng quanh cổ tay bà trong bóng tối. Ngón tay nhỏ của nó làm việc nhanh và chắc, móc, kéo, nới theo đúng trình tự mà chỉ người từng bị trói nhiều lần mới biết, vì dây thừng có logic riêng và cậu bé đã học thuộc logic đó bằng da thịt của chính mình. Dây lỏng ra, bà già xoa cổ tay mình một cái, không một âm thanh, rồi quay sang thằng bé nằm gục đầu vào đùi bà. Bà ta đặt một tay lên miệng nó trước khi lay nhẹ, chặn tiếng sợ hãi đầu tiên của một đứa trẻ choàng dậy giữa đêm trước khi nó kịp thoát ra ngoài.
Nam Kha bò đến chỗ cậu thiếu niên vai gồng, và cậu ta giật mình tỉnh dậy, mắt mở to trong bóng tối, miệng vừa hé ra thì A-Phúc đã chồm tới bịt chặt, ghé sát tai thì thầm gì đó bằng ngôn ngữ cùa bọn họ. Cậu ta cứng người một giây, rồi cái cứng tan ra, cậu ta nhìn Nam Kha, và Nam Kha thấy trong mắt cậu ta một thứ gì đó giữa nghi ngờ và một tia hy vọng quá mỏng để dám tin tưởng hẳn. A-Phúc cắt dây cho cậu thiếu niên, rồi sang cô gái trẻ co ro phía gần bà già, tay cô ta run khi dây được tháo nhưng mắt tỉnh và sáng. Thằng bé nhỏ đã bò đến bên A-Phúc từ lúc nào, nó không khóc, chỉ bám chặt lưng cậu ta bằng cả hai tay như đã quen bám kiểu đó nhiều lần trước, kiểu bám của đứa trẻ biết rằng lưng anh mình là chỗ an toàn nhất còn lại trên đời. Một người phụ nữ gầy, Nam Kha chưa biết tên, tỉnh dậy tự tháo nốt dây thừng mà A-Phúc đã nới sẵn, rồi cầm tay đứa bé gái nhỏ nhất trong nhóm kéo lại gần mình.
Còn người đàn ông bị xích, Nam Kha bò đến chỗ người đàn ông to lớn ngồi tách riêng ở góc trại. Anh nhìn xuống cái xích quấn quanh cổ chân ông bằng sắt dày, hoen rỉ từng chỗ nhưng vẫn chắc hơn anh hy vọng. Ông ta đã tỉnh, không cần ai đánh thức, mắt mở trong bóng tối nhìn thẳng vào Nam Kha với một sự im lặng nặng nề, không có chút sợ hãi nào dù ông đang bị xích chân và Nam Kha là người lạ hoàn toàn. Anh nhanh chóng tìm một viên đá dẹt áp vào khâu xích hoen rỉ nhất, và bắt đầu mài.
Tiếng sắt cọ vào đá phát ra một âm thanh khô, rin rít nhưng sắc. Mỗi lần nó vang ra trong đêm yên, Nam Kha cảm thấy nó to bằng tiếng chuông. Anh mài chậm, từng nhịp ngắn, dừng lại nghe ngóng sau mỗi vài giây, mắt liếc về phía tên lính ngồi cạnh bếp lửa, hắn vẫn gục đầu, vẫn thở đều. Và anh mài tiếp, từng nhịp, từng nhịp, cánh tay bắt đầu mỏi nhừ vì giữ một động tác gò ép trong tư thế ngồi xổm không thoải mái. Mồ hôi chảy xuống sống mũi Nam Kha, nhỏ xuống đất, và sợi tóc dính trên trán anh cứ rơi xuống mắt mỗi lần anh cúi, khiến anh muốn hất lên nhưng không dám cử động thừa.
A-Phúc đứng cạnh, mắt không nhìn xích mà nhìn ra ngoài, quét từ trái sang phải, từ phải sang trái, canh gác cho Nam Kha bằng đôi mắt quen bóng tối hơn bất cứ ai trong nhóm. Bà già ngồi giữa đám người vừa được cởi trói, hai tay bà ấn nhẹ lên vai mấy đứa trẻ, giữ chúng im lặng, giữ chúng yên, bằng sức nặng trầm tĩnh của người đã sống đủ lâu để biết rằng hoảng loạn lúc này nghĩa là chết.
