Phong Sương Niên Ký

Chương 37: Bảng Gỗ

Đăng: 06/10/2026 20:59 2,068 từ 16 lượt đọc

Hai mươi tháng Tám, ông lý gõ mõ đọc tên.

Sân đình đông như ngày hội. Nhà nào có con đủ tuổi thì cả nhà kéo ra, bố mẹ, ông bà, cô dì chú bác, đứng chật cả sân, chật tràn ra ngõ. Đứa nào cũng mặc áo lành nhất nhà, tóc chải mượt, mặt rửa sạch, đứng nép bên chân bố mẹ, vừa háo hức vừa sợ.

Ông lý đứng trên thềm, giở cuốn sổ hộ mới, đọc từng tên một. Đọc chậm, rõ, như đọc văn tế.

Đọc tới tên nào, nhà ấy ồ lên. Có bà mẹ vừa nghe tên con đã khóc. Có ông bố vỗ vai con bồm bộp, cười ha hả. Có đứa được đọc tên xong thì đứng ngây ra, không biết phải làm gì, bị mẹ đẩy lên phía trước.

"Nguyễn Văn Hạc. Học võ."

Thằng Cò đứng cạnh Luân, dưới gốc đa. Nghe tên mình, nó không nhúc nhích.

Ông lý đọc tiếp. Tên chữ thằng Bống, cái tên cả làng chưa gọi bao giờ, rồi hai chữ học chữ. Thằng Bống nhảy cẫng lên, ông phó cả phải giữ vai nó lại.

Tên thằng Quý. Học chữ. Ông trùm đứng thẳng lưng lên, khăn lượt chỉnh ngay ngắn, nhìn quanh sân một vòng.

Rồi ông lý đọc tên thằng Hợi, cái tên chữ nghe lạ tai, và cả sân đình im đi một nhịp.

"Học võ."

Thằng Hợi đứng ở góc sân, cạnh cái cột đình, một mình. Bố nó không ra. Mẹ nó không ra. Nó mười sáu, cao lêu nghêu, vai phải vẫn xệ xuống như mấy năm nay. Nghe tên mình, nó ngẩng lên.

Từ phía cổng đình có tiếng quát. Lão đồ tể, bố thằng Hợi, không biết từ đâu đi tới, cái tạp dề da còn dính tiết, tay còn cầm con dao phay.

"Nó đi thì ai mổ lợn!" Lão gầm lên. "Ông lý xóa tên nó đi cho tôi!"

Ông lý lúng túng nhìn cuốn sổ, nhìn lão đồ tể, nhìn viên thơ lại huyện đứng bên cạnh.

Viên thơ lại không ngẩng lên.

"Sổ của phủ Thượng Phụ, không phải sổ của nhà ông." Hắn nói. "Đọc tiếp."

Lão đồ tể đứng đấy, con dao phay trong tay run lên. Thằng Hợi nhìn bố nó. Nó không cúi đầu. Nó chỉ nhìn, nhìn lâu, cái nhìn trống trơn như hôm Phong Sương Vệ đi qua làng.

Rồi lão đồ tể nhổ một bãi nước bọt xuống sân gạch, quay đi.

---

Ông lý đọc hết cuốn sổ. Gấp lại.

Luân đứng dưới gốc đa. Nó biết từ trước. Nó biết từ cái chiều hai người thơ lại vào nhà ông lang, hỏi họ gì, quê đâu, sinh năm nào. Nó biết mà vẫn đứng nghe tới cái tên cuối cùng.

Thằng Cò huých vai nó.

"Tao không đi." Thằng Cò nói.

Luân quay sang.

"Tao không đi." Thằng Cò nói lại, to hơn. "Học võ thì tao học lão ăn mày cũng được. Lên huyện làm gì. Ở nhà gánh thuốc cho ông lang còn có tiền."

"Mày đi."

"Tao không..."

"Hết nợ rồi." Luân nói. "Đi đâu thì đi."

Thằng Cò trợn mắt nhìn nó.

"Mày nói như ông lang." Nó nói.

"Ừ."

Thằng Cò nhìn nó thêm một lúc. Rồi nó quay mặt đi chỗ khác, nhìn lên cây đa, cái cổ họng nó động đậy như đang nuốt cái gì.

"Mẹ kiếp." Nó nói, nhỏ thôi. Không chửi ai.

---

Còn chín hôm. Chín hôm ấy, bốn đứa ra điếm mỗi chiều.

Không đứa nào nói tới chuyện đi. Thằng Cò vẫn bày sỏi ra mặc cả. Ánh Dương vẫn đọc thơ. Thằng Bống vẫn đứng ngắm bốn cái tên trên thanh gỗ ngang cửa điếm, ngắm cái chữ của nó xiêu như thằng say, lần nào ngắm cũng cười một mình.

Chỉ có một chiều, thằng Bống không cười.

Nó ngồi trên bậc điếm, hai tay ôm đầu gối, nhìn mãi xuống chân.

