Chương 36: Mặt Trời Gỗ
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
47 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 47/47 chương
Năm Nhâm Dần, Luân mười ba tuổi, và lần đầu tiên nó có một người bạn không phải đi cùng nó qua những trận đòn.
Mà cũng là năm cuối cùng bốn đứa còn ở cùng một chỗ. Trường trên huyện dựng xong từ trước Tết, người ta bảo sau Trung thu thì mở. Thằng Cò có tên trong sổ hộ, được học võ. Thằng Bống có tên, được học chữ. Con bé bên kia sông cũng có tên trong sổ hộ làng bên ấy, nhà nó đã xin cho nó vào lớp con gái. Chỉ có Luân là không. Không ai nhắc chuyện ấy. Cả bốn đứa đều biết, nên cả bốn đứa đều không nhắc.
Bốn đứa còn một mùa hè.
Không ai hẹn ai. Chuyện ấy tự nhiên mà thành, như cỏ mọc trên bờ ruộng. Tan học, lũ trẻ con nhà khá giả lục tục ra về, Ánh Dương thì đi thong thả ra bến đò, ở đấy u già của con bé đã ngồi sẵn trong quán nước đầu bến, bỏm bẻm nhai trầu, chờ chuyến đò chiều. Chuyến đò chiều thì bao giờ cũng muộn. Ông lái đò phải chờ cho đủ khách, đủ hàng, đủ mấy gánh rau gánh cá của mấy bà hàng chợ chiều. Từ lúc tan học tới lúc đò sang sông, bao giờ cũng dư ra được một canh giờ.
U già thì đã ngoài sáu mươi, ngồi quán nước là ngủ gà ngủ gật.
Một canh giờ ấy, Ánh Dương chạy ra điếm.
---
Cái điếm hoang dưới chân Dốc Cửa Mả là chỗ không ai nhìn thấy ai. Người làng không xuống tới đấy, trừ lúc có đám. Trẻ con nhà khá giả thì sợ, bảo điếm có ma, có lão ăn mày điên. Lão ăn mày thì vẫn nằm trong điếm, lưng quay ra ngoài, ngáy khò khò, hoặc giả vờ ngáy khò khò. Lão chẳng buồn ngó bốn đứa trẻ ngồi lố nhố trên bậc cửa.
Chỉ có một lần, lúc Ánh Dương mới tới, lão mở một mắt ra.
"Con nhà ai?"
"Dạ, con nhà buôn thuyền bên kia sông ạ." Ánh Dương đáp, chẳng sợ gì, nhìn thẳng vào lão.
Lão nhìn con bé một lúc. Nhìn đôi guốc mộc sơn đỏ, cái áo tứ thân nâu non, sợi dây vải điều buộc tóc.
"Ừ." Lão nói. Rồi lão nhắm mắt lại, ngáy tiếp.
Từ hôm ấy lão không hỏi lại.
---
Bốn đứa làm đủ thứ chuyện trong cái canh giờ ấy.
Thằng Cò dạy cả bọn mặc cả. Nó bày mấy hòn sỏi ra bậc điếm, bảo đây là rễ cam thảo, đây là vỏ quế, đây là củ nghệ, rồi bắt từng đứa giả làm lái buôn, giả làm người mua. Thằng Bống lần nào cũng thua, vì nó thật thà quá, người ta hỏi bao nhiêu nó nói ngay bấy nhiêu. Luân cũng thua, vì nó chẳng biết nói thách. Chỉ có Ánh Dương là cãi nhau được với thằng Cò cả buổi, cãi tới mức thằng Cò giơ hai tay lên trời.
"Con gái nhà buôn có khác." Nó bảo. "Bố cậu mà biết cậu mặc cả giỏi thế thì cho cậu đi buôn thay con trai."
"Nhà tớ có con trai đâu." Ánh Dương nói. "Có mình tớ."
Thằng Cò ngẩn ra một lúc. Rồi nó cười.
"Thế thì bố cậu thiệt."
Ánh Dương dạy cả bọn chữ. Không phải chữ trong Tam Thiên Tự. Con bé đọc cho cả bọn nghe mấy câu thơ nó học được ở nhà, thơ chữ Nôm, thơ của người đời trước, câu nào cũng như có nhạc ở trong. Thằng Bống thuộc nhanh nhất. Thằng Cò thì nghe một câu là ngáp hai cái.
