Chương 39: Mười Lăm
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
47 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 47/47 chương
Hai mươi tám tháng Chạp năm Quý Mão, xe bò của phủ Thượng Phụ đưa bọn trẻ về.
Luân ra bậc điếm chờ từ lúc mặt trời mới ngang ngọn tre. Nó ngồi đấy, hai tay để trên đầu gối, lưng dựa vào cánh cửa điếm mục. Trên đầu nó, thanh gỗ ngang vẫn còn bốn cái tên. Mưa gió hơn một năm, mấy nét đục đã thâm lại, rêu bám vào chân chữ Bống, xanh xanh. Cái khoảng trống bên trên chữ Luân thì vẫn trống.
Lão ăn mày nằm trong điếm, ngáy.
Gần trưa thì có tiếng xe bò kẽo kẹt ngoài đầu làng. Rồi tiếng người ồn ào, tiếng trẻ con reo, tiếng đàn bà gọi con. Luân đứng dậy. Nó không chạy ra. Nó đứng yên ở bậc điếm.
Người chạy tới trước là thằng Cò.
Nó chạy từ đầu ngõ Mương Đen, chạy như bị ma đuổi, cái tay nải trên lưng nảy lên nảy xuống. Luân nhìn nó chạy mà suýt không nhận ra. Thằng Cò cao hẳn lên, vai rộng ra, bắp chân rắn như bắp chuối. Da nó đen nhánh, đen hơn cả hồi đi gánh thuốc. Nó chạy tới trước bậc điếm, không dừng lại, lao thẳng vào Luân, hai đứa ôm nhau lăn xuống đất, bụi đỏ bay mù mịt.
"Mày gầy đi!" Thằng Cò hét, ngay sát tai nó. "Ông lang không cho mày ăn à?"
"Mày đen như cột nhà cháy."
"Đen thì sao! Đen thì khỏe!"
Thằng Cò vật nó ra, hai tay khóa cổ tay nó. Luân vặn người thoát ra, lăn một vòng, đứng dậy. Thằng Cò cũng đứng dậy, thủ thế. Nó thủ thế không giống lão ăn mày dạy. Nó thủ thế như lính, chân trước chân sau, hai tay che mặt, thẳng tắp như người ta kẻ chỉ.
"Thầy trên huyện dạy." Nó nói, cười toe. "Tao chín luồng rồi. Mày mấy?"
Luân không biết. Mấy năm nay không ai đếm cho nó. Lần cuối là con bé áo xanh đếm, bên suối, năm luồng.
"Không biết."
Thằng Cò nhìn nó một lúc. Rồi nó buông tay xuống, cười hì hì, khoác vai nó.
"Thôi. Tết. Không đánh."
Lão ăn mày trong điếm lật người, lẩm bẩm câu gì đó, ngáy tiếp.
---
Thằng Bống về sau, đi cùng ông phó cả. Nó cũng cao lên, cái chỏm tóc bây giờ đã búi lại thành một cái búi nhỏ trên đỉnh đầu, trông như một ông đồ con. Nó chạy tới, khoe ngay cái túi vải đeo bên hông, trong có một bộ đục nhỏ, cán gỗ thị, lưỡi mài sáng loáng.
"Thầy dạy chữ cho em khắc thử cái biển nhỏ." Nó nói, móc trong túi ra một tấm gỗ bằng hai bàn tay. "Anh xem này."
Trên tấm gỗ có hai chữ, khắc chìm, nét thẳng, đều. Luân đọc được. 登科. Đăng khoa.
"Em khắc cho chị Dương." Thằng Bống nói. "Tập trước. Mai kia chị ấy đỗ thật thì em khắc cái to."
Thằng Cò cầm tấm gỗ lên, lật đi lật lại, gật gù.
"Thẳng hơn chữ mày trên cửa điếm." Nó nói.
"Chữ trên cửa điếm là hồi em còn bé!"
---
Ánh Dương về bằng thuyền, chiều muộn.
Luân không ra bến đò. Con bé bảo chờ ở bậc điếm, thì nó chờ ở bậc điếm. Thằng Cò với thằng Bống về nhà ăn cơm rồi quay ra, ba đứa ngồi đó, nhìn trời chuyển từ vàng sang đỏ sang tím.
Rồi có tiếng guốc gõ trên con đường đất.
Luân ngẩng lên.
Con bé đi tới. Đi chậm. Không chạy, không nhảy chân sáo, không xách guốc trong tay như năm nào. Con bé đi đúng như người ta dạy con gái đi, bước ngắn, lưng thẳng, hai tay khép trước bụng. Tóc không còn thắt hai bím nữa, búi gọn sau gáy, cài một cái trâm gỗ. Áo tứ thân màu nâu non, cái yếm lụa màu mỡ gà, thắt lưng xanh buông vạt. Mặt con bé trắng hơn, dài hơn, hai gò má không còn tròn như cái bánh trôi.