"Anh Luân không đi thì ai viết thư cho em." Nó nói.

Luân ngồi cạnh nó.

"Tao viết."

"Anh ở nhà, anh viết cho em à?"

"Ừ."

"Thế em viết lại thì ai đưa cho anh?"

Luân không biết. Thằng Cò trả lời hộ.

"Nó gánh thuốc lên chợ huyện thay tao." Thằng Cò nói. "Tao đi thì ông lang lại chẳng bắt nó gánh. Phiên nào nó lên thì nó ghé qua trường, đưa thư tận tay."

Luân nhìn thằng Cò. Thằng Cò không nhìn lại. Nó đang xếp mấy hòn sỏi thành một hàng thẳng tắp, hòn nào cũng ngay ngắn.

"Tao nghĩ từ hôm đọc tên rồi." Nó nói.

---

Ánh Dương thì hỏi một chuyện khác.

Chiều cuối cùng, lúc thằng Cò với thằng Bống đã chạy lên đồi tranh bắt châu chấu, con bé ngồi lại trên bậc điếm với Luân.

"Cậu có buồn không?"

Luân nghĩ một lúc.

"Không biết." Nó nói thật.

"Tớ thì biết." Con bé nói. "Tớ buồn."

Con bé nhìn lên thanh gỗ ngang cửa điếm, chỗ bốn cái tên. Nhìn cái khoảng trống bên trên chữ Luân.

"Lớp con gái trên huyện có ba mươi đứa." Con bé nói. "Toàn con nhà buôn, nhà có ruộng. Người ta bảo dạy chữ, dạy thêu, dạy nữ công, dạy lễ nghĩa. Người ta bảo con gái học để sau này về nhà chồng biết đọc sổ sách, biết dạy con." Con bé ngừng một chút. "Không ai bảo con gái học để đi thi."

"Thế cậu vẫn thi."

Con bé quay sang nhìn nó.

"Hôm ở đây, cậu bảo thế mà." Luân nói. "Tớ đỗ trạng nguyên."

Ánh Dương nhìn nó lâu. Rồi con bé cười. Cái cười ấy không méo như hôm dưới hiên nhà ông lang, cũng không vênh váo như hôm trên đê. Cái cười ấy nhẹ, như cái lá rơi xuống mặt ao.

"Ừ." Con bé nói. "Tớ vẫn thi."

---

Sáng hai mươi chín tháng Tám, xe của phủ Thượng Phụ tới đình.

Sáu cái xe bò, mui cói, cắm cờ vàng nhạt viền xanh. Trẻ con Lò Trấu với trẻ con mấy làng quanh đấy lên xe, mỗi đứa ôm một cái tay nải. Mẹ đứa nào cũng dúi thêm cho con một gói xôi, một nắm muối vừng, một cái áo bông. Có bà mẹ chạy theo xe tận đầu làng, khóc như đưa đám. Có ông bố đứng im ở cổng đình, mắt đỏ hoe mà không khóc.

Thằng Bống ngồi trên xe đầu, vẫy rối rít, cái chỏm tóc bây giờ đã để dài, buộc túm ở đỉnh đầu. Ông phó cả đứng dưới, không vẫy, chỉ gật đầu mãi với con.

Thằng Cò ôm cái tay nải ông lang gói cho, trong có hai cái áo, một gói thuốc chỉ huyết, một cuộn băng. Nó ngồi xuống sàn xe cuối. Nó không vẫy.

Ông lang không ra đình. Ông đứng ở cổng tre nhà mình, từ xa, nhìn cái đoàn xe đi qua ngõ.

Thằng Hợi lên xe sau cùng. Không có ai tiễn nó. Không có gói xôi nào. Nó chỉ có một cái tay nải lép kẹp đeo sau lưng.

Lúc bước qua chỗ Luân đứng, nó dừng lại.

Hai đứa nhìn nhau. Mấy năm rồi thằng Hợi không nói với Luân một câu. Mấy năm rồi Luân không tránh đường thằng Hợi, thằng Hợi cũng không chặn đường Luân.

"Tao về," thằng Hợi nói, "thì mày liệu hồn."

Giọng nó không to. Không có tiếng cười hô hố của mấy đứa em đi theo như ngày xưa. Nó nói như người ta dặn một câu, rồi nó leo lên xe, ngồi xuống cạnh thằng Cò.

Thằng Cò nhích ra một chút. Thằng Hợi không nhìn nó.

Cái xe lăn bánh. Bánh xe bò kẽo kẹt, kẽo kẹt, đi ra đầu làng, đi lên con đường đê, nhỏ dần.

---

Ánh Dương không đi xe bò. Nhà buôn thuyền có thuyền riêng.

Con thuyền của nhà con bé nhổ neo lúc mặt trời đã lên khỏi rặng tre, xuôi dòng về phía huyện. Luân không đứng trên đê cùng người làng. Nó ra một khúc đê xa hơn, chỗ đê lượn ra sát mép nước, chỗ con thuyền sẽ đi ngang qua gần nhất.

