Chương 46: Kẻ Độ Kiếp Và Gã Ăn Trộm
Phong Sương Niên Ký
Mục lục
47 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 47/47 chương
Từ trong lùm cây rậm, một bóng người bước ra.
Cao. Cao hơn người thường cả một cái đầu. Vai rộng, lưng dày, hai cánh tay to như hai khúc gỗ lim, cả thân hình vạm vỡ như con trâu mộng đầu đàn. Đầu gã trọc lốc, mà tóc đã mọc lại lởm chởm, ngắn cũn, đen sì, như cái đầu cua. Trên người khoác một tấm áo nâu sồng, kiểu áo nhà chùa, mà rách bươm, vá chằng vá đụp, chỗ vá thì màu nâu, chỗ vá thì màu chàm, chỗ vá thì chẳng ra màu gì. Cổ tay trái quấn một chuỗi hạt phật châu, hạt to bằng đầu ngón tay cái, màu nâu sẫm. Trên những hạt châu ấy lấm tấm những vệt đen đã khô.
Luân biết màu ấy. Nó đào mả, nó băng thương cho lính, nó rửa máu thằng Hợi trong suối. Đấy là màu máu khô.
Tay phải gã xách một cây trượng sắt đen trũi, dài hơn người gã, đầu trượng loang lổ những vệt cùng một màu với chuỗi hạt.
Áo nhà chùa. Mà nhìn cái cách gã cầm trượng thì có nằm mơ Luân cũng không dám gọi là nhà sư.
Gã ngẩng lên nhìn hai cái bọc người treo lủng lẳng trên cành cây, khóe miệng nhếch lên. Mặt gã còn trẻ, trẻ hơn cái thân hình ấy nhiều. Có khi chỉ hơn Luân một hai tuổi là cùng.
Gã bước tới dưới chỗ đứa áo đen, ngửa cổ lên.
"Ê, thằng ni. Cái thằng mặt trắng chạy ngả mô rồi? Khai."
Đứa áo đen mặt cắt không còn hột máu, lắp bắp: "Tôi... tôi không biết! Tôi không thấy thằng mặt trắng nào cả! Xin... xin tha mạng..."
"Hầy. Rứa à."
Gã gật gù, ra chiều thông cảm lắm. Gã dựng cây trượng vào gốc cây. Gã xoa hai bàn tay vào nhau.
Rồi gã đấm.
Luân không thấy nắm đấm đi. Quyền kình không nổ ra ngoài, mà ngân vào trong. Nó chỉ thấy tấm lưới bên cạnh giật lên một cái, và nghe một tiếng rắc, khô khốc, như tiếng bẻ một bó củi khô qua đầu gối. Đứa áo đen không kêu lấy một tiếng. Cái thân treo ngược đung đưa qua lại mấy nhịp, như con lắc, rồi thôi.
Gã thu tay về. Gã chắp hai tay trước ngực, mắt lim dim, miệng lầm rầm.
"Nam mô A Di Đà Phật. Tau độ cho mi qua kiếp ni. Kiếp ni mi giết người nhiều quá, đi sớm cho nhẹ nợ. Kiếp sau nhớ làm người cho tử tế, hỉ."
Luân treo bên cạnh, nhìn từ đầu tới cuối.
Nó không thương đứa áo đen. Nó vừa nằm sau tảng đá nhìn cái bãi máu. Nhưng một đứa đang bị trói, treo ngược trên cây, không đánh được ai, bị đấm chết như người ta đập con muỗi, rồi người đấm chắp tay niệm Phật. Hung tợn với thành kính, hai cái trái ngược nhau gói chung vào một người. Luân không biết nên sợ cái nào trước.
Rồi đôi mắt lim dim ấy mở ra. Quay sang nó.
"Tới lượt mi." Gã cầm lại cây trượng, chĩa cái đầu trượng loang lổ vào mặt Luân. "Mi muốn tau độ như thằng tê thì cứ câm cái mồm. Còn không thì nói mau. Nãy chừ mi có thấy cái thằng mặt trắng chạy ngả mô không?"
