Phong Sương Niên Ký

Chương 44: Đường Thiên Lý

Đăng: 12/10/2026 19:29 5,220 từ 4 lượt đọc

Mặt trời lên tới đỉnh đầu thì mưa phùn tạnh.

Luân vẫn ngồi sau tảng đá. Dưới chân đồi, khói trên làng Lò Trấu đã thưa, không cuộn lên thành cột nữa mà bò là là trên mặt ruộng như sương chiều. Mái rạ cháy hết rồi thì lửa cũng chẳng còn gì mà ăn.

Trên con đường đê, đoàn ngựa đen vẫn đi. Đi từ lúc trời hửng tới giờ chưa hết. Con đê chạy men sông, dẫn lên huyện. Con đường ấy Luân gánh thuốc đi hai mươi bốn phiên một năm, nhắm mắt cũng biết chỗ nào đất lở, chỗ nào có cái miếu thổ địa, chỗ nào có quán nước bà cụ bán chè xanh. Bây giờ trên con đường ấy chỉ còn ngựa đen với cờ đuôi ngựa đen, lũ lượt kéo nhau về phía huyện.

Trên huyện có thằng Cò. Có thằng Bống.

Luân đứng dậy. Nó bước xuống được mười bước về phía con đê thì dừng lại.

Từ chân đồi ra tới đê là ruộng. Ruộng chiêm mới cấy, phẳng lì, không một bụi tre, không một cái gò. Một thằng người đi giữa cánh ruộng ấy thì trên đê nhìn xuống thấy rõ như thấy con cò đứng giữa đồng. Mà người trên đê có cung sừng, có tên lông đen. Mà ngựa đen thì đang đi đúng con đường ấy. Nó có tới được huyện thì cũng tới sau ngựa đen.

Rồi nó nhận ra con đường ngựa đen xuống làng đêm qua là con đường nào. Từ chân tường, qua đồi sim, qua bãi tha ma, xuống Dốc Cửa Mả. Đúng con đường mấy năm trước ông thơ lại Hộ Bộ đi đo bằng dây, ghi vào sổ, rồi hỏi nó đường lên rừng chỉ có lối ấy. Nó đã giấu ông các lối thú. Đêm qua mười người đi qua lối thú. Cả làng ở lại trên con đường đã có người đo. Người đo ghi vào sổ, sổ mang về kinh. Nó không biết ai ở trên kinh đã đọc cuốn sổ ấy. Nó chỉ biết từ giờ nó sẽ nhớ.

Chạy về phía Nam. Đừng quay lại.

Nó nghĩ tới thằng Cò. Thằng Cò chín luồng. Thằng Cò học võ trên huyện hai năm rưỡi, thủ thế như lính. Thằng Cò chạy nhanh hơn nó. Trường có tường gạch, có cổng lim, có lính gác. Thằng Cò không sao đâu. Nó bảo mình thế. Bảo một lần chưa tin thì bảo thêm lần nữa.

Nó nhìn xuống khúc sông có bãi lau. Bãi lau tháng Hai xám xịt, ngọn lau khô gục xuống mặt nước. Chỗ ấy cả bọn từng thả diều sáo. Chỗ ấy có một đêm tháng Chín, một chiếc thuyền nan chống sang từ bên kia sông.

Những thứ Luân làm ra bằng hai bàn tay mình, những cái cọc mả khắc tên người chết, cái mặt trời gỗ mít, mấy cái tên khắc trên thanh gỗ ngang cửa điếm, bây giờ hoặc đã trôi theo sông, hoặc nằm ở chỗ ngựa đen đi qua. Chỉ còn cái lược gỗ thị. Cái lược ấy đã theo con thuyền ba tầng về kinh từ rằm tháng Chín, cài khuất sau một búi tóc. Ở kinh không có ngựa đen.

Nó quay lưng lại với con đê, đi lên đồi. Phía Nam là núi.

Chiều hôm ấy, nó gặp một con suối.

Nước suối trong, chảy róc rách qua những hòn đá phủ rêu xanh. Luân quỳ xuống, thò hai bàn tay vào nước.

Máu thằng Hợi đã khô trong những đường chỉ tay, khô thành những vệt nâu sẫm như vỏ cây. Nó chà. Nước chảy qua tay nó ngả sang màu hồng nhạt, loang ra, rồi trôi đi. Nó bốc cát dưới lòng suối lên chà tiếp, chà tới lúc da tay đỏ ửng, rát bỏng, chà tới lúc nước chảy qua đã trong veo mà nó vẫn chưa dừng được.