Khâu xích chưa đứt đến một phần ba thì ông già yếu nhất trong nhóm ho. Tiếng ho nhỏ và khô, bật ra từ ngực một ông già đã yếu quá mức để kiểm soát cơ thể mình. Trong đêm yên tỉnh nó vang lên như tiếng sét. Mọi người cứng người lại cùng lúc. Bà già vươn tay qua, ấn lòng bàn tay lên miệng ông già, nhẹ nhàng nhưng chắc, và ông nín. Mắt ông ta mở trong bóng tối nhìn bà với một ánh nhìn mà Nam Kha đọc được ngay cả trong ánh sáng yếu ớt đó, ánh nhìn của người biết mình là gánh nặng, biết cơn ho vừa rồi suýt giết cả nhóm, và cái biết đó đau hơn bất cứ vết thương nào trên người ông. Bà lắc đầu nhẹ, kiểu lắc đầu không phải trách mà là bảo đừng nghĩ vậy, rồi bỏ tay ra khi ông đã nín hẳn.
Nam Kha nhìn tên lính cạnh bếp lửa, tim ngừng đập một nhịp. Hắn nhúc nhích, vai xoay, rồi lại gục xuống, chìm sâu hơn vào giấc ngủ. Nam Kha thở lại, cánh tay run thêm một chút khi anh đặt đá vào khâu xích và mài tiếp.
Tên lính đi vòng đi qua phía trước trại, bước chân kéo lê. Nam Kha dừng tay, chờ cho đến khi tiếng bước xa dần về phía cổng, mới tiếp tục. Mỗi lần dừng là một lần anh cảm thấy thời gian co lại, đêm đang ngắn đi, và khâu xích dưới tay anh mới mòn chưa đến nửa. Người đàn ông nhìn anh làm, vẫn im lặng, vẫn không giúp vì biết động vào xích chỉ tạo thêm tiếng động. Cái chờ đợi không nói một lời của một người đàn ông gấp đôi sức anh, ngồi yên nhìn một kẻ lạ mài xích cứu mình, khiến Nam Kha cảm thấy gánh nặng của mỗi nhịp đá đè lên không phải cổ tay mà lên cả lồng ngực.
Rồi đến một lúc, khi lớp sắt hoen rỉ đã mòn đủ mỏng, ông ta tự nhấc cổ chân lên, nhìn Nam Kha một lần, như hỏi ý, và Nam Kha gật đầu. Ông ta giật một cái, giật dứt khoát và lặng lẽ, sức mạnh thuần túy dồn vào một khoảnh khắc ngắn, và tiếng kim loại đứt vỡ ra nhỏ hơn Nam Kha tưởng, gần như chỉ là một tiếng cách khô gọn lẫn vào tiếng côn trùng đêm.
Sau đó người đàn ông đứng lên chậm. Ông đứng thẳng trong bóng tối, cao hơn Nam Kha nhớ khi nhìn từ bụi rậm ban ngày, và khúc xích gãy còn lủng lẳng quanh cổ chân ông kêu lạch cạch nhẹ khi ông dịch trọng tâm. Vai ông rộng, lưng thẳng, và dù đã bị xích ngồi một chỗ nhiều ngày, cách ông đứng lên không phải cách của người vừa được giải thoát mà là cách của người vừa lấy lại thứ vốn thuộc về mình. Ông ta nhìn xuống Nam Kha, vẫn đang ngồi xổm dưới đất, tay còn cầm viên đá. Trong ánh than đỏ yếu ớt hắt lên từ xa, mắt ông thay đổi, một thứ gì đó chậm và nặng, không phải biết ơn theo kiểu anh quen thuộc, mà gần với sự nhận ra, kiểu người vừa nhìn thấy một thứ mình không nghĩ mình đang tìm.
"Người."
Một từ, thứ tiếng mà A Phúc nói. Ông ta nói chậm, từng âm đặt riêng, không phải lời cảm ơn mà là sự công nhận. Lúc này Nam Kha không cần A-Phúc dịch để hiểu, vì cái cách ông nói nó, trọng lượng mà ông đặt vào một âm tiết duy nhất, đã tự mang ý nghĩa vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ giữa hai người dù họ chưa từng nói chuyện với nhau.
Nam Kha gật đầu. Anh không biết đáp lại thế nào ngoài cái gật đó, và ông ta gật đầu lại, rồi quay đi.
Việc đầu tiên ông làm không phải đến chỗ những người còn lại. Mắt ông quét nhanh qua khoảng tối quanh lều theo bản năng. Và ông ta dừng ở cây giáo đồng dựng cạnh góc vải, giáo của tên lính để lại khi vào ngủ. Ông bước đến nhặt lên cầm thử, xoay cán trong tay một lần. Nam Kha thấy cách ông nắm cây giáo, không phải cách của người quen cầm vũ khí mà là cách của người quen tay với thứ gì đó có trọng lượng, chưa có kỹ thuật.
Tám người đứng túm tụm trong bóng tối phía sau lều, bà già ở giữa giữ mấy đứa trẻ, cô gái đỡ ông già một bên, cậu thiếu niên đứng sát bà trong khi vai vẫn gồng. Còn Nam Kha vừa quay sang A-Phúc ra hiệu đi thì từ phía bếp lửa, một giọng hét lên.