Luân chớp chớp mắt.
Nó nghe được mấy tiếng. Mi. Tau. Mặt trắng. Ngả mô. Còn lại thì trôi tuột qua tai như nước đổ lá môn. Cái giọng nằng nặng, luyến lên luyến xuống, nuốt tiếng này, ghép tiếng kia của gã, với một thằng lớn lên ở cái làng tận cùng phía Bắc thì chẳng khác gì tiếng người phương khác.
Máu dồn lên mặt nó đỏ tía. Nó ú ớ một hồi mới rặn ra được một câu, lễ phép hết mức có thể.
"Dạ... bạch thầy. Thầy nói chậm chậm được không ạ. Con... con nghe không kịp ạ."
"Thầy cái đầu mi!" Gã trợn mắt, gằm cái mặt lại sát mặt Luân. "Mi giả đò ngu để câu giờ phải không?"
Rồi gã vung tay, đấm thẳng vào cái thân cây mà cả hai tấm lưới đang treo.
Rầm!
Cả cái cây rung lên bần bật, dư chấn chạy dọc thân gỗ. Lá rụng lả tả như mưa. Trên thân cây, chỗ nắm đấm vừa giáng xuống, lõm vào một lỗ sâu hoắm, gỗ nứt toác, dằm gỗ chĩa ra tua tủa như răng cưa. Luân bị chấn tới mức hai hàm răng va vào nhau lập cập. Nắm đấm ấy mà giáng vào đầu người thì cái đầu có cứng như quả dừa khô cũng vỡ làm đôi.
Và cái cây rung lên thì tấm gỗ trong ngực áo nó cũng tuột ra.
Nó tuột qua cổ áo, lọt qua mắt lưới, rơi xuống. Rơi đánh cạch một tiếng xuống cái rễ cây, ngay dưới chân gã áo nâu.
"Đừng!" Luân kêu lên. Nó vùng, thò tay qua mắt lưới, với xuống. Với không tới.
Gã áo nâu cúi xuống nhặt.
Gã lật tấm gỗ trong tay. Mặt trước cháy xém, sơn đen phồng rộp. Gã lật mặt sau lên. Mặt gỗ trơn, xám bạc, ám khói. Ở giữa có một chữ, khắc sâu, nét chân phương, ngay ngắn.
Gã không nói gì một lúc.
Cái vẻ trợn trạo trên mặt gã rút đi, như nước ròng rút khỏi bãi. Gã đưa ngón cái lên, miết theo nét chữ, chậm, từng nét một, như người ta miết lên tên người thân khắc trên bia.
"Trần."
Gã nói. Không to. Không luyến láy. Nói rõ từng tiếng, như sợ Luân lại nghe không kịp.
"Chữ ni là chữ Trần. Họ Trần." Gã ngẩng lên nhìn Luân. "Của mi?"
Luân không trả lời.
Nó treo ngược, máu ù trong hai tai, và nó không nghe thấy gì nữa ngoài cái tiếng ấy. Trần. Cái tiếng ông lang nói ra một lần, nhỏ, gọn, như hòn sỏi rơi xuống giếng, cái đêm nó hỏi thầy họ gì. Cái tiếng không có mặt chữ. Cái tiếng không được nói với ai, không được viết vào đâu.
Bốn tháng nay, tối nào nó cũng viết cái chữ ấy xuống đất rồi xoá đi. Mười một nét. Bộ như cái gò đất, chữ đông bên phải. Nó viết mà không biết mình viết cái gì.
Bây giờ cái chữ ấy có tiếng.
"Của thầy con." Luân nói. Giọng nó khàn đi. "Tấm gỗ trên xà cửa nhà thầy con."
"Thầy mi họ Trần?"
Luân không gật. Nó nhớ lời ông lang. Mà nó cũng không lắc.
Gã áo nâu nhìn nó rất lâu. Rồi gã thở hắt ra một hơi dài, như con trâu vừa kéo xong một đường cày.