Nó cởi áo ra giặt. Vò đi vò lại trên mặt đá. Bùn ruộng chiêm trôi ra, tro trôi ra, máu trôi ra. Nhưng cái mùi thì không trôi. Cái mùi tanh bùn ao tháng Sáu cứ bám lấy từng thớ vải, bám vào tóc, vào kẽ móng tay. Hay là nó tưởng thế. Mấy tháng về sau, giặt bao nhiêu nước suối, nó vẫn còn ngửi thấy.

Đêm đầu tiên, nó không dám nhóm lửa.

Trời tối thì nó tìm được một gốc sung rừng to, rễ nổi lên khỏi mặt đất, đan vào nhau thành một cái hốc như cái nôi. Nó cuộn người nằm vào hốc rễ, ôm tấm gỗ trong ngực, một tay đặt lên bọc tiền ở thắt lưng.

Mưa phùn lại lất phất. Rừng về đêm không im. Không phải cái im bên kia tường. Dưới khe có tiếng ếch nhái, trong bụi có tiếng dế, xa xa có con cú kêu từng tiếng một, thưa thớt như người gõ mõ lúc buồn ngủ.

Rồi trên đầu nó, trong tán sung, có tiếng chụt.

Chụt. Chụt chụt.

Luân không thở.

Cả người nó cứng lại như khúc gỗ. Nó không ngẩng lên. Nó nghe cái tiếng ấy, ươn ướt, nhóp nhép, như người ta mút ốc. Nó hít một hơi rất khẽ. Không có mùi bùn ao. Chỉ có mùi lá mục với mùi mưa. Nhưng tiếng thì vẫn thế. Chụt. Chụt.

Nó lùi. Bò giật lùi ra khỏi hốc rễ, bò trên lá mục, bò mãi tới lúc trên đầu không còn cành lá nào, chỉ còn trời. Nó ngồi co ro ngoài bãi đá trống, lưng tì vào một tảng đá, mưa phùn rắc lên mặt, mắt mở trừng trừng nhìn cái bóng đen sì của cây sung. Ngồi thế tới sáng.

Sáng ra nó mới dám lại gần. Dưới gốc sung vương vãi những quả sung bị cắn dở, vỏ dính nhơn nhớt. Trên cành cao, mấy con dơi treo ngược, cánh gập lại như mấy cái lá khô cuộn tròn, ngủ say.

Dơi ăn quả. Chỉ là dơi ăn quả.

Luân đứng nhìn mấy con dơi. Rồi nó ngồi thụp xuống, ôm lấy hai đầu gối, và nó run. Không khóc. Chỉ run, run bần bật như người lên cơn sốt rét, run tới lúc mặt trời nhô lên khỏi rặng núi phía Đông.

Từ đấy về sau, không đêm nào nó ngủ dưới tán cây to.

Sáng hôm ấy nó bẻ một cành dẻ thẳng, dài hơn sải tay một chút, tước sạch lá, bóc vỏ. Nó cầm bằng tay trái, đầu cành chúc xuống đất, như lão ăn mày cầm gậy, như người đứng chờ đò. Đi đâu nó cũng cầm cái cành ấy.

Cái bọc tiền, nó không cởi.

Sáng nào ngủ dậy, việc đầu tiên của nó là sờ cái nút thắt. Nút thắt mặt trong, giấu đầu dây, vẫn nguyên như lúc ông lang thắt. Tối nằm, nó xoay cái bọc ra trước bụng, co người lại mà ôm. Nó đói. Đói tới hoa mắt. Nhưng trên núi không có chợ, mà có chợ thì nó cũng không cởi.

Tấm gỗ thì nó nhét vào trong áo, sát da. Mặt cháy xém quay ra ngoài. Mặt có chữ quay vào trong, áp lên ngực nó.

Tối nào trước khi ngủ, nó cũng lấy một que củi viết cái chữ ấy xuống đất. Bộ bên trái như cái gò đất. Chữ đông bên phải. Một nét, hai nét, ba nét, cho tới nét thứ mười một. Viết xong, nó nhìn chữ ấy một lúc. Rồi nó lấy lòng bàn tay xoá đi.

