Phong Sương Niên Ký

Chương 42: Trống Điếm

Đăng: 10/10/2026 11:54 3,040 từ 14 lượt đọc

Tháng Chạp năm Giáp Thìn, thằng Cò gửi thư về. Thư ngắn, chữ nôm, không sai chữ nào.

Quân mình đánh nhà Mạc ở mạn Đông Bắc. Người ta bảo Đô đốc Cao Phong bị thương, bị cái thằng tướng Hạo Nguyên hôm trước đánh. Quân mình giữ được một nửa đất. Nửa kia người ta bảo triều đình đang ngồi bàn với nhà Mạc với Hạo Nguyên. Ở trường không cho học trò về ăn Tết, bảo đường không yên. Mày bảo ông lang giữ mình. Mày cũng giữ mình. Đừng lên đồi.

Luân đọc lá thư cho ông lang nghe, dưới ngọn đèn dầu.

Ông lang ngồi nghe, không nói gì. Tới câu nửa kia triều đình đang ngồi bàn, ông cầm điếu cày lên, châm đóm, rồi lại đặt điếu xuống mà không rít.

"Nửa nào?" Ông hỏi.

Luân không biết. Thằng Cò không viết.

Ông lang không hỏi nữa. Tối ấy, ông ngồi xé vải làm băng tới quá canh ba. Không ai bảo ông xé. Trong làng không ai ốm, không ai bị thương. Ông cứ xé, xé đầy hai thúng, xếp vào góc gian thuốc.

Tết Ất Tỵ, Luân mười sáu.

Tết không có pháo. Người làng bảo đốt pháo thì bên kia tường nghe thấy. Không ai biết bên kia tường có ai, mà ai cũng sợ bên kia tường nghe thấy.

Lão ăn mày uống nhiều hơn. Trước kia một bầu rượu lão uống ba ngày. Bây giờ một ngày hết một bầu. Lão ngồi ở ngưỡng cửa điếm, nhìn lên Dốc Cửa Mả, nhìn qua cây gạo, nhìn về phía bức tường thành đá mà từ điếm không nhìn thấy được. Có hôm Luân mang cơm ra, lão không ăn. Có hôm Luân chém gậy cho lão xem, lão không nhìn.

Chiều mười bốn tháng Hai, Luân thấy bàn tay trái lão cầm bầu rượu run lên. Run mạnh. Run tới mức rượu sóng sánh tràn ra ngoài miệng bầu. Lão nhìn bàn tay mình rất lâu. Rồi lão đặt bầu rượu xuống, nắm bàn tay ấy lại bằng bàn tay kia, nắm chặt, tới lúc nó thôi run.

"Về đi." Lão nói, không nhìn Luân. "Tối nay đừng ra đây."

Luân đứng im.

"Về." Lão nói. "Ở với lão lang."

Đêm mười bốn tháng Hai, mưa phùn.

Luân tỉnh giấc giữa đêm, không biết vì sao. Nó nằm trong ổ rơm, trong gian bếp, nghe.

Không có gì.

Nó nghe mãi, rồi nó mới hiểu. Không có gì cả. Không có tiếng ếch nhái dưới ruộng. Không có tiếng dế. Không có tiếng chó. Làng Lò Trấu có mấy chục con chó, đêm nào cũng có con sủa, có con tru, có con cắn nhau chí chóe ở đầu ngõ. Đêm nay không một con nào kêu.

Cái im ấy nó biết. Nó đã nghe cái im ấy ở bên kia bức tường thành đá, năm nó mười tuổi, đứng trước một cái gò đất đen.

Nó ngồi dậy.

Ông lang không có trong gian thuốc. Cái hòm thuốc gỗ không có ở góc. Đèn tắt, cổng tre khép hờ.

Rồi từ phía xóm Hạ, có một tiếng thét.

Tiếng thét của đàn bà. Cao, dài, xé toạc cái im của đêm như xé một tấm vải. Rồi đứt ngang. Không phải lịm dần như người ta hét hết hơi. Đứt ngang, như có ai cầm dao cắt phựt.

Rồi tiếng thét thứ hai, ở chỗ khác. Rồi thứ ba.

Luân chạy.

