Chương 38: Chữ Ái
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
47 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 47/47 chương
Sáng hôm sau, ông lang không dạy chữ ái.
Ông bắt Luân sắc thuốc, phơi thuốc, tán thuốc, như mọi ngày. Trưa, ông ngủ. Chiều, ông đi thăm bệnh ở xóm Thượng. Tối về, ông ăn cơm, rít một điếu thuốc lào, rồi ngồi đọc sách. Cái bảng gỗ nằm trên góc án, bọc trong tờ giấy bản, ông không nhìn tới.
Luân không hỏi lại. Ông lang đã bảo mai. Mai của ông lang có khi là sáng hôm sau, có khi là mười hôm sau, có khi là không bao giờ. Hỏi lại thì ông gõ thước.
Ba hôm sau, lúc Luân đang mài mực, ông lang đặt cuốn sách xuống.
"Đưa giấy đây."
---
Ông trải tờ giấy bản ra, chấm bút, viết. Ông viết nhanh, nét bút lướt đi như nước chảy, không nhấc bút lên mấy lần. Ông viết chữ nào cũng thế. Đơn thuốc ông kê cho người làng, chữ nào cũng tắt, cũng nối, nét nọ dính vào nét kia, người ngoài nhìn chỉ thấy một dải mực như rễ cây bò. Luân phải mất hai năm mới đọc được đơn thuốc của ông. Ông bảo người bệnh thì không chờ được chữ đẹp.
Viết xong ông đẩy tờ giấy sang.
Một chữ.
Luân nhìn. Chữ ấy giống chữ thứ ba trên bảng gỗ. Phần trên thì giống. Phần dưới thì khác hẳn.
爱
"Ái." Ông lang nói. "Là yêu. Là thương. Tao viết thế cho nhanh."
Luân nhìn tờ giấy. Rồi nó cởi tờ giấy bản bọc cái bảng gỗ ở góc án, đặt hai thứ cạnh nhau. Chữ thứ ba trên bảng gỗ, nét khắc chậm rãi, đủ đầy:
愛
"Thầy." Nó nói. "Hai chữ không giống nhau ạ."
Ông lang rít một hơi thuốc lào. Khói trắng bay lên, tan dưới mái lá cọ. Rồi ông cầm cán bút, chỉ vào chữ trên bảng gỗ, chỉ từng phần một, từ trên xuống, như chỉ từng vị trong một thang thuốc.
"Trên cùng là cái này." Đầu cán bút gõ vào mấy nét chấm úp xuống. "Chữ trảo. Bàn tay úp xuống. Bàn tay người ta đặt lên đầu đứa trẻ, đặt lên vai người ốm." Cán bút xuống một nét. "Đây là chữ mịch. Cái mái che. Cái khăn trùm. Thương ai thì che cho người ấy, mưa không ướt, nắng không cháy."
Cán bút dừng ở giữa chữ.
"Đây là chữ tâm. Trái tim. Mày học chữ này từ năm chín tuổi rồi."
"Dạ."
Cán bút xuống dưới cùng, chỉ vào cái nét kéo dài như một bàn chân lê trên đất.
"Còn đây là chữ truy. Bước chân đi chậm. Đi mà như không muốn đi." Ông lang gõ nhẹ vào nét ấy hai cái. "Người xưa đặt chữ, thương ai là phải có bàn tay đặt lên, có mái che trùm xuống, có trái tim ở giữa, rồi bước chân đi đâu cũng chậm, cũng lê, vì không nỡ rời. Đủ bốn thứ mới thành một chữ ái."
Luân nhìn cái chữ trên bảng gỗ. Nó chưa bao giờ nghĩ một chữ lại chứa được nhiều thứ thế.
Rồi ông lang chỉ sang chữ của mình.
"Còn đây. Bàn tay vẫn còn. Mái che vẫn còn." Cán bút chạy xuống dưới. "Trái tim mất. Bước chân mất. Thay vào là chữ hữu. Bạn. Bè bạn."
"Sao lại mất ạ?"
"Vì viết thế cho nhanh." Ông lang nói. "Người viết chữ thảo bỏ đi mấy nét cho kịp tay. Bỏ mãi thành quen. Quen rồi thì người ta tưởng chữ vốn thế." Ông đặt cán bút xuống. "Người đời bây giờ sống vội. Viết vội. Yêu cũng vội. Chắc là tình yêu không cần trái tim nữa rồi. Cũng chẳng cần bước chân lưu luyến. Chỉ cần làm bạn với nhau. Có việc thì gần. Hết việc thì thôi."
Luân không hiểu. Nó ngồi im chờ.