Hồi mới được ông lang dạy chữ Luân, nó viết lên mặt sân đất ướt lúc quét sân, viết xong lại tiếc, quét vòng qua mà không nỡ quét vào. Bây giờ thì nó viết xong là xoá. Không được viết vào đâu. Ông lang dặn thế, cái đêm ông nói ra một tiếng mà không cho nó xem mặt chữ. Nó không biết cái chữ trên tấm gỗ có phải là cái tiếng ấy không. Nó chỉ biết phải viết, để khỏi quên. Và phải xoá, để khỏi ai thấy.

Nó nghĩ về ông lang nhiều nhất vào những lúc ấy.

Ông lang sáu mươi mấy tuổi, lưng hơi còng, đi đâu cũng đeo cái hòm thuốc gỗ. Ông lang phẩy tay một cái, như người ta phẩy con ruồi đậu trên chén nước, thì một thằng mười sáu tuổi bay qua ngọn chuối. Luân nghĩ mãi không ra. Nghĩ tới đâu thì tắc ở đấy, như con kiến bò tới mép chén.

Nhưng có một điều thì nó nghĩ ra được. Tiếng đao kiếm đêm ấy kéo dài. Keng keng, dày như mưa rào trên mái ngói. Có đánh nhau thì phải có hai bên. Một bên là ngựa đen. Bên kia thì còn ai, ngoài ông lang.

Nhà sập thì tiếng đao kiếm tắt. Nhưng không ai thấy ông lang nằm xuống. Luân không thấy. Nó chỉ thấy lửa, thấy khói, thấy một con ngựa đen không người cưỡi chạy vào bóng tối.

Ông bảo chạy về phía Nam. Ông bảo thế thì ông biết phía Nam có cái gì. Có khi ông cũng đi về phía Nam. Có khi một sáng nào đấy, ở một khúc đường nào đấy, nó sẽ thấy một bóng người gầy gầy, lưng hơi còng, đeo cái hòm thuốc gỗ, đứng đợi nó, mắng nó đi chậm như rùa.

Nút còn thắt thì cái bọc vẫn là cái ông lang buộc vào. Cởi ra thì nó thành tiền của mày. Thành cái thứ người ta để lại cho mình khi người ta không định quay về.

Người còn thì tiền chưa phải của mày. Luân không cởi.

Còn lão ăn mày thì nó không biết nghĩ gì. Chiều hôm ấy, tay lão run tới mức rượu tràn qua miệng bầu. Đêm ấy, điếm trống, cả bầu rượu nằm đổ trên sạp. Lão bảo tối nay đừng ra đây. Lão biết từ chiều. Mà lão biết cái gì thì Luân không biết. Sáng hôm sau đứng trên đồi đếm khói, nó không nhớ có cột khói nào bốc lên từ chỗ cái điếm. Mà cũng có khi nó không nhìn ra.

Núi rừng không dễ sống. Nhưng cũng chẳng giết nổi một đứa như Luân.

Nó quen đói từ bé. Cái đói với nó như một người quen cũ, lúc nào cũng lẽo đẽo theo sau, lằng nhằng, dai như đỉa, mà chưa bao giờ quật ngã được nó. Hồi còn là thằng Bần, nó đã biết moi cái ăn ra từ đất: bắt nhái, mò cua, đào củ, nhặt quả rụng. Bảy năm ở với ông lang, nó biết thêm cái mà thằng Bần không biết: cái gì ăn được, cái gì không.

Rau dớn mọc ven suối thì ăn được, không có nồi luộc thì nhai sống, hơi nhớt. Rau sắng trên sườn đá thì ngọt. Củ mài phải đào sâu tới ngang ngực, đào bằng que với bằng tay, đào nửa buổi mới được một củ, mà một củ thì no hai ngày. Nấm thì nó chỉ ăn loại ông lang đã chỉ tận tay. Cái loại mũ trắng, dưới mũ có cái váy, chân cắm trong một cái bao như vỏ trứng, thì đẹp nhất rừng mà cũng độc nhất rừng. Liếm một cái là đủ về chầu tổ tiên.

Cua đá dưới khe thì nhiều. Nhưng cua đá phải nướng. Ông lang dặn thế từ hồi nó còn mò cua đồng: cua suối ăn sống thì sinh ho, ho ra máu cả đời.