Nó không biết nó chạy đi đâu. Chân nó tự chạy. Chạy qua ngõ xóm Trung, qua Ngõ Mương Đen, qua cửa lò mổ tối om, tới cái điếm hoang dưới chân Dốc Cửa Mả. Cửa điếm mở. Lão ăn mày không có trong điếm. Trên sạp tre chỉ có cái bầu rượu, nằm nghiêng, rượu chảy ra ướt một vũng.

Cái trống da trâu vẫn treo trên xà. Bên cạnh treo một cái dùi tre, ai thay từ năm nào không biết, thay cho cái dùi gỗ mục đã gãy năm nào.

Tám năm trước, cũng cái trống ấy, một thằng bé chưa có tên trèo lên sạp mà đánh, đánh giữa mưa lũ, đánh tới tê cả cánh tay, để gọi xóm Hạ chạy nước.

Luân trèo lên sạp. Nó túm lấy cái dùi. Nó đánh.

Tùng. Tùng. Tùng.

Mặt trống rách, tiếng trống khô khốc, không vang. Nó đánh mạnh hơn. Tùng. Tùng. Tùng tùng tùng. Nó đánh tới lúc cái dùi tre gãy đôi trong tay, như cái dùi gỗ năm nào. Nó cầm nửa cái dùi mà đánh tiếp.

Ngoài kia, cửa các nhà bật mở. Có tiếng người gọi nhau, tiếng trẻ con khóc, tiếng chân chạy lộn xộn trên đường đất ướt.

Và ở đâu đó trong bóng tối, dọc các bờ tre, dọc các hàng rào dâm bụt, có những cái bóng đang di chuyển.

Luân nhìn thấy chúng từ trên sạp điếm, qua khung cửa. Không nhìn rõ. Chỉ thấy những cái bóng dài, thấp, sát mặt đất, trườn đi nhanh như nước tràn. Chúng không chạy như chó, không bò như rắn. Chúng trườn. Chỗ nào chúng trườn qua, tiếng người ở chỗ ấy tắt.

Người làng chạy về phía điếm, vì tiếng trống ở điếm.

Bà góa xóm Thượng, mẹ anh Sáng, tóc bạc trắng, chân đất, cái áo cánh mặc ngược, bước thấp bước cao. Mẹ thằng Nhỡ, và thằng Nhỡ đi bên cạnh, ống tay áo trái buộc túm. Chị Mộc, tay dắt thằng cu con, thằng bé năm tuổi, cái đứa năm xưa còn đỏ hỏn trên tay mẹ ở sân đình. Vợ ông Thuận, vẫn khoác cái rổ trên tay như người đi chợ. Một ông già què xóm Hạ chống gậy. Hai thằng con trai mười hai mười ba tuổi, mặt cắt không còn giọt máu. Một cô gái trẻ ôm cái bọc quần áo. Tám người. Chín người. Mười người.

"Đi đâu bây giờ?" Có người hỏi.

Luân nhảy xuống khỏi sạp.

Đường xuống sông thì phải đi qua xóm Hạ. Đường lên đê thì phải đi qua xóm Trung. Chỗ nào cũng có tiếng thét.

Chỉ còn đường lên Dốc Cửa Mả.

"Theo cháu." Nó nói.

Nó dẫn họ đi qua bãi tha ma. Qua cây gạo già. Lên đồi tranh. Không đi con đường mòn thơ lại đã đo, con đường người đi. Nó rẽ ngang, lách vào một khe giữa hai bụi mây gai, cái khe mà người lớn phải khom lưng xuống mới lọt, cái lối con lợn lòi mắt đỏ năm nào vẫn đi.

Mưa phùn lạnh buốt. Đất trơn. Bà góa xóm Thượng ngã hai lần, Luân đỡ dậy hai lần. Tới lần thứ ba thì thằng Nhỡ cúi xuống, cõng bà lên lưng, một tay vòng ra sau đỡ lấy bà, cái tay còn lại không còn để mà đỡ. Nó cõng như ngày xưa anh Sáng cõng mẹ đi chữa bệnh. Thằng cu con chị Mộc khóc, chị Mộc bịt miệng nó lại, bịt chặt tới mức Luân sợ nó ngạt.

Đi được một quãng thì có tiếng chân sau lưng. Luân quay phắt lại.

Thằng Hợi.

Nó đi sau cùng đoàn người. Cởi trần giữa trời mưa lạnh, người bốc hơi. Tay trái nó cầm một khúc gỗ, nửa cái đòn gánh lò mổ, gãy lởm chởm ở một đầu. Tay phải buông thõng bên sườn như mọi khi.