"Tau cũng họ Trần." Gã nói.
"Dạ... anh tên gì ạ?"
"Tên tuổi chi." Gã gạt đi. "Biết cùng họ là đủ rồi. Hỏi nhiều thì mau chết."
Gã lật tấm gỗ qua lại trong bàn tay to bè.
"Cái họ ni bây chừ mà đem ra chợ nói to lên là có người hỏi tới đời ông đời cố đó, mi biết không? Thầy mi có dặn mi chi không?"
"Dạ. Thầy con dặn không được nói với ai. Không được viết vào đâu."
"Rứa là thầy mi khôn."
Luân đứng im. Nó nhớ năm mười một tuổi, ông thơ lại lập sổ hộ bảo thầy nhận nó làm con nuôi thì ghi được, thầy nói "Thôi". Cả năm ấy nó cứ nghĩ mãi vì sao thầy không ghi. Bây giờ nó mới hiểu. Thầy không ghi tên nó vào sổ, là để không ai lần theo sổ mà tìm tới cái họ ấy.
Gã hạ cây trượng xuống. Đầu trượng cắm xuống đất, cộp một tiếng.
"Người cùng họ thì tau không độ."
Luân chưa kịp thở ra thì gã áo nâu đã xoay người.
Không báo trước. Không ngoái đầu. Cây trượng trong tay gã vừa cắm xuống đất đã vụt lên, quét một vòng, rồi bổ thẳng vào một bụi rậm cách đó chừng ba trượng, trượng phong rít lên u u như tiếng tù và.
Ầm!
Bụi cây nát bươm. Đất đá văng tung tóe. Một hòn đá to bằng cái nồi đồng bị trượng bổ trúng vỡ toác.
Nhưng chỗ ấy đã trống không. Nửa nhịp trước khi trượng bổ xuống, một cái bóng đã lộn ra khỏi bụi rậm, lộn một vòng trên không, nhẹ tênh, rồi đáp xuống một cành cây thấp cách đó mấy trượng. Cành cây cong xuống một chút rồi đứng yên. Không rung. Không một chiếc lá rơi.
Luân hé mắt, và trong một thoáng, nó quên cả cái chữ vừa có tiếng.
Người vừa hiện ra là một thiếu niên. Mặt còn non, non hơn Luân dăm ba tuổi, má chưa gầy hẳn cái nét trẻ con. Vậy mà người thì cao ráo, dong dỏng, vai thẳng, lưng thẳng, đứng trên cành cây mà như đứng trên thềm nhà mình, cao gần bằng Luân. Khoác một tấm áo giao lĩnh cổ chéo, vạt dài quá gối, may bằng vải đũi thô không chút bóng bẩy. Màu áo vốn là xanh thanh mộc, cái xanh của đọt trúc non, mà bạc đi nhiều, mép áo sờn cả chỉ. Bên thắt lưng giắt một cây sáo trúc, xanh biếc, xanh tới mức như vừa chặt ở bụi trúc về, trái hẳn với cái áo đã bạc.
Một bộ đồ tầm thường. Người mặc thì không tầm thường chút nào.
Tóc thiếu niên đen nhánh, buộc hờ sau gáy bằng một dải vải, mấy sợi lòa xòa rủ xuống bên thái dương. Da trắng, trắng tới mức dưới cái nắng nhập nhoạng cuối chiều trông như sứ. Sống mũi cao, lông mày như nét mực phẩy, đôi mắt sáng và sắc, đuôi mắt hơi cong lên, nửa như cười cợt, nửa như coi trời bằng vung. Đẹp. Cái đẹp của người sinh ra trong nhà có cột chạm rồng, chưa từng phải cúi đầu trước ai. Con gái làng nào mà thấy thì đứng quên cả gánh nước trên vai.
Mặt đẹp như con gái. Nhảy trên cây như sóc.
Luân nhớ lại cái giọng lạnh tanh giữa bãi máu. Thằng ranh ấy.