Mấy hôm đầu nó không dám nhóm lửa, nên nó nhịn cua. Tới lúc đã cách làng mấy ngày đường, nó mới dám. Nó nhóm lửa ban ngày, dưới đáy một cái khe sâu, lửa nhỏ, khói tỏa vào tán lá thì tan. Cách lấy lửa bằng ống nứa là lão ăn mày dạy, cái mùa đông bùi nhùi trong điếm ướt hết. Chẻ đôi ống nứa khô, khía một đường ngang trên lưng nứa, lấy thanh tre cứa đi cứa lại cho tới lúc mùn nứa rơi xuống, cháy âm ỉ, bốc khói. Lão cứa ba mươi cái là có lửa. Luân cứa ba trăm cái.

Sang tháng Ba, măng đội đất lên dưới các bụi nứa. Nó ngồi bóc bẹ măng, nhớ câu người già vẫn nói, tre già măng mọc. Ở Lò Trấu thì tre với măng chết cùng một đêm.

Đêm nào tới canh tư nó cũng tỉnh. Bảy năm quét sân lúc canh tư, cái giờ ấy nằm sẵn trong xương nó. Nó mở mắt, tay quờ quạng tìm cái chổi tre. Không có chổi. Không có sân. Chỉ có đá lạnh dưới lưng với trời đầy sao trên đầu.

Rồi một sáng tháng Tư, nó leo lên tới đỉnh một ngọn đèo cao nhất nó từng leo, và thế gian mở ra dưới chân nó.

Sương nằm dưới kia. Không phải cái sương mỏng tang vắt ngang ruộng chiêm Lò Trấu mỗi sớm mùa đông. Sương ở đây là một cái biển. Một cái biển trắng mênh mang, lặng tờ, trải ra tận chân trời, và từ trong lòng biển ấy, những đỉnh núi nhô lên như lưng một đàn trâu khổng lồ đang đằm mình dưới nước, xanh thẫm ở gần, xanh lam ở xa, rồi nhạt dần, nhạt dần thành một màu tím mờ như vệt mực loãng ai lỡ tay quệt lên giấy dó. Mặt trời mọc lên từ phía Đông, đỏ như hòn than trong bễ lò rèn, và khi nắng chạm vào mặt biển sương thì cả cái biển ấy bừng lên, vàng óng, rực rỡ, tưởng như cả một kho vàng vừa đổ xuống lòng thung lũng.

Rồi sương tan dần. Và dưới lớp sương, Luân thấy một con sông.

Con sông ở Lò Trấu mùa lũ đỏ ngầu, rộng bằng một tiếng gọi đò. Con sông này rộng tới mức đứng bên này gọi đò thì tiếng gọi chưa sang tới giữa dòng đã tan. Nó uốn khúc giữa những cánh đồng bát ngát, sáng loáng lên dưới nắng như một dải lụa bạc ai buông từ trời xuống, buông mãi, buông mãi, không thấy đầu kia. Trên mặt sông, thuyền bè nhỏ li ti như những hạt thóc trôi. Có một chiếc to hơn cả, nhiều tầng mái, buồm cói căng phồng, đi ngược dòng mà nhanh như đi xuôi.

Và men theo con sông, có một con đường.

Không phải con đường đê đắp đất của làng. Con đường này thẳng như ai kẻ bằng thước, rộng đủ cho hai cỗ xe tránh nhau, lát đá ong đỏ au. Cứ một quãng lại có một cái trạm mái ngói, bên cạnh dựng một cái chòi canh cao vút, trên chòi cắm cờ. Trên con đường ấy có ngựa trạm phi, bụi bốc lên thành một vệt dài như đuôi sao chổi. Và có người. Rất nhiều người. Những chấm nhỏ li ti nối nhau thành một dòng dài, chậm chạp, lặng lẽ, đi về phía Nam, như đàn kiến tha trứng trước cơn mưa.

Luân không biết đấy là đường thiên lý. Nó chỉ biết con đường ấy chạy về phía Nam, và nó dài hơn tất cả những con đường nó từng đi cộng lại.

Nó không xuống. Dưới ấy có người. Người thì hỏi. Hỏi mày ở đâu, mày tên gì, nhà mày đâu. Nó không biết trả lời thế nào mà không phải nói cái làng ấy ra.

Một con chim nhỏ bay vụt qua đầu nó, lao vút về phía Nam. Lông xanh sẫm màu chàm, ở cổ dựng lên mấy chiếc lông trắng. Nó bay ra tới giữa khoảng trời trên thung lũng thì tan đi, như giọt mực nhỏ vào bát nước. Luân đã thấy con chim ấy một lần, cái chiều trời đỏ quạch năm nó mười một tuổi. Tới giờ nó vẫn không biết đấy là chim gì.