Hai đứa nhìn nhau trong bóng tối.

"Mày dẫn." Thằng Hợi nói. "Tao đi sau."

Luân không hỏi bố nó đâu. Thằng Hợi không nói.

Lối con lợn lòi dẫn tới tảng đá nứt dưới chân đồi sim.

Tảng đá to bằng cái nhà, nứt làm đôi từ đời nào, ở giữa là một cái hốc rộng, đủ cho chục người ngồi thu lu, trên có một tán cây si già che kín. Năm mười một tuổi, Luân đã đứng trên một tảng đá như thế này, cùng một đứa con gái áo xanh, nhìn con lợn lòi mắt đỏ trèo lên.

Nó đưa mười người vào hốc đá.

"Ngồi đây. Đừng nói. Đừng khóc. Đừng ra." Nó nói. Rồi nó quay sang thằng Hợi. "Tao về tìm thầy tao."

Thằng Hợi nhìn nó.

"Mày về thì mày chết."

"Thầy tao không có nhà."

Thằng Hợi im một lúc. Rồi nó ngồi xuống ở miệng hốc đá, lưng dựa vào vách đá, khúc gỗ đặt ngang trên đùi.

"Đi đi." Nó nói. "Tao ở đây."

Luân chạy về làng.

Nó chạy xuống đồi tranh, chạy qua cây gạo, qua bãi tha ma. Ở chân dốc, chỗ cái huyệt dài của hai mươi mốt người lính, có cái cọc tre khắc ba chữ 范五林 vẫn đứng cạnh cây giáo gãy. Nó chạy qua, không dừng.

Làng im.

Không còn tiếng thét nữa. Không còn tiếng chó. Không còn tiếng gì cả. Chỉ có tiếng mưa phùn lắc rắc trên lá chuối, và phía xóm Hạ, có một ngọn lửa đang cháy trên mái rạ nhà ai, cháy âm ỉ trong mưa, khói đen cuộn lên.

Ở đầu Ngõ Mương Đen, nó vấp phải một vật.

Nó cúi xuống nhìn.

Là một người. Nằm sấp, mặt úp xuống vũng nước. Nó lật người ấy lên.

Nó không nhận ra người ấy là ai.

Không phải vì trời tối. Mặt người ấy khô quắt lại, như một quả cà dầm muối để lâu ngày. Da bọc lấy xương, nhăn nheo, xám ngoét. Hai mắt trợn trắng, lồi ra. Miệng há hốc, môi co rúm lên để lộ cả hàm răng. Trên ngực người ấy có ba vệt rạch dài, song song, từ vai chéo xuống tận bụng, sâu tới mức Luân nhìn thấy cả xương sườn trắng hếu bên dưới.

Mà không có máu.

Ba vệt rạch sâu như thế mà không có máu. Không có vũng máu dưới đất. Không có máu trên áo. Như thể máu của người ấy đã chảy đi đâu hết, chảy vào đâu đó mà không chảy ra ngoài.

Luân ngửi thấy một cái mùi. Tanh. Tanh như mùi bùn ao tháng Sáu, lúc nước cạn, cá chết trương phềnh nổi trắng mặt ao.

Nó đặt người ấy xuống. Nó đứng dậy. Hai đầu gối nó mềm nhũn.

Nó chạy tiếp.

Nhà ông lang tối om.

Cổng tre vẫn khép hờ như lúc nó đi. Gian thuốc trống. Gian bếp trống. Cái ổ rơm của nó vẫn còn in hình người nó nằm. Giàn phơi thuốc ngoài sân đổ nghiêng, mấy cái nong rơi xuống đất, thuốc vương vãi trong bùn.

"Thầy!"

Không ai trả lời.

"Thầy ơi!"

Tiếng nó vọng đi, dội vào vách đất, dội ra ngoài ngõ. Rồi tắt.

Nó đứng giữa sân một lúc lâu. Rồi nó nghĩ tới mười người trong hốc đá. Tới thằng Hợi ngồi ở miệng hốc, khúc gỗ ngang đùi.

Nó quay đầu, chạy ngược lên đồi.

Từ xa, nó đã ngửi thấy.