Thiếu niên phủi tà áo, ngồi xuống cành cây, hai chân đung đưa, như ngồi trên lan can nhà mình ngắm trăng.
"Nhà sư mũi thính thiệt." Cậu ta nói. Cũng là giọng phương Nam, mà khác hẳn cái giọng nằng nặng của gã áo nâu. Giọng này nhẹ, trong, lên xuống êm như người ngâm thơ, mỗi tiếng đặt xuống đúng chỗ như quân cờ đặt xuống bàn. "Ta nín thở cả một nén nhang, ngồi yên như gốc cây, mà vẫn bị ngửi ra. Nhà sư ở chùa ăn chay, sao mũi lại giống chó săn vậy?"
Gã áo nâu quay phắt lại. Mắt gã sáng rực lên như thằng đi câu vừa thấy phao chìm.
"Hoá ra mi! Cái thằng mặt trắng!" Gã nhe răng cười, siết chặt cây trượng, giậm một chân xuống đất. Đất dưới bàn chân gã nứt ra một đường dài như lưng rùa. "Tau theo mi từ bên tê núi qua bên ni núi, ba ngày ba đêm rồi. Cái vật mi lấy của tụi hắn, đưa đây cho tau."
"Nhà sư cũng muốn nó sao?" Thiếu niên nghiêng đầu. "Lạ thiệt. Người tu hành mà cũng biết tham."
"Tham cái đầu mi. Tụi hắn giết cả một xã để luyện cái chi đó, cái vật tụi hắn quý như vàng như ngọc. Tau cần."
"Ta cũng cần." Thiếu niên mỉm cười. "Vật trong thiên hạ, ai giữ được thì của người ấy. Nhà sư giữ không được thì về chùa tụng kinh gõ mõ cho lành, đánh đấm chi cho nhọc cái thân vậy."
"Nói nhiều." Gã thầy chùa gầm lên.
Rồi gã lao tới.
Cái thân hình đồ sộ như vậy, tưởng phải nặng nề, chậm chạp. Không. Gã lao đi nhanh như cơn lũ ống đổ xuống khe, mỗi bước chân giậm xuống, đất rung lên thình thịch. Cây trượng sắt trong tay gã quét ngang một đường, trượng phong rít lên như gió lốc lùa qua rặng tre, cả một khoảng không trước mặt như bị trấn bẹp dưới thế công cương mãnh ấy.
Đấy là lối đánh của kẻ lấy Thổ làm gốc. Mỗi bước giậm là một lần đóng cọc xuống đất. Mỗi trượng vung ra là cả một quả núi đổ theo. Thủ thì vững như bàn thạch, công thì trầm trọng như sấm rền.
Mà thiếu niên áo xanh thì như một làn khói. Thân pháp phiêu hốt, nhẹ như không có trọng lượng.
Cậu ta không đỡ, không gạt. Cậu chỉ nghiêng người. Trượng quét ngang, cậu đã nhón chân lên đầu trượng, mượn cái đà quét ấy mà bay đi, nhẹ như chiếc lá trúc bị gió thổi bật khỏi cành. Trượng bổ xuống chỗ này, cậu đã ở chỗ kia. Trượng đâm tới, cậu lượn qua như nước lượn qua hòn đá giữa suối, tà áo xanh bạc màu chỉ khẽ lay, chẳng nhăn lấy một nếp. Có lúc cậu lượn ra sau lưng gã áo nâu, rút cây sáo trúc ở thắt lưng, gõ một cái lên cái gáy dày của gã. Cốc.
"Chậm quá, nhà sư." Cậu cười khúc khích. "Trượng nặng thì mạnh thiệt. Mà đánh không trúng thì cũng như gánh đá lên núi rồi lại gánh đá xuống. Nhà sư vác khúc sắt ấy cả ngày mà không mỏi tay sao?"
"Mi cười cái chi!" Gã áo nâu nghiến răng ken két, mặt đỏ gay như gà chọi. "Đợi tau hồi lại cái sức ngày xưa, một quyền tau đấm mi văng qua bên kia núi, rơi xuống tận bờ biển!"
