Phong Sương Niên Ký

Chương 40: Món Quà

Đăng: 06/10/2026 20:59 2,248 từ 25 lượt đọc

Cái lược, Luân cưa mất bốn mươi hai buổi.

Hai mươi tám cái răng lược, mỗi cái răng một buổi, có cái hai buổi. Gỗ thị cứng, lưỡi cưa mảnh, cưa mạnh tay thì răng gãy, cưa nhẹ tay thì cưa không đứt. Nó gãy mất ba cái răng, phải cưa lại từ đầu mẩu gỗ thứ hai. Ông phó cả không nói gì, lại chọn cho nó một mẩu khác.

Sống lược thì nó khắc sau cùng. Vầng mặt trời ở giữa, tròn như miệng chén. Mười bốn cái tia tỏa ra hai bên, tia dài xen tia ngắn, chạy dọc sống lược như tia nắng chạy dọc mái nhà lúc chiều. Nó khắc chậm. Chậm hơn cái mặt trời gỗ mít năm nào gấp ba lần. Khắc xong tia nào, nó lấy sợi chỉ căng ra đo lại tia ấy, lệch một sợi tóc thì mài đi.

Tia thứ chín, lần này, không lệch.

Nó đánh cái lược bằng lá chuối khô, rồi bằng lòng bàn tay, đánh tới lúc gỗ thị bóng lên như có một lớp dầu mỏng. Nó đặt cái lược lên bàn tay, giơ ra dưới nắng. Vàng như mật ong. Mười bốn cái tia sáng lên.

Nó bọc cái lược trong một mảnh vải điều, cất vào trong ngực áo.

Hôm ấy là mồng mười tháng Năm năm Giáp Thìn.

---

Mồng mười hai, thằng Bống về.

Trường huyện cho học trò về nghỉ hè, nghỉ cho tới hết tháng Bảy. Thằng Cò chưa về, thầy dạy võ giữ lại học thêm mươi hôm. Thằng Bống về trước. Nó không chạy ra bậc điếm như Tết. Nó đi chậm, đầu cúi, đi thẳng tới nhà ông lang, đứng ở cổng tre, gọi khẽ.

"Anh Luân."

Luân đang phơi thuốc ngoài sân. Nó ngẩng lên.

Thằng Bống không vào. Nó đứng ngoài cổng, hai tay nắm chặt cái quai túi vải, nhìn xuống chân.

"Chị Dương được chọn rồi." Nó nói.

Cái nong thuốc trong tay Luân nghiêng đi một chút. Mấy cái lá ngải rơi xuống đất.

"Người trên kinh về từ tháng Tư." Thằng Bống nói. Giọng nó nhỏ, đều, như đang đọc thuộc lòng một bài nó đã nhẩm suốt dọc đường về. "Một bà mệnh phụ với hai người thơ lại của phủ Thượng Phụ. Bắt cả lớp con gái ra sân, đứng thành hàng, đi đi lại lại cho bà ấy xem. Rồi bắt đọc chữ, bắt thêu. Chị Dương đọc hay nhất. Chị ấy cố đọc vấp mà không vấp được. Bà ấy chọn chị Dương với hai chị nữa." Nó ngừng một chút. "Chị Dương sẽ về làm dâu nhà một ông quan trên kinh. Con trai thứ ba. Em không nhớ quan gì. Chị ấy về nhà từ hôm mồng một rồi."

Luân đặt cái nong xuống.

"Chị ấy có nhắn gì không?"

Thằng Bống lắc đầu.

"Chị ấy không nhắn được." Nó nói. "Từ hôm được chọn, bà giáo không cho chị ấy ra khỏi buồng. Em ra chỗ lỗ thủng chân tường nhét sách sang, bên kia không ai nhận." Nó ngẩng lên, lần đầu tiên nhìn thẳng Luân. Mắt nó đỏ. "Hôm chị ấy lên thuyền về, em đứng ở cổng trường. Chị ấy nhìn thấy em. Chị ấy không cười."