"Đời bây giờ," ông lang nói, giọng không lên không xuống, như đọc một đơn thuốc, "anh giết em, con giết cha. Ai cũng bảo là vì thương. Thương nước, thương nhà, thương dân. Bàn tay thì vẫn đặt lên vai người ta. Mái thì vẫn che. Mà trong bụng không có trái tim. Thương như thế thì viết thế này là đủ." Ông gõ ngón tay lên tờ giấy, lên cái chữ không có tâm. "Hiểu chưa?"
"Dạ, chưa ạ."
"Tối dạ." Ông lang nói. "Viết thế là hiểu đủ rồi. Chép một trăm lần."
---
Luân chép.
Nó chép tới lần thứ ba mươi thì tay nó tự dừng lại. Nó nhìn cái chữ không có tâm, ba mươi cái, nằm thẳng hàng trên tờ giấy. Chữ nào cũng nhanh, cũng gọn, cũng giống chữ ông lang viết.
Rồi nó chấm bút, viết cái thứ ba mươi mốt. Viết chậm. Bàn tay úp xuống. Rồi cái mái che. Rồi chữ tâm, bốn nét, nét nào cũng đủ. Rồi bàn chân kéo lê.
愛
Nó viết lâu gấp ba lần cái chữ kia.
Ông lang không ngẩng lên khỏi cuốn sách. Nhưng lúc Luân chép xong một trăm lần, đẩy tờ giấy sang, ông lật tờ giấy lên, nhìn từ đầu tới cuối. Ba mươi chữ không có tâm. Bảy mươi chữ có tâm.
Ông nhìn lâu. Rồi ông gấp tờ giấy lại.
"Chép sai lệnh." Ông nói. "Mai chép lại."
"Dạ."
Hôm sau nó chép lại. Một trăm chữ, chữ nào cũng có tâm. Ông lang nhìn, không nói gì, cũng không bắt chép lại lần nữa.
---
Bức thư đầu tiên, Luân viết mất bốn đêm.
Nó không biết viết thư. Nó chưa viết thư bao giờ, cũng chưa nhận thư bao giờ. Nó biết viết đơn thuốc, viết câu đối thuê, viết sổ. Thư thì không. Nó viết ra một tờ, đọc lại, thấy giống cái đơn thuốc, xé. Viết tờ khác, thấy giống cái trát của quan huyện, xé.
Tới đêm thứ tư nó mới viết được. Ba tờ, ba đứa, mỗi đứa một tờ.
Viết cho thằng Cò, nó viết chữ nôm, vì thằng Cò đọc chữ nho chậm như rùa. Nó kể ông lang bắt nó gánh thuốc thay, gánh nặng hơn nó tưởng. Kể giá rễ cam thảo ở chợ huyện lại lên. Kể lão ăn mày bảo mày đi rồi thì tao đỡ mất nửa nắm cơm.
Viết cho thằng Bống, nó vẽ. Nó vẽ cái điếm, vẽ thanh gỗ ngang cửa có bốn cái tên. Bên dưới nó viết một dòng: tên mày vẫn xiêu.
Viết cho Ánh Dương, nó viết lâu nhất, mà ngắn nhất. Nó kể chuyện chữ ái. Kể ông lang viết chữ không có tâm, kể nó chép sai lệnh. Nó không biết kể thế để làm gì. Viết xong nó đọc lại, định xé, rồi thôi.
Dưới cùng tờ giấy, nó viết lại bốn chữ trên bảng gỗ. Chữ thứ ba viết đủ, có tâm.
---
Nó không biết ký tên thế nào.
Thằng Cò thì nó ký Luân. Thằng Bống thì nó ký anh Luân. Tới tờ của Ánh Dương thì nó cầm bút, không biết đặt vào đâu. Ký Luân thì cộc. Ký Minh Luân thì như người ta ký trát. Người ta viết thư, ai cũng ký đủ họ đủ tên.
Nó ngẩng lên. Ông lang đang ngồi đọc sách.
"Thầy."
"Ừ."
"Thầy họ gì ạ?"
Ông lang không trả lời ngay. Ông lật một trang sách. Rồi lật lại trang cũ. Rồi ông đặt cuốn sách xuống.
Ông nhìn Luân. Nhìn lâu. Cái nhìn như nhìn cái vạch trên đĩa cân, cái nhìn Luân đã quen mấy năm nay. Nhưng lần này có một cái gì khác ở đáy mắt ông, như có ai vừa mở hé một cánh cửa rồi đóng ngay lại.
"Hỏi làm gì?"
"Dạ... con không có họ. Con định..."
Nó không nói hết. Ông lang cũng không để nó nói hết.
"Trần." Ông nói.
Một tiếng thôi. Nhỏ, gọn, như hòn sỏi rơi xuống giếng.