Thằng Cò với thằng Bống đã đi rồi. Nó tưởng nó đứng một mình.

Ông phó cả đã đứng ở mé dưới đê từ lúc nào, hai tay cầm cái diều sáo. Ông nhìn Luân, hất đầu một cái.

"Thằng Bống dặn." Ông nói. "Nó bảo tao thả cho chị Dương nghe."

Ông tung diều lên. Luân cầm dây, chạy dọc mặt đê. Cái diều chao chao mấy cái, rồi gió heo may thổi tới, nó bốc lên. Lên cao, lên cao mãi, bay ra phía trên mặt sông.

Cái sáo tre bắt đầu kêu.

Vi vu. Vi vu.

Tiếng sáo diều trong vắt, ngân nga trên mặt nước, bay theo con thuyền.

Ở mạn thuyền, con bé ngẩng lên. Nhìn cái diều. Rồi nhìn xuống, nhìn lên khúc đê có một thằng bé cầm dây với một người đàn ông đứng tuổi.

Con bé không vẫy. Luân cũng không vẫy.

Con bé đứng nhìn như thế cho tới lúc con thuyền lượn qua khúc sông, khuất sau một rặng tre.

Luân giữ cái diều trên trời cho tới lúc tiếng sáo không còn đuổi kịp con thuyền nữa.

---

Chiều ấy, lúc Luân về tới cổng, ông lang đưa cho nó một vật dẹt, bọc trong một tờ giấy bản gấp đôi.

"Sáng nay ông lái đò mang sang." Ông nói. "Bảo con bé nhà buôn thuyền gửi cho thằng kia."

Luân mở tờ giấy ra.

Là cái bảng gỗ.

Cái bảng gỗ con bé vẫn ôm trong tay những ngày đầu tiên nó sang học. Cái bảng gỗ mà một buổi đầu xuân mưa bụi, bốn năm trước, con bé chìa ra ngoài cửa sổ, chỉ vào một chữ, bảo chữ này là chữ nhân, là người đấy, cậu nhìn kỹ đi, nó giống cái người đang dang chân ra mà đi. Mặt bảng đã mòn nhẵn, góc bảng sứt một miếng. Bên dưới có một hàng chữ viết bằng than, nét nhỏ, đều, thẳng. Tờ giấy bản bọc ngoài là để cho than khỏi nhòe.

Bốn chữ.

仁者愛人

Luân đọc.

Chữ đầu, nó biết. Nhân. Chữ nhân trong nhân nghĩa lễ trí tín, ba giềng năm mối, ông lang dạy từ năm nó mới có tên. Chữ thứ hai, nó biết. Giả. Là người, là kẻ. Chữ cuối cùng, nó biết rõ hơn chữ nào hết. Nhân. Người. Hai nét chụm đầu, dang chân ra mà đi.

Chữ thứ ba thì nó không biết.

Chữ ấy nhiều nét lắm. Trên cùng có mấy nét phẩy như cái mái nhà. Ở giữa có một chữ nó biết, chữ tâm, cái chữ nằm trong tên cuốn Minh Tâm Bảo Giám, ông lang bảo là trái tim. Dưới cùng có một nét như bàn chân kéo lê. Nó nhìn mãi. Mấy trang ông lang cho chép, nó không nhớ có chữ ấy. Có khi có, mà ông lang đọc lướt qua, không bắt nó viết.

Bên dưới bốn chữ, sát mép bảng, có một dòng nhỏ hơn, viết vội, nét hơi nghiêng.

*Viết thư cho tớ. Chữ cậu bây giờ đẹp hơn chữ tớ rồi.*

---

Tối ấy, Luân quỳ bên án. Ông lang đang đọc sách, cuốn sách đóng chỉ, gáy sách đã sờn.

Luân đặt cái bảng gỗ lên án. Nó đặt nhẹ, như đặt một bát nước đầy.

"Thầy." Nó nói. "Chữ thứ ba là chữ gì ạ?"

Ông lang ngẩng lên khỏi cuốn sách. Ông nhìn cái bảng gỗ. Nhìn bốn chữ than viết nhỏ, đều, thẳng.

Ông đọc thầm. Môi ông mấp máy, không ra tiếng.

Rồi ông đặt cuốn sách xuống, gấp lại. Ông cầm cái bảng gỗ lên bằng cả hai tay, đưa lại gần ngọn đèn. Ông nhìn lâu lắm. Lâu tới mức ngọn đèn dầu lép bép hai lần, bấc phải khều lên một lần.

"Con bé nhà buôn thuyền viết à?"

"Dạ."

Ông lang không nói gì nữa. Ông đặt cái bảng gỗ xuống án, đẩy trả lại cho Luân.

"Chữ ấy viết lâu lắm." Ông nói. "Mai."

---

Ngày xưa bảng gỗ chữ nhân,

Hôm nay trả lại thêm vần chưa tên.

Diều bay đuổi mũi thuyền lên,

Sáo ngân đứt giữa khúc bên kia làng.

0