Luân đứng dậy. Nó đứng dậy mà không biết vì sao nó đứng dậy.
Con bé dừng lại trước bậc điếm. Con bé nhìn ba đứa, nhìn thanh gỗ ngang cửa, nhìn cái khoảng trống trên chữ Luân. Rồi con bé khẽ cúi đầu, chào, đúng kiểu người ta dạy trong lớp con gái.
"Chào các anh."
Thằng Cò trợn mắt. Thằng Bống há miệng.
Rồi con bé ngẩng lên, và cười. Cái cười cũ. Cái cười thẳng tưng, nhe cả hàm răng, cái cười của con bé chín tuổi đứng dưới mưa bụi bảo cái tên thằng Bần xấu thế.
"Bà giáo mà nhìn thấy tớ chào thế này thì bà khen." Con bé nói. "Mệt chết đi được."
Rồi con bé tháo guốc, ngồi phịch xuống bậc điếm, cạnh Luân.
Luân vẫn đứng. Nó không biết phải ngồi xuống thế nào. Cái chỗ trống bên cạnh con bé bỗng dưng hẹp lại, hẹp tới mức nó không biết đặt người vào đâu cho vừa.
"Ngồi xuống đi." Con bé nói. "Đứng như cái cọc."
Nó ngồi. Nó ngồi cách con bé một gang tay, xa hơn ngày trước một gang tay.
Thằng Cò nhìn nó. Nhìn hai cái tai nó đỏ lựng như hai miếng tiết. Thằng Cò không nói gì. Nhưng lúc Ánh Dương quay sang hỏi chuyện thằng Bống, thằng Cò nháy mắt với Luân một cái, cái nháy mắt dài, chậm, đầy ý tứ, như bà hàng nước vừa nghe được chuyện hay.
Luân quay mặt đi.
---
Mùng một Giáp Thìn, Luân mười lăm.
Mấy ngày Tết ấy, bốn đứa lại như cũ. Mà cũng không như cũ.
Mùng hai, cả bọn đi chợ Tết bên kia sông. Thằng Cò mặc cả mua được một phong pháo tép rẻ hơn người ta ba đồng, về đốt ở bãi đất trước điếm, đì đoành, lẹt đẹt, khói xanh bay mù mịt. Thằng Bống sợ, bịt tai. Ánh Dương thì không sợ. Con bé còn tự tay châm ngòi, châm xong mới chạy, vừa chạy vừa cười, tà áo tứ thân bay lật phật.
Mùng ba, cả bọn ngồi bậc điếm nghe thằng Cò kể chuyện trường. Kể thầy dạy võ râu dài tới ngực, quát một tiếng cả sân im phăng phắc. Kể có đứa con nhà quan huyện ỷ thế bắt nạt đứa khác, bị thằng Cò vật ngã ba lần liền, lần thứ ba đứa ấy khóc gọi mẹ. Kể có đêm trường cháy bếp, cả bọn học trò xếp hàng chuyền nước. Kể tối tối cả bọn trốn ra sau bếp đánh đáo ăn tiền, nó thắng luôn, thắng tới mức mấy đứa con nhà quan phải xin đánh chịu. Nó xòe tay khoe mấy đồng kẽm mới, cười hì hì. Luân nhìn mấy đồng tiền ấy, không nói gì.
Ánh Dương kể ít hơn. Con bé kể lớp con gái, kể bà giáo, kể mấy đứa bạn cùng phòng thêu khăn thêu gối để dành đi lấy chồng. Kể tới đấy thì con bé im.
"Còn cậu?" Luân hỏi. "Cậu thêu gì?"
"Tớ không thêu." Con bé nói. "Tớ đọc sách thằng Bống chép. Đọc tới quyển Mạnh Tử rồi."
"Rồi bà giáo có biết không?"
"Biết." Con bé nói. "Bà phạt tớ quỳ ba buổi. Bà bảo đàn bà đọc sách thánh hiền thì hỏng. Bà bảo đàn bà biết nhiều thì khổ." Con bé nhún vai. "Tớ quỳ xong thì đọc tiếp."
Thằng Cò vỗ đùi đánh đét, cười ha hả. Thằng Bống cúi đầu, lí nhí bảo tại em.
Luân không cười. Nó nhìn con bé. Nhìn hai đầu gối con bé, qua lớp vải quần lụa đen, chỗ người ta quỳ ba buổi trên nền gạch.