Luân ngồi im. Ngọn đèn dầu lép bép một cái.
"Không được nói với ai." Ông lang nói. "Không được viết vào đâu. Mày ký Minh Luân. Thế là đủ."
"Dạ." Luân nói. Rồi nó hỏi, vì nó không nhịn được. "Chữ Trần viết thế nào ạ?"
"Không cần biết."
Ông cầm cuốn sách lên, đọc tiếp. Luân cúi xuống tờ giấy, ký hai chữ Minh Luân. Nét bút run hơn mọi khi.
Nó không hỏi nữa. Nó chỉ nhớ. Trần. Cái tiếng ấy nằm trong đầu nó, không có mặt chữ, như một người mà nó biết tên mà chưa thấy mặt.
---
Trường huyện nằm ở phía Đông huyện lỵ, cạnh văn chỉ, cách chợ huyện một con đường lát gạch.
Phiên chợ đầu tháng Chín, Luân gánh thuốc lên huyện, bán xong thì gánh đôi quang không, ba lá thư nhét trong ngực áo, đi dọc con đường lát gạch ấy.
Trường to hơn nó tưởng. Tường gạch cao quá đầu người, cổng gỗ lim hai cánh, trên cổng có tấm biển sơn son, bốn chữ thếp vàng. Hai bên cổng có hai người lính gác, đao đeo bên hông, đao lính thường, không phải Gươm Lạc Hồng. Qua khe cổng, nó thấy một cái sân rộng lát gạch, sân rộng hơn sân đình Lò Trấu ba lần, và những dãy nhà mái ngói nối nhau, nhà nào cũng sơn cột đỏ.
Nó đứng ở ngoài cổng.
Người lính gác nhìn nó từ đầu tới chân. Nhìn đôi quang gánh, cái áo nâu vá vai, đôi bàn chân đất.
"Làm gì?"
"Dạ, con đưa thư cho người trong trường ạ."
"Đưa đây." Người lính chìa tay ra. "Học trò không được ra cổng giờ này. Người ngoài không được vào."
Luân đưa ba lá thư. Người lính cầm lấy, lật lật mấy cái, nhìn mấy cái tên bên ngoài, rồi nhét vào túi áo.
"Phiên sau quay lại mà lấy thư trả lời. Nếu có." Hắn nói. "Đi đi."
Luân không đi ngay. Nó đứng thêm một lúc. Qua khe cổng, từ phía trong xa, vọng ra tiếng hô. Tiếng nhiều người hô cùng một lúc, đều, chắc, như tiếng nện đất đắp đê. Một, hai. Một, hai. Rồi tiếng gỗ va vào gỗ, cốp cốp, lốp cốp. Sân tập võ. Thằng Cò ở trong ấy. Thằng Hợi ở trong ấy.
Từ phía khác, sau một bức tường gạch thấp hơn, có tiếng con gái đọc bài. Đọc đồng thanh, đều đều, ngân nga như đọc kinh.
"Tại gia tòng phụ. Xuất giá tòng phu. Phu tử tòng tử..."
Luân nghe câu ấy. Chữ nào nó cũng hiểu. Ghép lại thì nó không hiểu sao nghe buồn thế. Giọng đọc của ba mươi đứa con gái nghe buồn như tiếng nước chảy dưới gầm cầu.
Nó đứng ở ngoài cổng như thế. Như cái năm nó chín tuổi, đứng ngoài hiên nhà ông lang, dỏng tai nghe lũ trẻ con nhà khá giả đọc Tam Thiên Tự qua cửa sổ.
Người lính gác đuổi lần thứ hai. Nó gánh quang về.
---
Phiên sau, có thư trả lời.
Thư thằng Cò viết chữ nôm, chữ to như chữ trẻ con tập viết, sai tới một nửa. Chữ ăn nó quên mất bộ khẩu. Chữ học nó viết thiếu mất bộ tử. Nhưng đọc thì hiểu.
*Tao ăn no. Cơm ngày ba bữa, bữa nào cũng có cá. Thầy dạy võ ở đây đếm luồng khí, tao sáu luồng rồi, thầy bảo muộn nhưng mà chắc. Thằng Hợi tám luồng mà tay phải nó hỏng, múa thương không được, thầy bảo nó múa đao tay trái. Nó ít nói lắm, không đánh ai, đêm nằm cạnh tao, có đêm nó khóc, tao giả vờ ngủ. Mày đừng nói với ai. Bảo lão ăn mày tao vẫn nhớ thế Chạch Lủi, ở đây không đứa nào chạy được như tao.*
Thư thằng Bống thì là một bức vẽ. Nó vẽ cái trường, vẽ cái cổng, vẽ một thằng bé đứng ngoài cổng gánh đôi quang. Bên dưới nó viết: anh Luân đứng đây, em trông thấy anh từ trên gác, em gọi mà anh không nghe.