Tên lính ngủ gục đã tỉnh, có lẽ vì lạnh, có lẽ vì một tiếng động nhỏ nào đó cuối cùng cũng lọt qua. Hắn đứng bật dậy nhìn quanh, thấy khoảng trống nơi đáng lẽ có tám người nằm. Thế là hắn hét lên, một tiếng dài và sắc, xé qua màn đêm như lưỡi dao rạch vải.
Kết quả mọi thứ vỡ ra. Hai tên lính khác bật dậy, chộp vội giáo trong tay, đuốc được nhóm lại từ đám than nóng. Bà già đẩy đứa bé trai về phía A-Phúc, miệng không nói nhưng tay chỉ rõ: đi. Cô gái xốc ông già dậy dìu ông về phía hàng cọc. Cả nhóm lao về phía khoảng hở mà Nam Kha và A-Phúc đã luồn vào, không còn giữ im lặng nữa, chỉ còn chạy.
A-Phúc dẫn đầu, đứa bé bám trên lưng cậu ta bằng cả hai tay hai chân, và A Phúc vẫn chạy nhanh, vẫn rẽ đúng hướng, vẫn tránh bụi gai như ban ngày dù bây giờ phải di chuyển rừng đêm. Người phụ nữ gầy cầm tay đứa bé gái nhỏ nhất lao qua khoảng hở cùng lúc, nhưng khi A-Phúc rẽ trái vào lối rừng rậm thì bà rẽ phải, bóng hai người chìm vào bóng tối theo một hướng khác. Nam Kha không kịp gọi, không kịp nhìn lại lần thứ hai trước khi tiếng bước chân họ mất hẳn giữa tiếng rừng đêm. Nam Kha chạy phía sau, và trong lúc chạy, anh quay đầu nhìn, thấy cô gái đang dìu ông già mà ông không theo kịp, chân ông cứ vài bước lại khuỵa xuống. Nam Kha vòng lại, xốc ông lên lưng, cõng ông trong khi vẫn chạy, sức nặng của cơ thể già gầy đè lên vai anh nhẹ hơn anh tưởng nhưng đủ để mỗi bước chân của anh trở thành một nỗ lực riêng. Ông già bám chặt vào cổ Nam Kha, bàn tay nhăn nheo run rẩy trên da anh, hơi thở phả vào tai anh từng nhịp ngắn và yếu ớt.
Tiếng hét vang lên phía sau, tiếng vó người đuổi, tiếng cành cây gãy dưới những bước chân, tất cả trộn thành một mớ hỗn loạn đang đuổi sát gót. Một ngọn giáo bay ngang, cắm vào thân cây cách đầu cậu thiếu niên chỉ một gang tay, và cậu hét lên một tiếng ngắn rồi lao nhanh hơn, vai gồng lên theo phản xạ cũ dù đang chạy hết sức. Trong đầu Nam Kha, phần vẫn còn là sinh viên năm tư, một giọng nói đang gào lên rằng đây không phải bài tập, không phải phim, đây là người thật đang run trên lưng anh, giáo thật vừa cắm vào cây cách đầu một đứa trẻ mười lăm tuổi một gang tay. Nhưng cái giọng đó chỉ kịp vang lên một nhịp rồi bị nuốt bởi tiếng chân đuổi phía sau, vì anh không có thời gian xa xỉ để nghĩ lâu hơn một giây vào thời điểm này.
Phía sau, người đàn ông to lớn đã tách khỏi nhóm. Nam Kha thoáng nhìn lại khi vòng qua một gốc cây lớn, và thấy ông ta đứng lại ở một khúc đường hẹp giữa hai thân cổ thụ, nơi chỉ một người có thể đi qua một lúc. Ông ta đứng đó, cây giáo đồng cầm ngang trước ngực, đối mặt với hướng tiếng đuổi đang gần lại, lưng thẳng, vai mở, đứng giữa lối hẹp như một cánh cửa sống mà không ai bảo ông ta phải làm vậy. Không ai giao ôngta nhiệm vụ đó, không ai hỏi ông có chịu đứng lại không, ông ta tự đặt mình vào chỗ đó. Vì đó là chỗ của ông ta, vì đó là cách duy nhất ông ta biết để nói với những người đang chạy phía trước rằng ông ở phía họ mà không cần mở miệng.
