Phong Sương Niên Ký

Chương 47: Mặt Hồ Gợn Sóng

Đăng: 12/10/2026 19:29 4,858 từ 4 lượt đọc

Luân chạy xuống núi.

Không chạy lên. Lên thì đụng bãi máu, đụng ba chục cái áo đen. Nó chạy xuống, chạy về phía Đông, về phía chân núi, vì nó nhớ ông tiều phu bảo lối đường cái vòng qua chân núi phía Đông. Có trạm. Có lính.

Bốn tháng nay nó tránh đường cái như tránh rắn. Bây giờ nó cắm đầu chạy về phía đường cái như con bê lạc chạy về chuồng.

Sau lưng nó, tiếng quát tháo nổi lên ầm ĩ. Tiếng chân giẫm lá rào rào. Tiếng đao chém phạt cành cây phựt phựt. Năm sáu đứa. Rồi mười đứa. Rồi không đếm được nữa.

Nó chạy. Không ngoái lại. Không nghĩ. Đặt chân xuống đâu thì nhấc chân lên đó. Cành dẻ trong tay trái. Tấm gỗ trong ngực áo, áp vào da, nảy lên nảy xuống theo từng bước chạy. Bọc tiền ở thắt lưng, nút thắt mặt trong, đập vào hông nó thình thịch.

Chạy là đúng. Lão ăn mày bảo thế, cái Tết năm nó mười lăm tuổi, lúc nó chạy khỏi nắm đấm tay trái của thằng Hợi. Ngồi đúng chỗ thì phải biết chỗ nào không phải chỗ của mình.

Cả cái núi Huyền Vân này không có chỗ nào là chỗ của nó.

Một cái bóng áo đen lao ra từ bên hông, chặn ngang lối.

Luân không dừng. Nó lách người sang trái, lách qua một bụi cây mà nó đã thấy từ xa, cái bụi dây leo quấn trên thân cây gỗ, lủng lẳng những chùm quả cong cong như con sâu róm, vỏ phủ một lớp lông nâu óng ánh. Mắt mèo.

Ông lang dạy nó cây ấy từ năm đầu. Không phải để hái. Để tránh. Lông quả mắt mèo dính vào da thì ngứa như có lửa bò, dính vào mắt thì mù cả buổi, gãi vào thì lở loét cả tháng.

Nó nhớ cái nhúm phấn vàng thằng mặt trắng phất ra từ ống tay áo. Nó giật một nắm lá ráy bên đường, bọc lấy bàn tay phải, vơ một chùm quả mắt mèo, bóp nát trong lòng lá.

Đứa áo đen vung đao chém tới.

Luân quay lại, vung tay. Cả một đám lông nâu mịn như bụi phấn bay ra, tạt thẳng vào cái khe hở trên vành khăn bịt mặt, chỗ hai con mắt.

Đứa áo đen rú lên. Đao rơi. Hai tay ôm mặt, nó lảo đảo, gào, cào cấu vào mắt mình, càng cào càng gào to hơn, quằn quại như con giun bị rắc vôi.

Luân ném nắm lá ráy đi, chạy tiếp.

Rồi sau lưng nó có một tiếng khác.

Không phải tiếng chân giẫm lá. Là tiếng gió.

Gió đi trước. Người tới sau. Luân chưa kịp quay đầu thì sau gáy đã lạnh buốt, lạnh như có ai áp một lưỡi dao vào. Nó không nghĩ. Chân nó tự bật. Nó lao người sang bên, lăn một vòng trên lá mục.

Phập.

Một lưỡi đao cong bổ xuống chỗ nó vừa đứng, cắm ngập vào đất sâu tới nửa gang tay, chém đứt lìa một cái rễ cây to bằng cổ tay. Đất bắn tung tóe.

Đao chưa tới mà gió đã rít bên tai.

Luân lồm cồm bò dậy, ngẩng lên.

Gã Đàn chủ đứng đó. Cao lớn, áo choàng đen viền chỉ đỏ, khăn bịt mặt viền đỏ dày. Gã rút đao lên khỏi đất, thong thả, như người nông phu rút cái cuốc lên khỏi luống cày.

"Thằng nhãi con." Gã nói. "Thấy cái không được thấy, còn dám chạy."