Thư Ánh Dương thì dài.
Con bé kể lớp con gái học những gì. Học thêu. Học nấu cỗ. Học lễ ra mắt nhà chồng, lễ lại mặt, lễ giỗ nhà chồng. Học sách Nữ Huấn, học tam tòng tứ đức, học công dung ngôn hạnh. Chữ thì có học, nhưng học chữ để đọc được sổ chi tiêu trong nhà, đọc được gia phả nhà chồng.
*Tớ mượn sách của thằng Bống.* Con bé viết. *Nó học lớp chữ bên kia tường, học Luận Ngữ, học Mạnh Tử. Tối nó chép lại cho tớ, sáng nó nhét qua cái lỗ thủng ở chân tường. Chữ nó xấu, tớ đọc mãi mới ra. Nếu bà giáo mà biết thì tớ bị đuổi về.*
*Cậu bảo ông lang viết chữ ái không có tâm. Ở đây bà giáo bảo con gái không cần học chữ ấy. Bà bảo con gái thì học chữ hiếu, chữ thuận, chữ tiết. Chữ ái là việc của nhà chồng.*
*Tớ viết chữ ái có tâm vào mặt trong cái tráp. Không ai thấy.*
Dưới cùng, con bé ký hai chữ. Ánh Dương. Không có họ.
Luân đọc lá thư ấy ba lần. Rồi nó gấp lại, gấp làm tư, đặt vào dưới ổ rơm, cạnh cái bảng gỗ.
---
Cứ thế, phiên chợ nào cũng vậy. Luân gánh thuốc lên, đưa thư cho người lính gác, đứng ngoài cổng nghe tiếng hô trên sân tập, nghe tiếng con gái đọc bài sau bức tường thấp, rồi gánh quang về. Phiên sau lại lên, lấy thư trả lời, đưa thư mới.
Người lính gác về sau quen mặt nó. Có phiên hắn còn cho nó ngụm nước chè.
Mùa đông năm ấy lạnh. Tết Quý Mão, bọn trẻ trên huyện không về, trường giữ lại ăn Tết, bảo đường xa, về rồi lại đi, mất công. Luân mười bốn tuổi, ăn Tết với ông lang, với lão ăn mày, trong một cái nhà vắng hẳn tiếng thằng Cò.
Giao thừa, nó lại ra ngõ đứng chờ trống đình điểm, rồi một mình bước qua ngưỡng cửa xông nhà. Trên ban thờ, bó hương vẫn cắm kín bát. Trên xà cửa, tấm gỗ vẫn ngồi đấy, mấy con chữ cong queo như rễ cây, sạch bong.
Nó nhìn tấm gỗ. Nó nghĩ tới cái tiếng Trần, cái tiếng không có mặt chữ. Nó không hỏi lần thứ ba.
Nó không biết vì sao nó không hỏi.
---
Năm Quý Mão trôi qua lặng lẽ như nước ao.
Lão ăn mày dạy thêm hai thế nữa, cả hai thế đều là đứng yên mà chờ. Ông lang dạy thêm hai mươi vị thuốc, ba bài kinh mạch. Luân gánh thuốc lên chợ huyện hai mươi bốn phiên, đưa bảy mươi hai lá thư, nhận về sáu mươi mốt lá.
Thằng Cò bây giờ viết thư ít sai hơn. Thằng Bống vẽ đẹp hơn. Ánh Dương thì viết ngắn dần.
Lá thư cuối năm của con bé chỉ có mấy dòng.
*Bà giáo bảo năm sau lớp con gái có người trên kinh về xem mặt. Bà giáo bảo đứa nào học giỏi thì được chọn. Tớ không biết được chọn là được cái gì. Mấy đứa khác vui lắm. Tớ không vui. Tớ không biết vì sao tớ không vui.*
*Tết năm sau trường cho về. Cậu ra bậc điếm chờ tớ nhé.*
Luân đọc lá thư ấy dưới ánh đèn dầu, trong gian bếp. Nó đọc chữ được chọn, đọc đi đọc lại. Nó cũng không biết được chọn là được cái gì.
Nó chỉ thấy dưới rốn nó, cái ấm ấy động đậy một chút, không phải như cái ngọt hôm nó nghe chuyện Hạo Nguyên cắt tai người chết. Cái này khác. Lạnh, và nặng, như cái chum nước để ngoài sân qua một đêm sương.
---
Thầy trao chữ ái thiếu tim,
Trò ngồi chép lại, từng nghìn nét đau.
Tường cao ngăn cổng trước sau,
Bên này tiếng hát, bên nào tiếng ai?
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.