"Chờ nhà sư hồi lại, e ta đã bạc đầu." Thiếu niên cười ngặt nghẽo.
Gã giậm chân, hai tay nắm trượng giơ cao quá đầu, dồn cả thân hình vào một đòn bổ. Đòn ấy mà trúng thì hòn đá tảng cũng vỡ vụn. Thiếu niên áo xanh không lùi. Cậu phất nhẹ ống tay áo. Một nhúm bột phấn vàng nhạt bay ra, mịn như phấn hoa thông, tạt thẳng vào mặt gã.
"Hự!" Gã thầy chùa nhắm tịt mắt, ngoẹo đầu sang bên. Đường trượng đang bổ xuống chệch đi, cắm phập xuống đất sâu tới gần một thước. "Cái thứ đê tiện chi đây?"
"Phấn hoa." Thiếu niên đã lượn ra xa mấy trượng, phủi phủi ống tay. "Hoa gì thì ta không nói. Binh pháp có câu, binh bất yếm trá. Đánh nhau mà không dối thì là thằng ngốc."
"Binh với chả pháp!" Gã vừa dụi mắt vừa rút trượng lên, xoay người bổ liền ba trượng. Trượng nào cũng đủ sức phá đá tan cây. Rầm. Rầm. Rầm. Ba gốc cây gãy gập. Đá văng như mưa.
"Chà, nhà sư dữ vậy." Thiếu niên né hết cả ba, vừa né vừa cười. "Nhà sư mà đánh trúng được ta một cái, ta lạy ba lạy mà gọi bằng thầy. Mà e đời này không kịp đâu."
Luân treo ngược trên cành, nhìn hai người đánh nhau bên dưới.
Máu dồn lên đầu làm mắt nó hoa lên. Nhưng càng nhìn, đầu óc nó càng tỉnh ra.
Một người như núi đè. Một người như gió thoảng. Kẻ bổ trượng gầm gừ chửi rủa, kẻ né trượng cười cợt trêu ngươi. Đánh mãi mà không phân thắng bại. Gã áo nâu mạnh thật, mạnh tới mức đấm lõm cả thân cây, mà chậm hơn nửa nhịp, mười trượng không trúng lấy một. Thiếu niên áo xanh nhanh thật, nhanh tới mức đứng trên đầu trượng người ta, mà kình lực thì chỉ đủ gõ gáy, búng tai, chẳng làm gì được cái thân trâu mộng kia.
Nhưng có một cái lạ.
Luân từng thấy Cao Phong cưỡi con ngựa bạch đi qua gốc đa, cái năm nó mười một tuổi. Người ấy không làm gì cả, mà đám đông tự lùi lại, chó chui gầm chõng, như có một bàn tay vô hình ép lên ngực từng người. Cái thứ ấy Luân không biết gọi là gì. Nó chỉ nhớ cảm giác.
Hai người bên dưới cũng có cái thứ ấy. Cái uy áp ấy. Mà có một nửa. Như hai ngọn đèn bị ai úp nón lên. Ánh sáng vẫn còn đó, lọt qua kẽ nón từng vệt từng vệt, mà không tỏa ra được.
Cái sức họ đang dùng, nhỏ hơn cái khí thế họ mang trong người nhiều lắm.
Nó chưa kịp nghĩ thêm thì có tiếng khác vọng tới.
Tiếng chân người. Nhiều. Tiếng binh khí va lách cách. Tiếng quát tháo gọi nhau, mỗi lúc một gần.
"Bên này! Có tiếng đánh nhau!"
Huyết Nàn giáo.
Mặt thiếu niên áo xanh đổi trong chớp mắt. Cái vẻ cợt nhả rút đi sạch. Thay vào đấy là cái lạnh của đứa đã quen bị săn đuổi.