Luân không đáp. Nó đứng. Chân lệch, vai xuôi, cành dẻ chúc đất.

Gã Đàn chủ nhìn cái thế đứng ấy, nhếch mép cười.

Rồi gã bổ đao.

Luân không đứng yên mà đón. Đứa này không phải đứa áo đen cầm kiếm trên kia. Đứa này đứng giữa bãi máu mà cả bãi máu im phăng phắc. Đứng yên mà đón đao đứa này là thành hai mảnh.

Nên nó chạy. Vừa chạy vừa đánh.

Gã Đàn chủ bổ đao từ sau lưng, nó không quay lại đỡ. Nó lách sang một gốc cây to. Lưỡi đao chém phập vào thân cây, ngập tới sống đao, kẹt lại nửa nhịp. Đúng nửa nhịp ấy, nó cúi xuống vốc một nắm đất ẩm lẫn lá mục, hất ngược ra sau.

Gã Đàn chủ nghiêng đầu tránh. Nhưng cũng phải chậm lại.

Luân đã chạy được thêm mấy trượng.

Cứ thế. Chạy tới đâu, nó mượn đất tới đấy. Nó chui qua một bụi mây gai thấp, như cái hôm năm mười một tuổi nó chui qua bụi mây để tránh con lợn lòi mắt đỏ. Gai cào rách áo, cào rát da. Gã Đàn chủ to lớn phải vòng qua. Nó níu một cành cây non cong xuống, chạy qua rồi buông tay. Cành cây bật ngược lại, quất vút vào mặt kẻ đuổi sau. Có lúc nó lao người xuống một triền dốc đá, lăn lông lốc giữa sỏi đá, rách toạc cả vai áo, rách toạc cả da vai, mà xuống tới chân dốc trước gã kia được nửa hơi thở.

Là cái lối chạy của đứa lớn lên ở bãi tha ma, ở ao làng, ở những con ngõ có thằng Hợi đứng chặn. Học chạy trước khi học đứng thẳng.

Mà nó có tác dụng.

"Ranh con!" Gã Đàn chủ gầm lên, cái khăn bịt mặt phập phồng. Một kẻ đứng đầu một đàn, đuổi một thằng nhãi rách rưới cầm cành cây suốt nửa quả núi mà chưa chém được. "Mày chạy được tới bao giờ?"

Luân không đáp. Nó không còn hơi mà đáp.

Hai lá phổi nó như có ai nhét đầy than hồng. Mỗi hơi thở rít lên trong cổ họng, khô rát, tanh tanh mùi máu. Hai chân tê dại. Mỗi bước chạy bây giờ chỉ còn là cái đà. Vai trái nó rát bỏng. Một lần nó lách chậm nửa nhịp, mũi đao đã sượt qua, xé một đường trên bả vai. Máu chảy xuống ướt đẫm một bên áo, bết vào da.

Ở giữa hai thân cây phía trước, nó thấy một vệt sáng.

Không phải ánh chiều. Là một vệt đỏ au, thẳng tắp, nằm vắt ngang dưới chân núi như ai kẻ bằng thước.

Đá ong. Đường thiên lý.

Nó dồn nốt chút hơi ấm còn sót lại quanh cái ấm dưới rốn xuống hai chân. Tám luồng. Tám luồng chạy vòng, mỏng như tám sợi chỉ. Nó dồn cả tám.

Tán cây thưa dần. Ánh chiều đổ xuống chói cả mắt.

Nó vọt ra khỏi bìa rừng. Hai bàn chân trần giẫm lên mặt đá ong nóng rẫy. Rồi hai đầu gối nó khuỵu xuống. Nó ngã sấp giữa đường.

Thứ đầu tiên Luân nhìn thấy không phải lính.

Là một con voi.

Không. Là bốn con voi. Bốn con voi đi thành hàng đôi, to như bốn quả đồi nhỏ biết đi, da xám nhăn nheo như vỏ cây lim già, ngà dài cong vút bịt đồng sáng loáng. Trên cổ mỗi con có một người quản tượng đội nón dấu, tay cầm cái móc sắt. Và sau lưng bốn con voi là một cỗ xe.