Còn Luân thì đưa cả bọn đi. Không lên đồi được nữa, nó đưa cả bọn ra những chỗ nó biết ở dưới làng. Cái ao sen sau chùa, sen nở hồng một góc, lá sen to như cái nón, mưa xuống nước lăn trên lá thành những hạt tròn vo, lóng lánh, rồi rơi tõm xuống ao. Cái bãi lau ven đê, lau trổ bông trắng như tóc bà cụ, gió thổi rạp xuống rồi lại đứng lên, xào xạc. Cái gốc duối già ở bờ mương, quả duối chín vàng, ngọt thanh, cả bọn trèo lên hái ăn tới lúc môi vàng khè.
Có một chiều tháng Năm, cả bọn thả diều trên đê.
Diều sáo do bố thằng Bống làm. Ông phó cả bảo diều của trẻ con thì làm diều cánh cốc, nhỏ, nhẹ, dễ lên. Nhưng thằng Bống nằn nì mãi, ông làm cho cái diều sáo, cánh to bằng hai sải tay, đeo một cái sáo tre ở đầu. Bốn đứa chạy dọc mặt đê, thằng Cò cầm dây, thằng Bống giữ diều, rồi hô một, hai, ba, thả. Cái diều chao chao mấy cái, rồi gió nồm thổi tới, nó bốc lên. Lên cao, lên cao mãi, tới lúc chỉ còn như một con chim nhỏ trên nền trời xanh ngắt.
Rồi cái sáo bắt đầu kêu.
Vi vu. Vi vu. Tiếng sáo diều trong vắt, ngân nga, lúc to lúc nhỏ theo gió, như có ai đang thổi một khúc hát không lời ở tít trên trời cao.
Bốn đứa nằm ngửa trên mặt cỏ đê mà nghe.
---
Thằng Cò trêu tên con bé trước.
"Tên cậu là Ánh Dương." Nó nói, mắt vẫn nhìn cái diều. "Mà mặt cậu trắng như cái bánh đúc. Tên mặt trời mà chẳng thấy ra nắng bao giờ."
"Thì nhà tớ có cho tớ ra nắng đâu." Ánh Dương nói. "Ra nắng thì đen. Đen thì u già bảo ai lấy."
"Bây giờ cậu đang ra nắng đấy."
"Bây giờ là bây giờ."
Con bé nằm im một lúc. Nắng chiều vàng rượm, rọi lên mặt con bé, lên hai gò má đỏ hây hây vì chạy.
"Tên tớ do bố tớ đặt." Nó nói. "Bố tớ bảo hôm tớ đẻ ra, trời mưa dầm cả tháng, đúng sáng hôm ấy thì tạnh, nắng lên. Bố tớ bảo thế là điềm tốt." Con bé nằm nguyên trên cỏ mà nhún vai. "Điềm tốt thì cũng phải đội nón mà ngồi trong nhà."
Luân nằm bên cạnh, không nói gì. Nó nhìn cái diều. Nó nghĩ tới cái vòng mặt trời tỏa tia khắc trên lưỡi gươm, trên đầu con chim Lạc cổ dài, cái hôm ở giếng đình chú Lâm rút gươm ra một gang tay cho nó xem.
---
Lúc về, cả bọn đi dọc ngõ Mương Đen.
Ở cửa lò mổ, thằng Hợi đang vác một nửa con lợn trên vai, máu còn nhỏ tong tong xuống đất. Nó nhìn thấy bốn đứa. Nó dừng lại. Nó nhìn lên trời, chỗ cái diều thằng Bống đang cuộn dây kéo về, cái sáo còn kêu vi vu mấy tiếng cuối.
Thằng Hợi nhìn cái diều lâu lắm. Rồi trong lò mổ, bố nó quát một tiếng. Nó quay vào.
Ánh Dương đi sát lại gần Luân một chút.
"Cái anh ấy..." Con bé nói nhỏ. "Hồi trước bắt nạt cậu à?"
"Ừ."
"Sao bây giờ trông anh ấy buồn thế?"
Luân không trả lời được.
---
Tới đầu ngõ thì Ánh Dương dừng lại, quay sang Luân.
"Tớ hỏi cậu cái này."
"Ừ."
"Sao cậu chẳng bao giờ xưng gì với tớ?"
Luân đứng sững. Thằng Cò với thằng Bống đi trước đã quay lại, đứng nhìn.