"Cuộc vui tới đây là tàn." Cậu ta nói khẽ. Chân nhún một cái trên cành, người đã vọt lên một cành cao hơn, rồi một cành cao hơn nữa, nhanh như con sóc chuyền cây. "Nhà sư, hôm khác ta lại xin hầu mấy đường."
Tà áo xanh lẫn vào tán lá. Rồi không thấy đâu nữa.
Gã áo nâu chửi một tràng dài bằng cái giọng mà Luân nghe không ra lấy một chữ. Nhưng gã cũng biết không ham đánh được lúc này. Gã vơ vội cái bọc đồ dưới gốc cây, quẩy lên vai, cắm đầu chạy về phía ngược lại.
Chạy được mươi bước thì gã dừng.
Gã quay lại. Nhìn lên cái bọc người đang treo trên cành. Nhìn tấm gỗ trong tay mình.
"Tổ cha cái họ Trần." Gã lẩm bẩm.
Rồi gã vung tay ném tấm gỗ lên. Tấm gỗ bay vút lên, lọt qua mắt lưới, đập vào ngực Luân. Luân vội ôm chặt lấy, nhét trở lại vào trong áo.
Gã nắm trượng, đâm một nhát lên.
Đầu trượng sắt xé vào tấm lưới như dao xé giấy bản. Thừng gai đứt phựt phựt từng sợi. Một lỗ rách toạc ra, to bằng cái nong, ngay dưới vai Luân.
"Tau cứu mi một lần. Vì cái họ." Gã nói, giọng gằn xuống. "Tự chui ra mà chạy. Chui không kịp thì chết cho đàng hoàng, đừng khai là có gặp tau."
"Dạ... anh... anh không đỡ em xuống ạ?"
"Tau là thầy chùa chớ có phải mạ mi mô!"
Gã quay lưng, cắm đầu chạy. Cái áo nâu sồng vá chằng vá đụp lẫn vào rừng sâu, tiếng chân thình thịch nhỏ dần, rồi mất hẳn.
Để lại một mình Luân.
Nó chui.
Cái lỗ to bằng cái nong, mà nó treo ngược, lưới quấn chặt quanh ngực quanh chân, thừng gai cứa vào da. Nó vặn người, luồn một tay ra, luồn vai ra, luồn đầu ra. Máu dồn lên mặt nóng rực. Thừng gai cào rách má nó một đường. Bên cạnh nó, cái xác đứa áo đen vẫn đung đưa, đung đưa, mặt tái ngắt, mắt mở trừng trừng nhìn xuống đất.
Tiếng chân dưới rừng đã gần lắm rồi. Gần tới mức nó nghe được cả tiếng thở, tiếng đao lê trên lá.
Nó luồn được nửa người ra. Chân còn vướng.
Nó nghiến răng, giật mạnh một cái.
Phựt.
Nó rơi.
Rơi từ độ cao bằng hai nóc nhà, người xoay lộn một vòng giữa không trung. Lão ăn mày dạy nó ngã. Ngã thì đừng chống tay, chống tay thì gãy tay. Ngã thì co người lại như con tôm, để vai với lưng chịu. Nó co người. Vai trái đập xuống lớp lá mục, lăn một vòng, hai vòng, đau điếng tới mức mắt tối sầm.
Nó chưa cho mình nằm yên được một nhịp nào. Tay trái đã quờ trên mặt đất, chạm vào một thân gỗ nhẵn. Cành dẻ. Nó nắm lấy, bật dậy.
Đúng lúc ấy, từ sau những gốc cây, năm sáu cái bóng áo đen ùa ra.
Đứa đi đầu thấy cái xác đồng bọn treo trên cây, thấy tấm lưới rách, thấy một thằng nhãi mặt mũi đầy máu, tay cầm cành cây, đứng giữa đám lá.
"Nó kia!"
Luân chạy.
Chữ trên tấm gỗ không tên,
Bây giờ mới biết đọc lên thế nào.
Sỏi thầy thả giếng hôm nao,
Mãi hôm nay mới vọng vào tai nghe.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.