Nó chưa thấy cái gì như thế bao giờ. Nó nghĩ mình đang nhìn một ngôi đình làng bị ai nhấc bổng lên, đặt lên bánh gỗ, rồi thả cho bốn con voi kéo đi.

Cỗ xe dài bằng cả gian giữa với hiên nhà ông lang gộp lại, đặt trên tám cái bánh gỗ lim to như cối đá, bọc đai sắt. Cao hai tầng, tầng nào cũng có hiên, có lan can gỗ tiện, có cửa sổ chấn song. Mái cong vút lên ở bốn góc như mái đình, lợp ngói ống sơn son đỏ rực. Thân xe chạm kín đặc, không chừa một tấc nào. Những con rồng mình thon dài, uốn lượn mềm như dải lụa, râu tóc bay ngược ra sau, luồn lách giữa những cụm mây xoắn như vỏ ốc. Phía dưới là một hàng chim cổ dài mỏ dài, cánh xòe, đuôi nối nhau chạy suốt chiều dài thân xe, giống hệt những con chim trên mặt trống đồng trong đình làng. Cột xe sơn son thếp vàng, đầu cột chạm búp sen. Trên nóc xe, bốn góc mái đặt bốn cái nỏ giường to như bốn cái cối giã gạo nằm ngang, tên nỏ dài bằng cán giáo, mũi tên sắt đen bóng chĩa ra bốn phía. Giữa nóc cắm một lá cờ lớn, bay phần phật trong gió chiều. Phải là con đường thiên lý lát đá ong phẳng như kẻ chỉ này mới cõng nổi một cỗ xe như thế.

Cờ vàng nhạt, viền xanh.

Luân nhận ra màu cờ ấy. Năm nó mười một tuổi, bảy xe gạo cắm cờ màu ấy lăn bánh vào làng Lò Trấu, bao gạo in chữ đỏ 軍糧.

Hai bên cỗ xe là hai hàng lính cưỡi ngựa, áo chẽn, nón dấu, giáo dựng thẳng tắp, lưỡi giáo lấp loá dưới nắng chiều. Từ những ô cửa sổ trên thân xe, hàng chục khuôn mặt trẻ tuổi đang thò ra. Có đứa mặc áo dài thư sinh, khăn lượt ngay ngắn. Có đứa mặc áo chẽn võ sinh, tay áo xắn cao. Đứa nào cũng trợn mắt nhìn xuống giữa đường.

Giữa đường, một thằng nhãi rách rưới, mặt mũi lấm lem máu với bùn, đang chống cành cây, lồm cồm muốn đứng dậy mà không đứng dậy nổi.

Và sau lưng nó, gã Đàn chủ áo đen lao ra khỏi bìa rừng.

Gã không dừng. Gã thấy cỗ xe voi, thấy hai hàng lính, thấy lá cờ, mà gã không dừng. Mắt gã chỉ nhìn một chỗ. Cái thằng đã thấy bãi máu. Cái thằng chạy suốt nửa quả núi.

Thanh đao cong giơ lên cao, đỏ rực dưới nắng chiều.

"Chết đi!"

Keng!

Tiếng thép chạm thép ngân lên, dài, trong, như tiếng chuông chùa đánh giữa trưa.

Luân không thấy người ấy từ đâu tới. Nó chỉ thấy một vệt thiên thanh vút qua đầu nó, nhẹ như cánh diều đứt dây, rồi một đôi hài da mòn gót đáp xuống mặt đá ong ngay trước mặt nó, không phát ra một tiếng động. Và giữa nó với lưỡi đao đang bổ xuống, có một thanh gươm.

Một thanh gươm một lưỡi, thân mảnh, hơi cong. Nó đỡ ngang lưỡi đao cong, đỡ gọn, đỡ vững, như cái cọc lim cắm giữa dòng nước lũ. Tia lửa bắn ra từ chỗ hai lưỡi thép chạm nhau, tóe lên thành một chùm sao nhỏ, rơi lả tả xuống vai Luân.

Trên thân gươm, sát chuôi, khắc một con chim. Cổ dài, mỏ dài, cánh xòe. Trên đầu con chim là một vòng mặt trời tỏa tia.

Chim Lạc.