Con bé nói đúng. Trước mặt người ta, nó xưng em, gọi cô, như đứa ở với cô chủ. Với thằng Cò thì tao mày. Với thằng Bống thì anh em. Với ông lang thì con, với lão ăn mày thì cháu. Còn với con bé này, lúc ngồi trên bậc điếm, lúc nằm trên cỏ đê, thì nó chẳng xưng gì cả. Nó nói trống không. Nó không biết phải xưng cái gì.
"Không biết xưng gì." Nó nói thật.
Ánh Dương nhìn nó, rồi bật cười.
"Thì xưng tớ." Con bé nói. "Tớ với cậu. Như bạn."
Luân mở miệng. Chữ ấy nằm ngay ở đầu lưỡi, mà nó không ra được. Nó đỏ mặt, đỏ tới mang tai.
"Ừ." Nó nói.
Thằng Cò ôm bụng cười rũ rượi. Ánh Dương thì chẳng cười nữa. Con bé vênh mặt, như vừa thắng một ván, rồi quay người chạy ra bến đò, hai bím tóc tung tẩy.
---
Luân đi học khắc với ông phó cả.
Nó không định đi. Là ông phó cả gọi nó.
Một buổi chiều, lúc nó đi ngang qua xưởng mộc nhà thằng Bống, ông phó cả đang ngồi bào gỗ ngoài hiên, gọi với ra.
"Thằng Luân. Vào đây."
Nó vào. Xưởng mộc thơm lừng mùi gỗ mít, mùi gỗ lim, mùi dầu trẩu. Phoi bào cuộn tròn như những lọn tóc quăn, vương vãi khắp nền, giẫm lên nghe lạo xạo. Trên tường treo đủ thứ, đục, bạt, cưa, bào, dùi, cái nào cũng có chỗ riêng.
"Mấy cái cọc mả mày khắc tên lính trên Dốc Cửa Mả," ông phó cả nói, tay vẫn đẩy bào, "tao lên xem rồi."
Luân đứng im.
"Nét được." Ông nói. "Dao quắm mà khắc được thế là được. Thằng Bống nhà tao cầm đục hai năm nay mà khắc chữ nhân còn xiêu như thằng say."
Thằng Bống ở góc xưởng kêu lên phản đối. Ông phó cả không để ý.
"Nó đòi học khắc để làm biển. Mà một mình nó học thì nó lười. Mày học với nó. Tao không lấy tiền."
"Dạ..." Luân nói. "Không ai cho không ai cái gì ạ."
Ông phó cả ngừng tay bào, ngẩng lên nhìn nó. Rồi ông cười khà khà.
"Ông lang dạy mày thế à?"
"Dạ, cả hai thầy con đều dạy ạ."
"Thế thì quét xưởng cho tao. Khuân gỗ cho tao. Sòng phẳng chưa?"
"Dạ, sòng phẳng ạ."
---
Học khắc không giống khắc cọc mả.
Khắc cọc mả thì dao quắm dí vào thân tre, cứa một đường là được. Khắc gỗ thì phải biết gỗ. Ông phó cả bảo gỗ nào cũng có thớ, như người có tính. Gỗ mít thớ dọc, mềm, dễ đục, nhưng đục ngang thớ thì nó nứt toác. Gỗ thị thớ mịn, khắc chữ đẹp, nhưng cứng, đục sai một nhát là hỏng cả tấm. Gỗ lim thì thôi, trẻ con đừng mó vào.
"Đục không phải để đục." Ông nói. "Đục là để bỏ đi cái không cần. Cái cần thì nó nằm sẵn trong gỗ rồi, mày chỉ việc bỏ cái thừa đi cho nó hiện ra."
Luân không hiểu câu ấy. Nhưng nó nhớ.
Nó học cầm đục bằng tay trái, gõ vồ bằng tay phải. Nó học đục thẳng, đục chéo, đục vòng. Nó học mài đục trên đá mài cho tới lúc lưỡi đục soi được mặt. Mỗi chiều một canh giờ, sau cái canh giờ ngồi bậc điếm, trước cái canh giờ ra sân điếm tập với lão. Tối về, người nó đầy phoi bào. Ông lang nhìn một cái, không hỏi, chỉ bảo:
"Học thì học. Việc nhà không được bỏ."
"Dạ."