Nó nhớ lá thư cuối năm. Người trên kinh về xem mặt. Được chọn.
Nó không hỏi. Con bé cũng không nhắc.
---
Mùng năm, thằng Hợi chặn nó ở Ngõ Mương Đen.
Thằng Hợi về cùng chuyến xe với thằng Cò. Nhưng thằng Hợi về hẳn. Cả làng biết. Học võ hơn một năm, kẹt ở tám luồng, không lên được nữa. Tay phải hỏng thì múa thương không được, múa đao tay trái thì chậm hơn người ta nửa nhịp. Chữ thì không biết, thầy dạy võ bảo không biết chữ thì không đọc được binh thư, không đọc được binh thư thì học tiếp làm gì. Mà ở nhà, lão đồ tể thì cứ ba tháng lại nhờ người lên huyện gọi về, bảo lò mổ thiếu người.
Năm nay thằng Hợi mười tám. Nó về, lại đeo cái tạp dề da, lại cầm con dao mổ, lại vác lợn trên vai đi qua đi lại Ngõ Mương Đen.
Chiều mùng năm, Luân đi lấy thuốc ở nhà ông phó cả về, đi qua cửa lò mổ. Thằng Hợi đứng giữa ngõ. Không có đứa em nào đi theo. Không có đứa nịnh nào. Chỉ có mình nó, cởi trần, trời tháng Giêng lạnh buốt mà người nó bốc hơi nghi ngút.
"Tao bảo rồi." Thằng Hợi nói. "Tao về thì mày liệu hồn."
Luân đặt gói thuốc xuống bên vệ đường.
Nó đứng. Đứng như người chờ đò. Vai xuôi, hai tay buông, mắt nhìn vai thằng Hợi.
Thằng Hợi cười. Cái cười méo, không vui.
"Đứng như cái cọc thế là chờ tao đánh trước à?" Nó nói. Nó bước lên một bước. "Tao không phải thằng ngày xưa."
Rồi nó đánh.
Nó đánh bằng tay trái. Không phải kiểu đánh của thằng đồ tể con ngày xưa, vung tay vung chân như bò húc. Đây là đòn của người đã học. Chân trước trụ, hông xoay, nắm đấm đi thẳng như mũi giáo. Nhanh. Nhanh hơn cây gậy tre của lão ăn mày những ngày lão chém chậm.
Luân thấy vai nó động. Luân gạt. Gạt được. Cánh tay nó tê dại tới tận vai, như vừa gạt một khúc gỗ lim.
Đòn thứ hai tới ngay sau. Luân thấy vai động, mà không kịp. Nắm đấm thằng Hợi thúc vào mạng sườn nó, hự một tiếng, hơi trong ngực nó bật ra hết, nó gập người xuống.
Đòn thứ ba nó né được, lăn một vòng ra xa, đứng dậy.
Nó đứng. Thở dốc. Mạng sườn đau nhói, như có ai cắm một cái que cời lửa vào.
Thằng Hợi không lao theo. Nó đứng đó, tay trái nắm chặt, tay phải buông thõng bên sườn.
Luân nhìn thằng Hợi. Nó biết. Không phải biết bằng đầu. Biết bằng cái mạng sườn đang đau, bằng cánh tay đang tê. Nó đánh không lại. Không phải hôm nay. Có khi không phải cả năm nay.
Dưới rốn nó, cái ấm ấy động đậy. Có một cái gì đó muốn dâng lên. Nó biết cái ấy. Cái ngọt. Cái hôm ở thửa chiêm trũng, cái nan tre gãy, cái đầu thằng Hợi ngụp dưới nước.
Nó nhớ câu lão ăn mày. Cái khó nhất là dừng.
Nó nhớ con nghê ở cổng đình. Ngồi đúng chỗ thì không phải chạy.
Chỗ này không phải chỗ của nó.
Luân quay người, chạy.
Chạy thế Chạch Lủi, luồn qua hàng rào dâm bụt nhà bên, lách qua khe giữa hai đống rơm, vòng ra bờ mương. Nó chạy nhanh, nhanh như những ngày chín tuổi chạy trốn thằng Hợi quanh cái ao làng.
Sau lưng nó, thằng Hợi không đuổi.
Luân dừng lại ở bờ mương, núp sau gốc duối, ngoái đầu lại nhìn qua kẽ lá.
Thằng Hợi vẫn đứng giữa ngõ. Nó không cười. Nó đứng nhìn theo chỗ Luân vừa biến mất. Rồi nó cúi xuống nhìn bàn tay trái của mình, bàn tay vừa đánh. Bàn tay ấy run.