Luân biết con chim ấy. Năm mười ba tuổi nó khắc lại cái vòng mặt trời trên đầu con chim, mười bốn tia, khắc theo trí nhớ, nhớ từ một thanh gươm chú Lâm rút ra khỏi vỏ đúng một gang tay bên giếng làng. Thích thì lớn lên mà đeo.

Người cầm gươm đứng quay lưng về phía nó. Áo giao lĩnh màu thiên thanh, cái màu xanh của trời sau mưa, mà đã bạc đi nhiều, hai bả vai sờn trắng. Ống tay áo bó chặt vào cổ tay bằng hai vòng dây. Vạt áo xẻ hai bên hông cho dễ xoay người. Tóc buộc cao, buộc bằng một dải lụa trắng, hai đầu dải lụa bay phất phơ theo gió.

Cái dải lụa trắng ấy.

"Giữa đường thiên lý." Người ấy nói. Giọng con gái, trong, lạnh như nước giếng khơi tháng Chạp. "Trước xe thí sĩ của triều đình. Mà ngươi dám rút đao giết người?"

Gã Đàn chủ lùi lại một bước. Gã nhìn thanh gươm. Nhìn con chim khắc trên thân gươm. Nhìn dải lụa trắng. Đôi mắt trên vành khăn bịt mặt nheo lại.

Rồi gã bật cười.

"Gươm Lạc Hồng. Áo xanh. Con gái." Gã nói, chậm rãi, như người đọc từng chữ trên bia. "Diêu Hoa Quốc Nữ phải không? Đồ đệ của thằng Bắc Trấn đi đánh Mạc mà không về?"

Người con gái không đáp. Mũi gươm hạ xuống, chúc về phía mặt đường, im lìm.

Tĩnh Thủy Vô Ba.

Luân không biết tên cái thế thủ ấy. Nó chỉ thấy người ấy đứng. Khí tức thu lại, tĩnh như mặt hồ không một gợn gió. Không nghiêng về trước, không ngả về sau, cái bóng đổ trên mặt đá ong đứng yên như đóng đinh. Như con nghê đá ngồi ở cổng đình. Như người đứng chờ đò.

Gã Đàn chủ bổ đao.

Đao pháp của gã cương mãnh. Mỗi nhát bổ xuống mang theo uy thế trời sập. Lưỡi đao quạt gió vù vù, hất tung bụi đỏ trên mặt đường. Lưỡi đao cong vẽ trong không trung những vệt đỏ au, đỏ như máu tươi, vệt cũ chưa tắt, vệt mới đã tới, liên hoàn bất tuyệt, chồng lên nhau thành những cánh quạt máu xòe ra rồi cụp vào.

Người con gái không lấy cứng chọi cứng.

Mũi Gươm Lạc Hồng nghiêng đi một chút. Chỉ một chút. Lưỡi đao bổ xuống, chạm vào thân gươm, rồi trượt đi, trượt tuột sang bên như giọt nước mưa lăn khỏi lá sen. Sen Nghiêng Đón Giọt, dĩ nhu khắc cương. Cả kình lực của nhát trời sập ấy trôi qua vai nàng, cắm xuống mặt đá ong, bổ vỡ một phiến đá thành ba mảnh.

Nàng xoay cổ tay. Gươm trả về. Một nhát. Nhỏ. Nhẹ. Rạch một đường mảnh như sợi chỉ trên ống tay áo choàng đen của gã.

Gã Đàn chủ gầm lên, bổ tiếp. Ngang. Dọc. Chéo. Đao thế như cuồng phong tháng Bảy, như hồng thủy vỡ đê, dồn dập, ào ạt, nhát sau trầm trọng hơn nhát trước.

Nàng lùi. Nghiêng. Gạt. Mỗi nhát đao lướt qua thân gươm lại trôi đi như nước trôi qua đá. Và cứ sau mỗi nhát đao trôi đi, mũi gươm lại trả về một nhát. Nhỏ. Nhẹ. Nhanh. Một đường trên vai áo. Một đường trên cổ tay. Một đường trên vạt áo choàng. Không nhát nào sâu. Mà nhát nào cũng trúng. Thủy thế miên miên, không thấy đầu, không thấy cuối.

Nước Chảy Đá Mòn.

Luân nằm giữa đường nhìn, quên cả cái vai đang chảy máu.