Nam Kha muốn dừng lại, muốn hét lên rằng hãy đi cùng nhau, nhưng ông già trên lưng anh đang run, A-Phúc phía trước đang dẫn đường, và chân anh không dừng lại, vì nếu dừng thì ông già sẽ ở lại, A-Phúc sẽ quay lại tìm, và mọi thứ sẽ thành công cốc chỉ vì anh. Do đó anh phải chạy tiếp, chạy dù trong ngực anh có gì đó đang gào lên rằng bỏ người ta lại phía sau không phải cách Nam Kha anh muốn sống như vậy. Phía sau, tiếng giao tranh bùng lên, tiếng cán giáo đập vào nhau, tiếng sắt chạm sắt, một tiếng hét đau đớn không rõ của ai, rồi tiếng gỗ gãy, rồi tiếng một người gầm lên bằng giọng trầm nặng nhất mà Nam Kha từng nghe. Tiếng gầm đó, dù anh không hiểu từ nào, vẫn khiến bước chân đuổi phía sau chùn lại đủ lâu để nhóm kéo thêm được một khoảng cách nữa vào sâu trong rừng.
Họ chạy mãi, qua bao nhiêu gốc cây anh không đếm được, qua một con suối nước lạnh ngập đến đầu gối khiến cả nhóm khựng lại nửa giây rồi lội qua. Nước lạnh buốt cắt vào da, và ông già trên lưng anh siết chặt cổ anh hơn khi nước chạm vào chân ông, cái siết yếu ớt đến mức Nam Kha sợ rằng nếu ông buông thì ông sẽ trôi đi và anh sẽ không kịp giữ ông lại. Qua những bụi gai cào xước tay chân mà không ai dừng lại, cho đến khi tiếng đuổi phía sau, tiếng hét, tiếng bước chân hỗn loạn dần xa, dần mỏng, rồi tan vào tiếng rừng đêm bình thường.
A-Phúc dừng lại đầu tiên, đứng thở dốc, một tay tựa vào gốc cây, đứa bé vẫn bám trên lưng cậu, mặt vùi vào cổ anh trai mình. Nhóm người lần lượt khựng theo, đứng hoặc ngồi sụp xuống lớp lá ẩm, ai cũng thở hổn hển, không ai nói gì trong vài phút đầu, chỉ có tiếng thở và tiếng tim đập mà ai cũng nghe được của riêng mình.
Nam Kha hạ ông già xuống nhẹ nhàng, dựa ông vào gốc cây, và bàn tay ông chạm vào cánh tay anh khi anh buông ông xuống, một cái chạm rất nhẹ và run rẩy, như lời cảm ơn mà miệng ông không còn đủ hơi để nói. Anh nhìn bàn tay đó, gầy đến mức xương ngón tay hiện rõ dưới da, bàn tay ngửa trên đùi ông sau khi buông cánh tay anh ra mở ra, như người đã đưa đi hết những gì mình có và không còn gì để giữ.
Một bóng người lách qua bụi rậm phía sau, nặng nề, kéo lê một chân. Nam Kha quay lại, tim ngừng một nhịp, rồi nhận ra đó là người đàn ông to lớn, áo rách một bên, cây giáo đồng vẫn cầm trong tay phải nhưng mũi giáo đã gãy còn nửa. Và một vết cắt dài trên cánh tay trái đang chảy máu, máu đen trong bóng tối nhỏ từng giọt xuống lá khô, nhưng ông ta đứng được, bước được, và ông đi đến ngồi xuống cạnh nhóm, không nói gì về việc vừa xảy ra, chỉ đặt cán giáo gãy xuống đất cạnh mình rồi đưa bàn tay phải ấn vào vết thương để cầm máu, mặt bình thản như chuyện đó không đáng kể.
Bà già nhìn vết thương trên tay ông ta rồi xé một mảnh vải từ ống tay áo mình, đưa cho ông. Ông ta cầm lấy, quấn quanh cánh tay, thắt nút bằng một tay và răng, không cần giúp. Bà già nhìn ông ta thêm một lúc, rồi quay đi.
Nam Kha ngồi sụp xuống, tay vẫn run, lần này không phải vì sợ mà vì cơ thể đã dùng hết những gì nó có. Anh nhìn xuống bàn tay mình, lòng bàn tay trầy xước vì đá mài và gốc cây, bàn tay run nhẹ trong ánh sáng lờ mờ. Anh nghĩ đến buổi chiều hôm qua khi nó cũng run như vậy, chỉ khác là khi đó run vì chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra, còn bây giờ nó run vì biết chuyện gì đã xảy ra.
Rồi Nam Kha ngước lên. Bảy người ngồi rải quanh anh trong bóng tối rừng sâu. Bà già nhìn anh, cậu thiếu niên nhìn anh, vai vẫn gồng nhưng ánh mắt đã khác, có gì đó mềm hơn trước. A-Phúc nhìn anh, bé trai vẫn bám trên lưng cậu ta. Cô gái cũng nhìn anh, cô đang ngồi cạnh ông già. Người đàn ông to lớn nhìn anh, bàn tay phải ấn trên mảnh vải thấm máu quanh cánh tay trái. Và ông già, dù mệt đến mức gần như không mở được mắt, cũng quay đầu nhìn về phía anh, bàn tay ngửa trên đùi.
Không ai nói gì, nhưng không ai bỏ đi.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.