"Chạy đi." Thằng Hợi nói. Nói với cái ngõ vắng. "Ngày xưa tao cũng chạy."
Rồi trong lò mổ, lão đồ tể quát một tiếng. Thằng Hợi quay vào.
---
Thằng Cò biết chuyện thì đòi đi đánh thằng Hợi.
"Chín luồng với tám luồng thì chênh gì!" Nó nói, xắn tay áo. "Tao vật nó ba lần như vật thằng con quan huyện!"
"Thôi." Luân nói.
"Thôi cái gì! Nó đánh mày gãy cả..."
"Không gãy." Luân nói. Nó ấn tay vào mạng sườn, đúng chỗ ông lang dạy, dò từng cái xương một. Không gãy. Chỉ bầm. "Nó về hẳn rồi. Mày thì còn đi. Mày đánh nó rồi mày đi, thì nó đánh ai?"
Thằng Cò đứng đực ra.
"Nó đánh tao." Luân nói. "Thôi."
---
Tối ấy, lão ăn mày nghe chuyện, gật gù.
"Chạy là đúng."
Luân ngồi trên bậc điếm, tay vẫn ôm mạng sườn.
"Cháu tưởng chú dạy cháu đứng." Nó nói.
"Tao dạy mày ngồi đúng chỗ." Lão nói. "Ngồi đúng chỗ thì phải biết chỗ nào không phải chỗ của mình. Thằng nào đứng ở chỗ không phải chỗ của nó thì là thằng chết."
Lão tu một ngụm rượu.
"Thằng đồ tể con ấy học đâu ra cái đấm ấy?"
"Dạ, trường trên huyện ạ."
Lão khịt mũi.
"Đấm thẳng thế thì chỉ đánh được người đứng yên." Lão nói. "Mày mà không đứng yên thì nó đấm vào gió." Lão nhìn nó. "Nhưng mày chưa đủ nhanh để không đứng yên. Luyện thêm."
---
Mùng mười, bọn trẻ lại lên huyện.
Ánh Dương đi thuyền, sáng sớm. Hôm trước, lúc ngồi bậc điếm lần cuối, con bé nói một câu, nói không nhìn Luân, nhìn lên thanh gỗ ngang cửa.
"Hè tớ về." Con bé nói. "Hè này người trên kinh về xem mặt. Bà giáo bảo đứa nào được chọn thì về nhà trước."
Luân không nói gì.
"Tớ không muốn được chọn." Con bé nói, nhỏ hơn. "Tớ học kém đi được không nhỉ?"
Thằng Cò với thằng Bống đang tranh nhau cái bánh chưng cuối cùng ở đằng xa, không nghe thấy.
"Cậu không học kém được." Luân nói.
Con bé quay sang nhìn nó. Cái nhìn ấy lâu hơn mọi khi.
"Ừ." Con bé nói. "Tớ không học kém được."
---
Đêm ấy, Luân sang xưởng ông phó cả, xin một mẩu gỗ thị.
Gỗ thị thớ mịn, khắc đẹp, nhưng cứng, đục sai một nhát là hỏng cả tấm. Ông phó cả bảo trẻ con đừng mó vào. Luân bây giờ mười lăm, không còn là trẻ con nữa. Ông phó cả nhìn nó một lúc, rồi ông chọn cho nó một mẩu gỗ thị đẹp nhất, vàng như mật ong, dài hơn gang tay một chút.
"Khắc cái gì?"
"Dạ, cái lược ạ."
Ông phó cả không hỏi khắc cho ai. Ông chỉ gật đầu, đưa cho nó cái cưa nhỏ nhất xưởng, lưỡi mảnh như lá lúa.
"Răng lược thì phải cưa. Đục thì vỡ." Ông nói. "Cưa chậm. Một cái răng một buổi."
Luân mang mẩu gỗ ra điếm. Nó ngồi trên bậc điếm, dưới ánh đèn dầu hắt ra từ trong, bắt đầu vạch than lên mặt gỗ. Sống lược thì khắc một vầng mặt trời. Mười bốn cái tia.
Lão ăn mày ngồi trong điếm, nhìn ra. Lão nhìn cái mẩu gỗ, nhìn cái vòng tròn than trên mặt gỗ.
"Lại mặt trời à?"
"Dạ."
Lão nhìn nó thêm một lúc.
"Lần này khắc cho thẳng." Lão nói.
Rồi lão nằm xuống, quay lưng vào vách.
---
Mười lăm đứng giữa ngõ quen,
Đòn xưa trả lại, rỉ đen vết bầm.
Lược vàng gỗ thị âm thầm,
Mặt trời mười bốn tia nằm chờ trao.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.