Nó chưa thấy ai đánh như thế này bao giờ. Như nước. Đao của gã kia là đá, là núi, là trời sập. Gươm của nàng là nước. Nước không cãi với đá. Nước chỉ chảy qua. Chảy mãi. Chảy cho tới lúc đá mòn.

Hai mươi đường gươm. Ba mươi đường gươm. Áo choàng đen của gã Đàn chủ đã rách tả tơi, rách thành từng dải, bay phất phơ như lá cờ rách. Trên hai cánh tay gã, máu rịn ra từ hàng chục đường cắt nhỏ như sợi chỉ.

Luân nhìn mà hiểu ra. Người cầm gươm không muốn giết. Người ấy muốn một cái xác còn biết nói.

Gã dồn toàn thân công lực, bổ xuống một nhát, nhát trầm trọng nhất từ đầu tới giờ. Nàng không nghiêng gươm nữa. Nàng xoay người. Xoay một vòng trọn, tà áo thiên thanh xòe ra như cánh hoa sen nở, gươm theo vòng xoay mà quét, cuốn lấy lưỡi đao, bẻ cái sức nặng của nhát bổ ấy ngoặt sang một bên như dòng sông gặp ngã ba thì rẽ nhánh. Tam Giang Hồi Toàn. Gã Đàn chủ bị chính kình lực của mình kéo đi, loạng choạng mấy bước, suýt ngã sấp xuống mặt đường.

Trên cỗ xe voi, mấy chục cái đầu thò ra cửa sổ đồng loạt ồ lên.

Gã Đàn chủ đứng vững lại. Gã thở phì phò, lồng ngực phập phồng dưới cái áo choàng rách.

Gã nhìn con bé trước mặt. Mười lăm, mười sáu tuổi là cùng. Gươm vẫn chúc xuống đất. Hơi thở vẫn đều.

Gã liếc lên cỗ xe voi. Bốn cái nỏ giường trên nóc xe đã quay đầu từ lúc nào, bốn mũi tên sắt dài bằng cán giáo chĩa cả về phía gã. Hai hàng lính cưỡi ngựa đã giương giáo. Đám thuộc hạ của gã vừa lục tục chạy ra tới bìa rừng thì đứng khựng lại, không đứa nào dám bước lên mặt đá ong.

Luân thấy mắt gã đổi. Cái hung hăng rút đi. Thay vào đấy là một cái khác. Cái nhìn của con cáo già thấy chó săn vây kín bốn mặt, đang đảo mắt tìm cái lỗ chó chui.

Rồi gã cười.

"Mặt hồ phẳng lắm." Gã nói. "Thầy mày dạy đấy à? Mà thầy mày giờ nằm đâu, hả con ranh? Chợ búa đồn quân Bắc Trấn đi mà chẳng ai về. Xác thì chó tha hay quạ rỉa, chẳng ai biết..."

Mũi Gươm Lạc Hồng giật lên một cái.

Chỉ một cái. Nhỏ như sợi tóc. Mà Luân thấy.

Cái bóng đổ trên mặt đá ong, cái bóng đứng yên như đóng đinh từ đầu tới giờ, lay đi một chút.

Mặt hồ gợn.

"Câm miệng."

Giọng nàng vẫn lạnh. Mà cái lạnh ấy đã khác. Không còn là nước giếng khơi. Là băng. Băng thì cứng, mà băng thì dễ nứt.

Nàng lao lên.

Không chờ nữa. Không nghiêng, không gạt, không để đao trôi qua nữa. Gươm Lạc Hồng đâm thẳng, chém thẳng, nhát này nối nhát kia, nhanh như mưa rào quất xuống mặt ao, dồn gã Đàn chủ lùi từng bước, từng bước. Đẹp. Nhanh. Mà hở.

Luân thấy chỗ hở. Nó không biết gọi tên, nhưng nó thấy. Như cái lần ở Ngõ Mương Đen, thằng Hợi đấm tay trái, có học mà nóng. Như cái lần con bé áo xanh năm ấy rút gươm chém con lợn lòi mắt đỏ, không chịu nghe nó bảo lùi.

Gã Đàn chủ lùi. Lùi. Lùi tới mép đường. Gã không đánh trả nữa. Gã chỉ đỡ, đỡ chật vật, đỡ loạng choạng.