Nó đứng trên đỉnh đèo rất lâu.

Cả đời nó, thế gian chỉ to bằng cái làng. Ao đình, con đê, bãi tha ma, Dốc Cửa Mả, cây gạo, bức tường trên đỉnh đồi. Xa nhất là chợ huyện nửa ngày đường, với một lần men theo chân tường về phía Đông. Nó từng nghĩ thiên hạ chắc cũng chỉ lớn chừng ấy, thêm một cái kinh thành nữa là cùng.

Đại Xuân rộng tới nhường này sao?

Nó quay lại nhìn về phía Bắc. Phía Bắc chỉ có núi. Núi chồng lên núi, trập trùng, xanh thẫm. Đâu đó sau những rặng núi ấy, có một cái làng nhỏ, cháy trụi từ một đêm tháng Hai. Từ đây nhìn về, không thấy khói. Không thấy gì.

Cả làng Lò Trấu cháy mà núi không biết. Sông không biết. Con đường lát đá ong vẫn chạy, dòng người vẫn lặng lẽ bò, con thuyền nhiều tầng mái vẫn ngược dòng. Mây vẫn trôi.

Người ta bảo đi một ngày đàng học một sàng khôn. Cái sàng khôn đầu tiên Luân học được trên con đèo ấy, là thế gian này rộng lắm. Rộng tới mức một cái làng chết đi mà không ai nghe thấy.

Đêm ấy, từ sườn đèo bên kia, nó thấy một cái thành. Thành nằm giữa đồng, tường bao bốn mặt, đèn lồng thắp dọc mặt tường, thắp khắp các phố bên trong, lung linh, lung linh, như sông Ngân trên trời rơi xuống giữa đồng rồi nằm lại đấy. Trên huyện có một con đường lát gạch. Cái thành này chắc phải có mười con đường, hai mươi con đường. Luân ngồi nhìn cái thành tới khuya. Nó không xuống.

Có một đêm tháng Năm, trên một mỏm đá trống, không một cành cây nào che trên đầu, nó ngồi xếp bằng, đặt hai bàn tay lên đầu gối, nhắm mắt lại.

Hít vào. Vô hình vô định hướng. Thở ra. Tướng tan theo gió sương.

Cái ấm dưới rốn vẫn nằm ở chỗ cũ. Và quanh cái ấm ấy, những luồng hơi ấm mỏng chạy vòng, chậm, như nước xoáy quanh một cái vũng.

Năm năm nay không ai đếm cho nó. Lần cuối là con bé áo xanh, bên suối, năm luồng. Lần này nó tự đếm.

Một luồng. Hai luồng. Ba. Bốn. Năm. Sáu. Bảy. Có một luồng mờ tới mức nó phải đếm lại. Tám.

Tám.

Luân mở mắt ra.

Tám luồng. Bằng thằng Hợi.

Thằng Hợi học võ trên huyện hơn một năm, có thầy, có sân tập, có binh thư mà không đọc được, kẹt ở tám luồng thì về. Có đêm nó khóc, thằng Cò viết thư kể thế. Thằng Hợi về làng, chặn nó ở Ngõ Mương Đen, bảo tao không phải thằng ngày xưa. Thằng Hợi đấm nó bằng tay trái, đấm kiểu có học. Rồi thằng Hợi đi sau cùng đoàn người, tay trái cầm nửa cái đòn gánh lò mổ, bảo mày dẫn, tao đi sau. Rồi nó ngồi xuống miệng hốc đá, bảo đi đi, tao ở đây.

Mày dẫn. Tao đi sau.

Nó dẫn họ tới đấy.

Luân khóc.

Lần đầu tiên từ cái đêm tháng Hai, nó khóc. Không khóc cho ông lang, vì ông lang có khi còn sống. Nó khóc cho thằng Hợi. Khóc cho mẹ thằng Nhỡ, bàn tay đặt trên cái vai còn lại của con. Cho thằng Nhỡ cõng bà góa bằng một cánh tay. Cho bà góa mẹ anh Sáng. Cho chị Mộc với thằng cu con năm tuổi. Cho vợ ông Thuận, trong rổ ba nén hương chưa kịp thắp. Cho ông già què xóm Hạ, hai thằng con trai, một cô gái trẻ, bốn người nó biết mặt từ bé mà không biết tên. Nếu phải khắc cọc cho họ, nó không biết khắc gì. Cho lão đồ tể, cột khói bốc lên từ lò mổ lúc trời vừa hửng. Cho ông phó cả thả diều sáo cho cả bọn. Cho những mái nhà nó đứng trên đồi đếm khói, những người nghe tiếng trống điếm mà không kịp chạy.