---
Tới tháng Bảy, còn hơn một tháng nữa là cả bọn đi, thì nó biết nó muốn khắc cái gì.
Nó xin ông phó cả một mẩu gỗ mít thừa, cỡ bằng lòng bàn tay, dày hai đốt ngón tay. Nó không nói để làm gì. Ông phó cả cũng không hỏi. Ông chỉ nhìn nó cầm mẩu gỗ đi ra góc xưởng, ngồi xổm xuống, rồi ông quay sang thằng Bống, nháy mắt một cái. Thằng Bống cười hì hì.
Nó khắc hỏng cái đầu tiên. Đục ngang thớ, nứt đôi.
Nó khắc hỏng cái thứ hai. Tia thứ tám lệch, đâm chéo sang tia thứ chín.
Cái thứ ba thì nó khắc chậm. Chậm lắm. Mỗi chiều chỉ được một tia. Nó khắc cái vòng tròn ở giữa trước, tròn như cái miệng bát, rồi từ cái vòng ấy tỏa ra những cái tia, tia dài xen tia ngắn, như nó nhớ cái mặt trời trên lưỡi gươm chú Lâm. Nó không nhớ được mấy tia. Nó đếm theo trí nhớ của nó: mười bốn.
Lão ăn mày bắt gặp nó ngồi khắc trên bậc điếm một buổi trưa.
Lão ngồi xuống cạnh nó, nhìn mẩu gỗ trong tay nó, nhìn lâu.
"Khắc cho ai?"
"Dạ... cho bạn ạ."
"Con gái." Lão nói. Không phải hỏi.
Luân đỏ mặt. Tay nó run, lưỡi đục trượt đi một chút. Nó vội dừng lại.
Lão ăn mày khịt mũi.
"Khắc thì khắc cho thẳng." Lão nói. "Đàn bà nó nhớ cái méo lâu hơn cái thẳng."
Rồi lão cầm bầu rượu đứng dậy, đi vào trong điếm. Luân ngồi nhìn cái tia vừa bị trượt. Nó chỉ lệch một chút. Một chút thôi, bằng sợi tóc.
Nó không khắc lại.
---
Mồng mười tháng Tám, thằng Bống nghĩ ra một chuyện.
"Mình khắc tên lên cửa điếm đi." Nó nói. "Khắc cả bốn đứa. Mai kia về, nhìn là biết."
Thằng Cò bảo trẻ con. Nhưng nó là đứa đầu tiên đứng dậy.
Luân mang đục với vồ ra. Cái khung cửa điếm bằng gỗ xoan, đã mục mất chân, nhưng thanh gỗ ngang ở trên thì còn chắc. Ánh Dương lấy than viết tên từng đứa lên thanh gỗ, chữ nhỏ, đều, thẳng. Rồi Luân đục theo nét than.
Tên con bé khắc trước. 陽. Dương, là nắng.
Rồi tên thằng Cò. Con bé hỏi tên chữ của nó là gì. Thằng Cò gãi gáy bảo hôm thơ lại vào nhà, ông lang đọc là Hạc. Ánh Dương viết 鶴. Luân khắc. Chữ hạc nhiều nét lắm, khắc mất cả buổi.
"Hạc là con gì?" Thằng Cò hỏi.
"Là con chim cổ dài, chân dài, trắng muốt." Ánh Dương nói. "Như con cò, mà sang hơn."
Thằng Cò ngẩn ra một lúc, rồi ôm bụng cười lăn cười bò.
"Thế thì tao vẫn là chim!" Nó nói. "Tên nôm là cò, tên chữ là hạc. Đằng nào cũng đứng một chân ngoài ruộng!"
Thằng Bống đòi tự khắc tên mình. Nó cầm đục, gõ vồ, gõ lệch mất hai nhát, chữ xiêu như thằng say đứng đầu ngõ. Thằng Cò chê. Thằng Bống không cho sửa.
Tới tên Luân thì Ánh Dương dừng tay.
"Họ cậu là gì?"
"Không có."
Con bé nhìn nó một lúc. Rồi con bé viết một chữ, 倫, nhưng không viết sát vào đầu thanh gỗ. Con bé chừa ra một khoảng trống bên trên, vừa đủ một chữ.
"Để đấy." Con bé nói. "Bao giờ có thì khắc thêm."