Rồi gã buông đao.

Thanh đao cong rơi xuống mặt đá ong, đánh xoảng một tiếng. Gã quỳ sụp xuống, hai tay chống đất, trán gần chạm mặt đường.

"Tha mạng! Quốc Nữ tha mạng! Tôi hàng! Tôi hàng!"

Nàng dừng.

Mũi Gươm Lạc Hồng dừng lại cách cổ gã một đốt tay. Nàng đứng đó, ngực phập phồng, má đỏ hồng lên vì giận, vì mệt, vì cái vừa thắng. Nàng nhìn cái lưng áo choàng rách đang cúi rạp dưới chân mình.

Rồi nàng quay đầu, nhìn về phía cỗ xe voi.

"Người đâu! Trói hắn lại..."

Vai gã Đàn chủ động.

Luân thấy. Không phải nhìn thấy bằng mắt. Nó thấy như thấy cái vai thằng Hợi động trước khi nắm đấm tới, như thấy cái vai đứa áo đen động trước khi mũi kiếm đâm ra. Vai động trước. Tay tới sau.

Vai gã đang quỳ mà động. Tay gã đang chống đất mà ngón tay co lại.

"Lùi!"

Luân gào lên. Cái tiếng gào khản đặc, rách toạc cổ họng, cùng một tiếng với cái chữ nó gào năm mười một tuổi bên con suối.

Nàng quay đầu lại.

Nửa nhịp. Chỉ chậm nửa nhịp.

Gã Đàn chủ ngẩng lên. Gã há miệng, phun ra một màn sương đỏ. Không phải nước bọt. Là máu. Gã đã cắn nát đầu lưỡi mình, và cái màn máu phun ra không rơi xuống như máu thường, mà xòe ra, loang ra thành một đám sương đỏ đặc quánh, tanh nồng, bốc khói xèo xèo như nước tạt vào lò rèn. Và từ trong ống tay áo gã, ba cái bóng nhỏ bắn ra, nhanh tới mức chỉ thấy ba vệt sáng xanh lè.

Kim. Ánh xanh lè như lưng rắn lục. Nhắm thẳng vào mắt, vào họng, vào ngực nàng.

Nàng giơ gươm. Chậm rồi.

Rồi quãng đường trước cỗ xe im bặt.

Không phải im như người ta nín thở. Là uy áp. Im như có ai úp một cái vung lên quãng đường ấy, từ đầu bốn con voi tới chỗ Luân nằm, rồi ấn xuống.

Gió quanh xe lặng đi. Bụi đỏ đang bay trên mặt đường rơi chậm lại, chậm như rơi trong nước. Bốn con voi đồng loạt cụp tai, lùi nửa bước. Ngựa của hai hàng lính cúi gằm đầu, không con nào dám hí.

Luân thấy ngực mình nặng xuống. Như cái ngày Cao Phong cưỡi ngựa bạch đi qua gốc đa. Hôm ấy người ta chỉ đi qua, không làm gì. Hôm nay người ta ra tay, và cái nặng ấy dồn cả vào một chỗ.

Cái màn sương đỏ phun ra từ miệng gã Đàn chủ chững lại giữa không trung, cách mặt nàng hai gang tay, cuộn vào nhau như khói gặp gió ngược, không tiến thêm được.

Ba mũi kim chậm lại, chậm như ba con ruồi sa vào bát mật, tới cách mắt nàng, cách họng nàng, cách ngực nàng chừng một đốt tay thì chúi xuống. Rơi lên mặt đá ong. Lách tách. Lách tách. Lách tách.

Trên tầng dưới cỗ xe voi, bên một ô cửa sổ, có một người đàn ông ngồi.

Ông mặc áo bổ tử, cái áo có tấm vải vuông thêu hình chim nhạn bay giữa mây trước ngực. Người đẫy đà, mặt vuông, râu ba chòm lốm đốm bạc, đầu đội mũ cánh chuồn. Trước mặt ông kê một cái án thư nhỏ, trên án để một cuốn sổ dày, một nghiên mực, một ống bút. Tay phải ông còn cầm cây bút lông. Nãy giờ ông vẫn ngồi đấy, ghi ghi chép chép, như chẳng có gì xảy ra ngoài cửa sổ.