Nó khóc không thành tiếng. Vai nó rung lên, nước mắt chảy xuống cằm, nhỏ xuống hai bàn tay úp trên đầu gối, lộp độp như mưa rơi trên đá.

Khóc tới lúc trời hửng thì thôi.

Sáng hôm ấy mưa rào. Xuống một con dốc toàn đá vụn, chân nó trượt.

Nó ngã. Lăn mấy vòng, đá vụn lăn theo rào rào, lưng đập vào gốc cây, cành dẻ văng ra một chỗ. Nó nằm ngửa giữa sườn dốc, mưa quất vào mặt, ngực phập phồng như cái bễ.

Nằm đấy thì dễ. Nằm đấy thì không phải đi nữa.

Ngã xuống thì đứng dậy. Không có lý do thứ hai.

Lão nói câu ấy lần đầu cái buổi chiều trước cửa điếm hoang, lúc nó còn là thằng Bần, nằm ngửa trên bùn đỏ, cành ổi nắm trong tay trái. Lão nói không to, không gằn giọng, như người ta bảo trời sắp tối, như người ta bảo nồi nước sôi rồi.

Luân lật người, bò tới chỗ cành dẻ, chống cành xuống đất, đứng dậy.

Mồng năm tháng Sáu, nó gặp người.

Lúc ấy đã quá trưa. Nó đang đi dọc một con khe thì nghe tiếng chửi.

"Tổ sư cha cái lưỡi rìu!"

Một ông già ngồi bệt dưới gốc cây, bó củi đổ nghiêng một bên, cái rìu văng ra một chỗ. Ống chân trái ông toác một đường dài, máu chảy ròng ròng xuống bàn chân, thấm đỏ cả một khoảnh lá khô. Ông đang cầm một đoạn dây rừng, run run định buộc lên trên vết thương, buộc mãi không chặt.

Luân đứng nép sau bụi cây. Từ đêm tháng Hai tới giờ, nó tránh người như tránh rắn.

Máu vẫn chảy.

Nó bước ra.

Ông già giật mình, vớ lấy cái rìu. Luân không nói gì. Nó quỳ xuống, gạt tay ông ra, ấn ngón cái vào khoeo chân ông, đúng chỗ ông lang chấm nghệ trên người nó mùa đông năm nào, ấn sâu, ấn đều. Máu chảy chậm lại. Nó ngước lên nhìn quanh, thấy mấy khóm cỏ nhọ nồi mọc ven khe, vặt một nắm, nhai nát, đắp lên vết thương. Rồi nó xé gấu áo mình thành dải, băng hai vòng chéo, thắt nút mặt trong, giấu đầu dây.

Ông già nhìn nó làm, không nói câu nào. Tới lúc nó thắt nút xong, ông mới hỏi.

"Mày học ai?"

"Dạ, thầy cháu."

"Thầy mày đâu?"

Luân không trả lời. Ông già nhìn nó một lúc, rồi ông không hỏi nữa. Ông mở cái tay nải, lấy ra một nắm cơm bọc lá dong, trên rắc muối vừng, dúi vào tay nó.

"Ăn đi."

Luân nhìn nắm cơm. Gần bốn tháng trời nó chưa được ăn một hạt cơm. Nó nuốt nước bọt, rồi nó đẩy nắm cơm lại.

"Cháu không lấy công ạ."

"Công cái con khỉ." Ông già gắt. "Ông cho."

Luân cầm lấy nắm cơm. Nó ăn chậm, ăn từng miếng một, hạt cơm nguội mà ngọt như chưa bao giờ ngọt thế. Ăn hết, nó đứng dậy, dựng bó củi lên, xốc lên vai, tay kia nhặt cái rìu.

"Cháu gánh về cho ông."

"Mày băng chân cho ông, ông cho mày nắm cơm. Thế là xong rồi."

"Cái chân là cháu băng." Luân nói. "Nắm cơm là ông cho. Hai cái khác nhau ạ."

Ông già ngớ ra một lúc. Rồi ông cười phá lên, cười tới mức phải ôm lấy cái chân băng.

"Thằng này buôn bán kiểu gì mà lỗ cả hai đầu!"