---

Chiều mười lăm, Luân qua sông.

Nó không nói với ai. Nó xin ông lái đò chuyến đò chiều, trả một đồng kẽm. Ông lái đò nhìn nó từ đầu tới chân, nhìn cái áo nâu mới giặt, cái tóc chải mượt, cái tay cứ đặt lên ngực áo như sợ rơi mất cái gì. Ông không hỏi gì. Ông chỉ chống sào, đẩy đò ra giữa dòng.

Bên kia sông, cái nhà ngói to nhất vẫn ở đấy, ba gian ngói mũi hài, hiên rộng, cửa sổ chấn song. Bến riêng có hai con thuyền buôn neo, người làm đang khuân hàng lên. Trước cổng có một cái chum nước to, cạnh chum có một cây cau.

Luân đứng trước cổng.

Nó không biết phải gọi thế nào. Nó đứng lâu. Người làm khuân hàng đi qua đi lại, nhìn nó, không ai hỏi.

Rồi u già đi ra.

U già già hơn hai năm trước nhiều. Lưng còng hơn, tóc bạc hơn, miệng vẫn bỏm bẻm nhai trầu. U già nhìn thấy nó, và u già đứng khựng lại ở giữa sân.

"Cậu..." U già nói. Rồi u già nhìn quanh, đi vội ra cổng, hạ giọng. "Cậu về đi. Về ngay đi."

"Dạ, con chỉ gửi một cái..."

"Không gửi gì được hết." U già nói. Giọng u già không gắt. Giọng u già như người ta van. "Cô nhà tôi có hôn ước rồi. Nhà trai trên kinh, nhà quan. Người ta dặn kỹ lắm. Từ giờ tới ngày cưới, cô không được gặp trai lạ, không được nhận của ai cái gì, không được ra khỏi nhà. Người ta mà biết thì người ta trả lễ, thì nhà này nhục cả đời." U già nắm lấy cổ tay nó, cái bàn tay nhăn nheo run run. "Cậu thương cô thì cậu về đi."

Luân đứng im.

Ở trong nhà có tiếng người.

---

Ông chủ nhà buôn thuyền đi ra.

Ông cao, người đẫy, mặc áo the đen, khăn lượt, tay cầm cái điếu ống bằng đồng. Đi sau ông là một người đàn bà mặc áo mớ ba, cổ đeo chuỗi hạt vàng, mặt trát phấn trắng. Luân chưa gặp hai người ấy bao giờ. Nhưng nó biết.

Ông chủ nhìn nó. Nhìn cái áo nâu, cái tóc chải mượt, đôi bàn chân đất. Nhìn cái tay nó đặt trên ngực áo.

"Thằng nào đây?"

U già cúi đầu, không dám nói.

"Dạ, bẩm ông." Luân nói. "Con là Minh Luân, ở nhà ông lang bên Lò Trấu ạ."

Người đàn bà áo mớ ba thở hắt ra một tiếng.

"Thằng đào mả." Bà ấy nói. "Đúng nó rồi. Bà trùm bên ấy tả đúng như thế."

Mặt ông chủ đổi màu. Từ trắng sang đỏ, từ đỏ sang tím.

"Mày..." Ông nói. Rồi ông quát. Tiếng quát to tới mức người làm đang khuân hàng dưới bến ngừng tay, đứng thẳng lưng lên mà nhìn. "Mày là cái giống gì mà dám bén mảng tới cửa nhà tao?"

Luân đứng im.

"Cha không có! Mẹ không có! Họ cũng không có! Sổ hộ làng mày không có lấy một chữ tên mày!" Ông chủ vung cái điếu ống lên, chỉ thẳng vào mặt nó. "Cái đồ con hoang, không biết từ lỗ nẻ nào chui lên, ở nhờ ở đậu nhà người ta, đào mả kiếm ăn, người hôi mùi xác chết, mà dám đứng trước cửa nhà tao mà gọi con gái tao!"