Bây giờ ông vẩy bút.

Chỉ một cái vẩy. Như người ta vẩy cho ráo mực trước khi đặt bút xuống giấy.

Một giọt mực đen bay ra khỏi đầu ngòi bút. Nhỏ, nhỏ như hạt đỗ đen. Nó bay chậm, chậm tới mức Luân nhìn theo được, bay qua cái màn sương đỏ đang cuộn, xuyên qua nó như xuyên qua một tờ giấy dó mỏng. Huyết vụ tan thành từng sợi khói, tiêu tán vào hư không.

Rồi giọt mực chạm vào giữa trán gã Đàn chủ.

Gã không kịp kêu.

Cả người gã sụp xuống, sụp thẳng xuống, như có ai vừa đặt lên lưng gã cả một cái cối đá. Hai đầu gối gã ghì xuống mặt đá ong. Mặt đá ong dưới gối gã nứt ra thành một vòng tròn, đường nứt lan ra như vết rạn trên mặt chum. Hai tay gã chống đất, run bần bật, cố gượng lên mà không gượng nổi. Trên trán gã, giọt mực đen loang ra thành một chấm tròn, tròn và đen như con mắt.

Ông quan trên xe đặt cây bút xuống nghiên. Ông nói, giọng ôn tồn, chậm rãi, không to, mà cả con đường nghe rõ từng tiếng.

"Khai Mạch mười hai. Chưa qua được cửa Ngự Viên. Mà dám múa đao trước xe thí sĩ của triều đình."

Ông lật sổ sang trang mới.

"Trói lại. Giải về trạm. Mấy đứa ở bìa rừng kia, đứa nào vứt đao thì sống."

Ở bìa rừng, đám áo đen đã quăng đao xuống từ bao giờ. Chúng quỳ rạp, trán dập xuống đất, không đứa nào dám ngẩng lên.

Cái vung nhấc lên. Gió lại thổi. Bụi đỏ lại bay. Lá cờ vàng nhạt viền xanh lại phần phật trên nóc xe. Bốn con voi vẫy tai, rống lên một tiếng dài, rền như tiếng sấm cuối trời.

Hai người lính nhảy xuống ngựa, lấy thừng trói quặt tay gã Đàn chủ ra sau lưng. Gã không giãy. Cái chấm mực trên trán gã vẫn đen.

Ông quan trên xe lại cầm bút lên. Trước khi chấm bút vào nghiên, ông ngẩng lên nhìn người con gái áo thiên thanh vẫn đứng giữa đường, gươm cầm trong tay.

"Quốc Nữ." Ông nói. Vẫn cái giọng ôn tồn ấy. "Người đã quỳ thì tay vẫn còn. Lần sau nhớ nhìn tay, đừng nhìn gối."

Nàng không đáp. Môi nàng mím chặt lại thành một đường. Hai má vẫn đỏ, mà bây giờ không phải cái đỏ của người vừa thắng.

"Nghi à, chuyện cỏn con này sao phải để em ra tay?"

Một bóng người từ tầng hai cỗ xe voi nhảy xuống, đáp đất nhẹ nhàng, áo không nhăn, tóc không lệch, dáng ung dung như người bước xuống bậc thềm nhà mình. Chỉ tiếc là chậm. Chậm tới mức mọi chuyện đã xong xuôi cả rồi.

Đấy là một thư sinh chừng mười tám đôi mươi. Áo dài lam thẫm may bằng lụa mịn, cổ áo và tay áo viền chỉ bạc. Thắt lưng bằng dải gấm, lủng lẳng một miếng ngọc bội xanh biếc. Búi tóc cài trâm bạc, không một sợi lệch. Mặt thanh tú, sống mũi cao, môi mỏng. Cái đẹp trau chuốt của người sinh ra đã đứng ở trên cao, và biết rõ mình đẹp.

Hắn phẩy cây quạt giấy. Hắn liếc gã Đàn chủ đang bị trói bằng cái ánh mắt người ta nhìn con chó dại lạc vào sân nhà. Hắn liếc sang thằng nhãi rách rưới đang nằm giữa đường, lông mày nhíu lại, như vừa ngửi thấy mùi gì khó chịu.