Cái mùi tanh bùn ao ấy. Nồng hơn. Đặc hơn. Nồng tới mức lấn cả mùi mưa, mùi cỏ tranh ướt, mùi lá sim.

Nó chạy tới tảng đá nứt thì đứng khựng lại.

Mưa phùn vẫn rơi. Tán cây si già vẫn rủ xuống. Và dưới tán cây si, trên mặt đá, trên thành hốc, trên cỏ, trên rễ cây, chỗ nào cũng có máu.

Máu bắn tung tóe lên vách đá, thành những vệt dài, những vệt tròn, những vệt như ai hất cả một chậu nước tiết lên. Máu đọng thành vũng dưới chân đá, trong những hõm đá, hòa với nước mưa, loang ra thành những dòng đỏ sẫm chảy ngoằn ngoèo xuống dốc. Trên một cành si thấp, một mảnh khăn vấn đầu của ai treo lủng lẳng, ướt sũng máu.

Trong hốc đá là mười người.

Bà góa xóm Thượng nằm ngửa, hai tay còn quờ ra phía trước như đang đẩy ai, cái áo cánh vẫn mặc ngược. Thằng Nhỡ nằm đè lên nửa người bà, cái tay còn lại vẫn vòng ra sau như đang cõng, ống tay áo trái rỗng tuột ra, dính đầy máu. Mẹ thằng Nhỡ ngồi dựa vào vách đá bên cạnh, bàn tay vẫn đặt trên vai con, trên cái vai còn lại. Chị Mộc ngồi co ro trong góc, thằng cu con ôm trong lòng, cả hai khô quắt lại như hai con nhộng tằm để quá lứa. Vợ ông Thuận nằm nghiêng, cái rổ lăn ra xa, trong rổ có ba nén hương gãy đôi. Ông già què nằm vắt ngang miệng hốc, cái gậy gãy làm ba. Hai thằng con trai nằm chồng lên nhau. Cô gái trẻ ôm cái bọc quần áo, cái bọc rách toang, quần áo bung ra khắp nơi.

Người nào cũng có ba vệt rạch. Người nào cũng khô quắt. Người nào cũng trợn trắng mắt.

Máu bắn khắp nơi, mà người nào cũng không còn máu.

Như thể có một thứ gì đã xé họ ra, cho máu phun lên, rồi hút lại. Hút hết. Chỉ bỏ sót những giọt bắn ra xa quá, những giọt cái thứ ấy không kịp hút, hay không buồn hút.

Luân đứng đấy. Nó không thở được.

Nó không nôn. Nó muốn nôn mà không nôn được. Cái bụng nó thắt lại thành một nút, nút chết, thắt từ trong ra ngoài.

"...chạy đi..."

Luân quay đầu.

Thằng Hợi ngồi ở miệng hốc đá, đúng chỗ nó ngồi lúc Luân đi. Lưng vẫn dựa vào vách đá. Tay trái vẫn cầm khúc gỗ.

Khúc gỗ gãy thêm một đoạn, đầu gỗ đầy máu, máu đen, không phải máu người. Dưới chân thằng Hợi, trên đá, có một vệt dài nhầy nhụa như nhớt ốc, đen sì, bốc mùi tanh bùn ao.

Ngực thằng Hợi có ba vệt rạch. Nhưng mặt nó không khô quắt. Máu vẫn chảy ra từ ba vệt rạch, chảy xuống bụng, xuống đùi, xuống khúc gỗ. Nó chưa bị hút. Có cái gì đó đã bỏ nó dở dang.

Luân quỳ xuống trước mặt nó.

"Hợi."

Mắt thằng Hợi mở, mà không nhìn Luân. Nhìn qua Luân, nhìn vào bóng tối sau lưng Luân.

"...chạy đi..." Môi thằng Hợi mấp máy. Tiếng nó nhỏ, đứt quãng, khò khè như tiếng bễ thủng. "...mọi người... chạy đi..."

Luân áp cả hai bàn tay lên vết rạch mà ấn. Mười hai chỗ ông lang chấm nghệ năm nào, không chỗ nào ở ngực. Ba vệt rạch dài từ vai xuống bụng, rộng hơn cả bàn tay nó. Máu vẫn chảy qua kẽ ngón tay nó.

"Hợi. Hợi ơi."

"...chạy... đi..."

Bàn tay trái thằng Hợi siết chặt khúc gỗ. Siết tới mức các khớp ngón trắng bệch. Rồi lỏng ra.