"Con không gọi ạ." Luân nói.

"Mày còn cãi!"

Người đàn bà áo mớ ba bước lên, đặt tay lên cánh tay chồng, như can. Nhưng miệng bà ấy thì không can.

"Hồi bé nó đã cho con bé nhà này cái của nợ bằng gỗ." Bà ấy nói, giọng the thé, sắc như cái lưỡi dao cạo. "Cái mặt trời gì đấy. Con bé giấu trong tráp mấy năm. Ông nhà tôi lục ra, ném xuống sông từ hôm nó mới về." Bà ấy nhìn Luân, cái nhìn như nhìn một con chó ghẻ lạc vào sân. "Mày tưởng mày là ai? Con bé nhà này học chữ, học lễ, được bà mệnh phụ trên kinh chọn làm dâu nhà quan. Còn mày, mày có cái gì? Mày có cái gì ngoài cái cuốc với cái dao quắm đào mả?"

Luân không trả lời.

Nó đứng. Vai xuôi, hai tay buông, mắt nhìn xuống sân gạch. Nó không nắm tay lại. Dưới rốn nó, cái ấm ấy nằm im. Không dâng lên. Không ngọt. Không lạnh. Nó chỉ nằm im, như cục than đã tắt.

Người ta chửi nó từ năm nó biết nghe. Thằng Bần, thằng ăn cắp, thằng đào mả, thằng không cha không mẹ. Những câu ấy trôi qua nó như nước mưa trôi qua mái lá. Câu hôm nay cũng thế. Có điều câu hôm nay không trôi đi. Câu hôm nay đọng lại ở đâu đó, như nước đọng trên lá sen, tròn vo, không thấm, mà cũng không rơi.

Mày có cái gì.

"Cút." Ông chủ nói. "Còn bén mảng tới đây lần nữa thì tao cho người đánh què chân, rồi tao sang tận làng mày, nói với ông lý, với ông lang nhà mày."

Luân cúi đầu. Nó cúi đầu chào, đúng như ông lang dạy phải chào người lớn.

"Dạ." Nó nói.

Rồi nó quay đi.

---

Lúc đi ra tới cổng, nó ngẩng lên.

Ở gian bên trái, cái gian mà hai năm trước nó đứng bên kia sông nhìn sang mà không biết có phải buồng của con bé không, có một cái cửa sổ chấn song. Sau chấn song, có một bóng người đứng.

Bóng người ấy không động đậy. Không vẫy. Không gọi. Chỉ đứng đó, sau mấy thanh gỗ chấn song, như con chim đứng trong lồng.

Luân nhìn cái bóng ấy một nhịp. Hai nhịp.

Rồi nó đi ra bến đò.

Cái lược vẫn nằm trong ngực áo nó, bọc trong mảnh vải điều.

---

Tin đi nhanh hơn đò. Tới tối thì cả Lò Trấu biết.

Thằng đào mả sang tận nhà buôn thuyền bên kia sông tán con gái người ta. Bị ông chủ chửi cho một trận, nhục như chó cụp đuôi. Bà trùm đi từ đầu xóm Thượng tới cuối xóm Hạ, kể cho từng nhà, kể tới đâu thêm mắm thêm muối tới đấy. Tới lúc về tới Ngõ Mương Đen thì câu chuyện đã thành thằng đào mả trèo tường vào buồng con gái nhà người ta, bị người làm bắt được đánh cho thừa sống thiếu chết.

Thằng Quý về hè từ hôm trước. Nó ngồi trên cây nhãn đầu ngõ nhà nó, cười to tới mức cả xóm nghe.

---

Thằng Cò về tới làng đúng tối hôm ấy.

Nó nghe chuyện ở đầu làng. Nó không về nhà ông lang. Nó đi thẳng ra điếm, vì nó biết Luân ở đấy.