"Anh vừa định xuống thì quan Đề điệu đã ra tay." Hắn nói, gập quạt lại, gõ gõ vào lòng bàn tay.

Rồi hắn bước lại gần nàng, gần hơn một bước so với phép tắc cho phép. Cái vẻ ung dung trên mặt hắn rút đi một chút. Hắn cúi xuống nhìn ba mũi kim nằm trên mặt đá ong, nhìn cái vòng đá nứt dưới gối gã Đàn chủ, rồi nhìn lên gương mặt còn đỏ của nàng. Giọng hắn hạ xuống, không còn cái âm điệu lanh lảnh để nửa con đường nghe thấy nữa.

"Em đấy." Hắn nói. "Lần sau em phải cẩn thận hơn một chút. Ba mũi kim ấy mà chậm thêm nửa nhịp thôi thì..." Hắn ngừng lại, không nói hết câu. Cây quạt trong tay hắn siết chặt tới mức nan quạt kêu răng rắc. "Em mà có mệnh hệ gì, anh biết ăn nói thế nào với... Em cứ để anh lo mấy việc này."

"Không phải việc của anh."

Người con gái nói, không thèm quay đầu.

Thư sinh áo lam há miệng, rồi ngậm lại. Ông quan trên xe khẽ nghiêng đầu về phía hắn, gọi một tiếng "Trịnh công tử", rồi cúi xuống cuốn sổ, không nói gì thêm.

Người con gái tra gươm vào vỏ.

Gươm Lạc Hồng trượt vào cái vỏ gỗ đen, khít, không một tiếng động. Nàng quay lại.

Lần đầu tiên, Luân nhìn thấy mặt nàng.

Sống mũi cao. Cằm thon. Đôi lông mày sắc như hai nét mực. Da trắng, mà không phải cái trắng yếu ớt của người ngồi trong màn trướng, là cái trắng của người đứng nắng nhiều mà nắng không làm sạm nổi. Đôi mắt đen, dài, đuôi mắt hơi xếch lên, lạnh tới mức người đối diện tự dưng muốn lùi lại nửa bước.

Năm năm. Khuôn mặt ấy đã dài ra, sắc lại. Năm năm đã mài đi cái tròn trịa lấm lem nước suối của con bé áo xanh đứng trên tảng đá bên suối. Mà Luân vẫn nhận ra.

Nó nhận ra cả bàn tay.

Bàn tay phải vừa buông chuôi gươm. Giữa lòng bàn tay có một vết sẹo trắng, mảnh, chạy dọc từ gốc ngón cái xuống tới cổ tay. Cái vết mà năm năm trước là một đường rách toác, máu chảy ròng ròng, bị một thằng nhãi đen nhẻm ấn ngón cái vào dưới khuỷu tay, lấy gấu áo mình băng lại hai vòng chéo, thắt nút mặt trong.

Nó nhìn cái dải lụa trắng buộc tóc. Nó nhìn con chim Lạc trên chuôi gươm. Nó nhìn vết sẹo.

Nàng cũng nhìn nó.

Nhìn cái mặt lấm lem máu với bùn, da đen bánh mật vì bốn tháng nắng rừng, một vết sẹo gai vắt ngang chân mày. Dưới lớp bùn ấy, sống mũi đã thẳng, xương hàm đã rõ, đôi mắt đã thôi cái vẻ ngơ ngác của thằng bé mười một tuổi. Rửa sạch đi thì cũng ra dáng một người. Nhìn cái áo rách tả tơi, cái vai trái đẫm máu. Nhìn cái cành dẻ trong tay trái nó, cầm như cầm con cá rô, chặt vừa đủ để không tuột.

Đôi lông mày sắc như nét mực nhíu lại. Rồi giãn ra.

Khóe môi nàng nhếch lên. Rất khẽ. Khẽ tới mức nếu không phải đang nằm dưới đất ngước lên thì chẳng ai thấy.

"Mặt vẫn như đứa đào mả."

Mặt hồ phẳng lặng như gương,

Một câu khích bác, gươm vương sai đường.

Quỳ kia chưa hẳn cúi nhường,

Nhìn tay mới biết ai thương ai thù.

0