Luân nhìn cái khoảng trống ấy. Rồi nó cầm đục, khắc chữ Luân ngay bên dưới, đúng chỗ con bé viết.
Bốn cái tên trên thanh gỗ ngang cửa điếm. Một cái tên có khoảng trống ở trên đầu.
---
Rằm tháng Tám, cả Lò Trấu trông trăng.
Sân đình bày cỗ trông trăng, mâm nào cũng có bưởi, có hồng, có cốm, có bánh. Trẻ con rước đèn khắp các ngõ, đèn ông sao, đèn cá chép, đèn kéo quân. Đèn ông sao nhà ông phó cả năm nay nhiều nhất làng, năm cánh đều tăm tắp, dán giấy điều đỏ au. Tiếng trống ếch tùng tùng cắc, tùng tùng cắc, vang khắp xóm.
Ánh Dương được phép ở lại xem rước đèn tới giờ Tuất. U già đi theo, nhưng u già đứng ở đầu đình xem múa lân, mắt dán vào con lân đầu đỏ nhảy lên nhảy xuống, quên mất con bé.
Bốn đứa lẻn ra điếm.
Trăng rằm tháng Tám nhô lên từ sau Dốc Cửa Mả, tròn vành vạnh, sáng vằng vặc. Cây gạo già trên bãi tha ma in bóng lên nền trời, tán lá đen sẫm.
Còn mười bốn hôm nữa là cả bọn đi.
Luân lấy trong túi áo ra cái mẩu gỗ, bọc trong một mảnh lá chuối. Nó đưa cho Ánh Dương. Nó không nói gì.
Con bé mở lá chuối ra. Trăng sáng, nhìn rõ từng nét. Cái vòng tròn ở giữa, mười bốn cái tia tỏa ra, dài ngắn xen nhau. Gỗ mít vàng ươm, mới được đánh bằng lá chuối khô, bóng lên dưới ánh trăng.
Ánh Dương nhìn mẩu gỗ rất lâu.
"Trung thu người ta tặng trăng." Thằng Cò nói. "Mày tặng mặt trời."
Thằng Bống huých vào sườn nó một cái.
Ánh Dương lật mẩu gỗ lại, nhìn mặt sau. Mặt sau trơn, không khắc gì. Rồi con bé lật lại mặt trước, đưa ngón tay cái miết theo từng cái tia, miết chậm, từng tia một. Tới tia thứ chín thì ngón tay con bé dừng lại.
"Méo." Con bé nói.
Luân cúi đầu.
"Tớ khắc lại cái khác." Nó nói.
Chữ tớ ra khỏi miệng nó trơn tru, trơn tới mức chính nó cũng giật mình.
Ánh Dương ngẩng lên nhìn nó. Dưới trăng, mắt con bé sáng long lanh, như có nước.
"Không." Con bé nói. "Cái này."
Rồi con bé bọc mẩu gỗ lại trong mảnh lá chuối, cẩn thận, gấp từng góc, rồi mở cái tráp gỗ vẫn ôm trong tay, đặt vào đấy, nằm bên dưới mấy tờ giấy chép thơ, đóng nắp lại.
---
Trên đường về, lúc đi ngang qua ngõ nhà ông trùm, Luân nghe một tiếng sột soạt ở trên đầu.
Nó ngẩng lên.
Cây nhãn đầu ngõ là giống nhãn muộn, đang mùa quả chín, chùm nào chùm nấy trĩu xuống, vỏ vàng nâu. Trên cành cao nhất có một bóng người ngồi vắt vẻo. Trăng sáng quá, sáng tới mức Luân nhìn thấy rõ cái mặt tròn, cái cằm bạnh, cái miệng đang nhai nhồm nhoàm, vỏ nhãn rơi lả tả xuống đất.
Thằng Quý.
Nó ngồi đấy từ lúc nào, Luân không biết. Chỗ ấy nhìn thẳng xuống con đường đất dẫn ra điếm.
Thằng Quý nhìn Luân. Nhìn Ánh Dương đi phía trước, cái tráp gỗ ôm trước ngực. Nó nhổ một cái hạt nhãn xuống, hạt nhãn rơi lộp độp trên lá.
Rồi nó cười.
---
Tay non đục một vầng dương,
Tia dài tia ngắn, tia thương lệch hàng.
Trăng rằm soi tráp gỗ vàng,
Trên cành nhãn chín có ngàn mắt theo.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.