Luân ngồi trên bậc điếm, dưới thanh gỗ ngang có bốn cái tên. Cái lược nằm trên đầu gối nó, vẫn bọc trong mảnh vải điều.

Thằng Cò đứng trước mặt nó một lúc lâu. Nó không hỏi. Nó ngồi phịch xuống bên cạnh.

"Tao biết mày thích con bé từ Tết." Nó nói.

Luân không trả lời.

"Tai mày đỏ như mào gà chọi." Thằng Cò nói. "Cả làng chẳng ai thấy. Tao thấy."

Luân vẫn không trả lời.

Thằng Cò nhặt một hòn sỏi dưới chân, ném ra bãi đất trống trước điếm. Hòn sỏi lăn lông lốc, dừng lại ở gốc cỏ.

"Thích thì thích." Nó nói. "Ai cấm được mày thích."

"Cấm được." Luân nói.

Thằng Cò quay sang nhìn nó.

"Người ta cấm được." Luân nói. Giọng nó phẳng như giọng ông lang. "Người ta hỏi tao có cái gì. Tao không có cái gì cả, Cò ạ. Không có họ. Không có tên trong sổ. Không có ruộng. Không có nhà. Tao ở nhờ ông lang. Tao đi học ké ngoài hiên. Tao đưa thư ngoài cổng trường. Cái gì của tao cũng là ở ngoài."

Thằng Cò không nói gì. Nó ngồi yên bên cạnh Luân, vai chạm vai.

Một lúc lâu sau, nó mới nói.

"Mày có tao."

Luân nhìn nó.

"Với thằng Bống." Thằng Cò nói, quay mặt đi chỗ khác. "Với ông lang. Với lão ăn mày điên trong kia. Thế là không có cái gì à?"

Trong điếm, tiếng ngáy của lão ăn mày ngừng lại một nhịp. Rồi lại ngáy tiếp, to hơn.

---

Khuya, Luân về nhà.

Ông lang còn thức. Ông ngồi ở hiên, ngọn đèn dầu đặt bên cạnh, điếu cày dựng vào cột. Ông không rít thuốc. Ông chỉ ngồi.

Luân đứng ở cổng.

"Thầy chưa ngủ ạ?"

"Chưa."

Luân biết ông đã nghe chuyện. Cả làng nghe, thì ông cũng nghe. Nó chờ ông mắng. Mắng nó không biết thân biết phận, mắng nó làm nhục cái nhà này, mắng nó ngu.

Ông lang không mắng.

"Người ta chửi mày không cha không mẹ, không họ không tên." Ông nói. Giọng ông khàn, chậm, như người vừa đi một quãng đường dài. "Chửi đúng."

Luân cúi đầu.

"Họ là cái người ta cho." Ông lang nói. "Tên thì mày tự giữ lấy."

Luân ngẩng lên. Ông lang không nói thêm. Ông cầm điếu cày lên, châm đóm, rít một hơi dài, sòng sọc. Khói thuốc bay lên, trắng đục dưới ánh trăng rằm.

"Đi ngủ." Ông nói.

---

Ba hôm sau, thằng Bống chạy sang, thở hổn hển.

Nó vừa đi giao cái giường gỗ thầy nó đóng cho nhà buôn thuyền bên kia sông, cái giường cưới, chạm đào lựu với chim phượng, làm của hồi môn. Lúc khiêng giường vào buồng, có người đứng sau cánh cửa buồng, nói với nó một câu, nói rất nhanh, rất nhỏ, rồi cánh cửa khép lại.

"Chị Dương bảo," thằng Bống nói, "đêm hai mươi, canh hai, ở bãi lau ven đê. Chỗ cả bọn thả diều."

Nó nhìn Luân.

"Chị ấy bảo chỉ anh thôi."

---

Lược vàng mười bốn tia ngay,

Tia nào cũng thẳng, mà tay chẳng rời.

Bên sông một tiếng quát rơi,

Không cha không họ, lấy lời nào thưa.

1

Được yêu thích bởi: Đại Hiệp Mèo