Luân không cười. Nó nhớ tới thằng Cò. Buôn bán thế thì chết đói, thằng Cò mà nghe thấy thì sẽ bảo thế.

Ông già chống cán rìu đi trước, khập khiễng. Luân vác củi đi sau.

"Đây là đâu ạ?"

"Vân Sơn. Huyện Vân Sơn, phủ Thịnh Yên." Ông già hất hàm về phía trước. Giữa những rặng núi xanh, có một ngọn núi cao hơn cả, đỉnh chìm trong một vầng mây đen kịt, đặc quánh, như ai úp lên đỉnh núi một cái vung nồi ám khói. "Kia là núi Huyền Vân. Huyền là đen. Mây trên ấy đen quanh năm. Người ở đây bảo đỉnh ấy là chỗ mây đẻ ra."

Vân là mây, sơn là núi. Hai chữ ấy ông lang dạy nó từ năm đầu. Cả cái huyện này là núi mây.

"Từ đây về kinh bao xa ạ?"

"Kinh à?" Ông già tặc lưỡi. "Đi đường thiên lý thì hơn tháng. Mà đường thiên lý bây giờ đông như trảy hội. Người mạn trên chạy xuống, gồng gánh, bồng bế, đi lũ lượt, đêm nằm ngay vệ đường. Trạm nào cũng có lính khám. Đứa nào không có giấy thì giữ lại, bảo là do thám cho nhà Mạc."

Luân không có giấy. Sổ hộ làng Lò Trấu không có tên nó. Mà sổ hộ làng Lò Trấu bây giờ chắc cũng cháy rồi.

"Cháu người đâu?"

"Dạ, mạn trên ạ."

Ông già quay lại nhìn nó. Nhìn cái áo rách, đôi chân đất chằng chịt sẹo gai, cái cành dẻ trong tay trái.

"Mạn trên." Ông nói. "Người mạn trên chạy xuống kể, đánh Mạc thì thua rồi. Triều đình với bên Hạo Nguyên bàn với nhau, cắt đôi. Nửa trên cho người ta."

"Nửa nào ạ?"

"Ông biết đâu." Ông già lại quay lưng đi tiếp. "Cái nửa người ta đang chạy khỏi đấy."

Luân đi sau lưng ông, vác bó củi, không hỏi nữa. Trên huyện có thằng Cò. Nó không dám hỏi cái huyện ấy nằm ở nửa nào.

Nó nghĩ tới thanh gỗ xoan ngang cửa điếm. Bốn cái tên. Chữ 倫 ở cuối, phía trên chừa một khoảng trống cho chữ họ. Bao giờ có thì khắc thêm. Bây giờ thanh gỗ ấy nằm ở nửa của người ta.

"Tên gì?" Ông già hỏi, không quay lại.

"Dạ, Luân."

"Họ gì?"

Tay Luân đưa lên ngực áo, chạm vào tấm gỗ. Rồi bỏ xuống.

"Cháu không có họ ạ."

Ông già đi thêm mấy bước, chống cán rìu cộp cộp xuống đá.

"Chim có tổ, người có tông." Ông nói. "Dưới xuôi người ta hỏi họ trước, hỏi tên sau. Không có họ thì khó sống lắm, cháu ạ."

Tới đầu xóm, chỗ có cây đa với cái miếu nhỏ, Luân đặt bó củi xuống.

"Vào nhà ông mà ngủ. Mai hẵng đi."

"Dạ thôi ạ."

Ông già nhìn nó, rồi nhìn lên núi Huyền Vân. Mặt trời đã ngả, nắng chiều đổ vàng trên sườn núi, mà vầng mây trên đỉnh vẫn đen như cũ.

"Mày muốn xuôi thì có hai lối." Ông nói. "Lối đường cái, vòng qua chân núi phía Đông, có trạm, có lính. Lối tắt qua sườn Huyền Vân, không trạm, không lính." Ông ngừng một chút. "Mà có cái khác."

"Cái gì ạ?"

"Mấy tháng nay trên ấy lạ lắm. Người vào hái thuốc, đi săn, không thấy về. Có đêm đứng dưới xóm nhìn lên, thấy đuốc đi thành hàng trên sườn núi, đỏ lòm. Không phải đuốc lính. Lính thì đi đường cái." Ông già nhổ một bãi nước bọt xuống đất. "Người ta còn bảo có đêm trên đỉnh ấy trời nứt ra một đường xanh lè."