Khúc gỗ rơi xuống đá, lăn một vòng, nằm im.

Thằng Hợi không lẩm bẩm nữa.

Luân quỳ trước xác thằng Hợi.

Nó nhìn cái mặt thằng Hợi. Cái mặt năm nào méo đi vì đau khi hòn gạch của thằng Cò đập vào vai. Cái mặt năm nào ngụp dưới nước thửa chiêm trũng. Cái mặt năm nào đứng giữa Ngõ Mương Đen bảo chạy đi, ngày xưa tao cũng chạy.

Bây giờ thằng Hợi không chạy.

Rồi Luân nghe thấy một tiếng động.

Trên đầu nó, trên tảng đá nứt, trong tán cây si. Một tiếng động nhỏ, ướt, đều đều. Chụt. Chụt. Chụt. Như tiếng người ta ngồi mút ốc luộc ở quán nước đầu chợ.

Luân không ngẩng lên.

Nó không ngẩng lên. Nó biết nếu nó ngẩng lên thì nó sẽ nhìn thấy một thứ gì đó mà cả đời nó không quên được. Nó biết nếu nó ngẩng lên thì cái thứ ấy sẽ biết nó đã nhìn thấy.

Thấy con gì đứng im mà nhìn mày thì đừng chạy. Lùi.

Cái thứ ấy không đứng im. Cái thứ ấy đang ăn.

Luân đứng dậy. Nó lùi một bước. Hai bước. Nó không rời mắt khỏi khúc gỗ trên mặt đá. Ba bước.

Tiếng chụt chụt trên đầu ngừng lại.

Luân quay người, chạy.

Nó chạy như chưa bao giờ chạy. Luồn như con chạch qua bụi mây gai, gai móc rách toạc áo, rách toạc da, nó không biết đau. Chạy xuống đồi tranh, trượt chân ngã lăn mấy vòng, lăn qua cỏ tranh ướt, đứng dậy chạy tiếp. Sau lưng nó, không có tiếng đuổi theo. Không có tiếng gì cả. Chỉ có cái mùi tanh bùn ao, bám theo nó, bám vào áo nó, vào tóc nó, vào hai bàn tay dính máu thằng Hợi.

Nó chạy qua bãi tha ma. Qua điếm. Vào Ngõ Mương Đen.

Ở khúc quành đầu ngõ, nó đâm sầm vào một người.

Hai bàn tay túm lấy vai nó. Hai bàn tay gầy, xương xẩu, mà giữ chặt như hai cái gọng kìm.

"Luân!"

Là ông lang.

Ông mặc áo cánh nâu, sau lưng đeo cái hòm thuốc gỗ. Áo ông đẫm máu, máu tươi, máu đỏ, từ ngực xuống tới tận gấu. Không phải máu của ông. Hai bàn tay ông cũng đẫm máu, máu dính đầy kẽ móng.

"Thầy..." Luân nói. Tiếng nó bật ra như tiếng một thằng bé lên năm. "Thầy ơi... chết hết rồi thầy ơi... Hợi chết rồi... chết hết rồi..."

Ông lang nhìn nó. Nhìn hai bàn tay nó dính máu. Nhìn cái mặt nó trắng bệch. Nhìn cái áo nó rách toạc.

Rồi ông ngẩng đầu lên, nhìn qua vai nó, nhìn lên Dốc Cửa Mả.

Luân quay lại.

Trên đỉnh Dốc Cửa Mả, trên con đường mòn mà hai người thơ lại đã đo bằng dây đo, đã vẽ vào sổ, đã hỏi nó đường lên rừng chỉ có lối ấy, có đuốc.

Không phải một cây đuốc. Hàng trăm cây. Một dòng lửa dài, đỏ rực, chảy từ trên đỉnh dốc xuống, như một con rắn lửa đang trườn qua bãi tha ma.

Rồi tiếng tù và.

Trầm, dài, rền rĩ. Cái tiếng tù và năm năm trước nó nghe từ trên đỉnh đồi tranh, lúc lửa cháy dọc chân núi.

Rồi tiếng vó ngựa.

Năm xưa trống giục nước về,

Năm nay trống giục, bốn bề máu loang.

Người nằm gỗ gãy ngang đàng,

Miệng còn lẩm bẩm: xin làng chạy đi.

0