Trời nứt ra một đường xanh lè. Hồi Luân còn bé, người Lò Trấu vẫn kể thế về bên kia biên. Rồi từ trong ấy có thứ gì bò xuống.

"Ông mà là mày thì ông đi đường cái." Ông già nói. "Lính nó giữ mày dăm hôm thì nó thả. Trên núi thì chẳng ai thả mày đâu."

Luân cúi đầu. "Dạ. Cháu cảm ơn ông."

Nó không nói nó đi lối nào.

Đêm ấy nó nằm trên một mỏm đá ngoài xóm, nghĩ. Lính khám người thì khám cả thắt lưng. Một thằng không họ, không quê, không giấy, thắt lưng buộc một bọc tiền nặng trĩu có cả bạc thoi. Lính thấy thì lính bảo ăn trộm. Mà lính đã bảo ăn trộm thì là ăn trộm. Cái đêm ba mươi Tết năm nào, nó bị trói vào cột hiên nhà Bá Hộ vì hai bị gạo, nó biết người ta xử thằng ăn trộm thế nào. Lần này thì không có ông lang nào đem bạc vụn ra chuộc.

Mà trong ngực áo nó còn một tấm gỗ có cái chữ không được viết vào đâu.

Trên núi thì có cái thứ bò xuống từ chỗ trời nứt. Nhưng cái thứ ấy không hỏi họ.

Sáng hôm sau, nó đi lên núi Huyền Vân. Tính theo lịch thì hôm ấy là mồng sáu tháng Sáu năm Ất Tỵ. Luân không biết. Nó chỉ biết từ cái đêm tháng Hai, trăng đã tròn thêm bốn lần.

Núi Huyền Vân cao hơn tất cả những ngọn núi nó đã đi qua. Càng lên cao, rừng càng già. Những thân cây ba người ôm không xuể, rễ bám vào đá như những bàn tay già nua bấu lấy sườn núi, dây leo buông xuống từ những tầng lá cao vút, dày tới mức giữa trưa mà dưới gốc vẫn nhập nhoạng như lúc chạng vạng. Mây đen trên đỉnh sà xuống thấp, trùm lên ngọn cây như một cái mái nhà bằng khói. Chim không kêu nhiều. Ve cũng không kêu nhiều.

Chiều hôm ấy, trên một lối mòn cheo leo ven sườn núi, Luân khựng lại.

Nó dừng mà không biết vì sao. Gáy nó lạnh toát, cái lạnh nó biết từ những lần đứng dưới chân tường, lúc rừng bên kia im bặt.

Rồi nó ngửi thấy.

Mùi máu.

Không phải cái mùi tanh bùn ao tháng Sáu. Cái mùi này nó biết. Nó biết từ gian bên trái đình làng năm nó mười một tuổi, từ những cái cáng đắp chiếu, từ những vết thương nó ấn ngón tay xuống mà máu vẫn trào qua kẽ ngón. Mùi máu người. Nồng như cái sáng hơn hai mươi cái cáng đặt kín sân đình.

Và trong tiếng gió rừng xào xạc, vọng lại từ phía bên kia sườn núi, nó nghe thấy những tiếng không lẫn vào đâu được.

Tiếng binh khí chạm nhau. Keng. Keng keng. Tiếng quát tháo. Tiếng gì đó đổ sập xuống, ầm một tiếng, rồi rào rào như đá lở.

Rồi im.

Luân đứng chôn chân giữa lối mòn. Tim nó đập thình thịch, dồn dập như trống điếm.

Chạy.

Cái tiếng ấy gào lên trong đầu nó. Suốt con đường từ Lò Trấu tới đây, nó sống được là nhờ cái tiếng ấy.

Nhưng lần trước, ở miệng hốc đá, nó về muộn một lúc, thằng Hợi chỉ còn kịp nói mấy tiếng. Tiếng binh khí bên kia vừa mới tắt. Vừa mới tắt thì có khi còn người thở.

Nó nuốt một ngụm nước bọt khô khốc. Tay trái siết chặt cành dẻ. Rồi nó rời lối mòn, men theo sườn núi, lần về phía có mùi máu, nép mình sát vào sau một tảng đá lớn.

Mùi máu mỗi lúc một nồng.

Nghìn trùng núi, một con đường,

Một thằng chân đất, không phương quay về.

Chim kia còn có tổ quê,

Người không có họ, bốn bề lạ xa.

0