Quyển 2: Giáo
Chương 2: Tập
Bách Việt Hùng Đồ
Mục lục
38 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 38/38 chương
Ngày thứ ba, Nam Kha tỉnh dậy trước tiếng trống điểm canh và điều đầu tiên anh nhận ra không phải là đau mà là chỗ đau đã đổi. Hôm đầu tiên anh đau khắp người, đau một cách mù mờ, kiểu đau của cơ thể chưa hiểu mình vừa bị làm gì. Sáng nay cơn đau đã gom lại thành ba chỗ rõ ràng, vai trái nơi anh đỡ sai, bắp tay phải nơi anh giữ giáo lâu hơn sức chịu, và lưng dưới nơi mọi cú ngã đều đáp xuống. Anh nằm im một lúc nghe cái đau khu trú ấy, rồi hiểu rằng đó là dấu hiệu tốt, vì cơ thể đã bắt đầu biết chỗ nào phải chịu và chịu theo cách nào.
Anh bước ra khi trời còn xám. Ở khoảng sân đất nện trước ba lều, Mị Linh đã dựng xong một bia rơm bó chặt cắm trên cọc gỗ. Cách đó mười lăm bước là ba đứa trẻ trong nhóm Việt, đứa lớn nhất cũng chỉ trạc A Phúc, trong đó có một đứa con gái đứng ở đầu hàng, mỗi đứa cầm một cành cây vót nhọn thay cung. A Phúc ngồi bệt gần đó, vót thêm mấy cành nữa, chân đung đưa, thỉnh thoảng ngẩng lên xem đứa nào giương sai để cười một mình.
Mị Linh đi dọc hàng, cầm cổ tay từng đứa đặt lại cho đúng rồi lùi ra nhìn, rồi quay lại đặt tiếp. Cùng một động tác ấy, nàng lặp với một đứa gần hết một khắc. Nam Kha đứng nhìn và nhận ra suốt từ nãy nàng chưa nói lấy một câu. Không khen, không gắt, không đếm nhịp và khi đứa con gái đầu hàng giương đúng thì nàng cũng không nói gì cả mà chỉ bỏ qua và bước sang đứa bên cạnh. Cái im lặng ấy chính là lời khen và Nam Kha đoán rằng ba đứa trẻ kia đã hiểu ra điều đó từ trước anh.
Anh thấy lạ vì với người lớn thì nàng không kiên nhẫn được đến hết một câu, vậy mà với mấy đứa cầm cành cây thì nàng lặp đi lặp lại một động tác cả buổi mà không hề sốt ruột. Rồi anh nghĩ mình hiểu ra rằng nàng không kiên nhẫn với người, nàng kiên nhẫn với thứ chưa hỏng, vì người lớn thì phải phá thói quen sai trước khi dạy được, còn mấy đứa này chưa có gì để phá. Với nàng chúng không phải học trò mà là thứ nàng đang làm ra từ đầu. Nàng không ngẩng lên nhìn anh và anh cũng không gọi. Giữa hai người bây giờ đã có một thỏa thuận không ai nói ra, rằng nàng làm phần của nàng, anh làm phần của anh, và sự không cản đường lẫn nhau ấy đáng tin hơn bất cứ lời hứa nào.
Đăng ngồi trước cửa lều, mài lưỡi đại phủ bằng một hòn đá nhám, tiếng cọ đều và chậm trong cái yên tĩnh của buổi sớm.
Cây đại phủ ấy mới có từ hai hôm trước. Nam Kha không thấy Dĩnh Khảo Thúc đưa nó cho Đăng, anh chỉ thấy Đăng đi ra từ phía kho vũ khí lúc chạng vạng. Ông ta vác trên vai một thứ nặng trịch, cán gỗ dày, lưỡi rìu bè và dày hơn bất cứ thứ gì Nam Kha từng thấy người ta cầm bằng hai tay. Anh cũng chỉ đoán được lý do khi nhìn cách Đăng đặt nó xuống, ông đặt nhẹ, chỉnh lại cho cán nằm thẳng, kiểu người ta đặt một món đồ mà mình chưa dám coi là của mình. Cây giáo cũ Đăng mang theo từ trại nô lệ vẫn dựng trong lều, bọc vải như cũ. Nam Kha nghĩ rằng suốt bao nhiêu năm Đăng đã cầm sai vũ khí, cầm cây giáo ấy chỉ vì đó là thứ ông ta vớ được, bởi người sống trong xiềng xích thì không có quyền chọn thứ vừa tay mình.
"Nặng hơn nhiều."
Nam Kha nói rồi ngồi xuống cạnh.
"Nặng hơn thì đỡ phải đánh nhiều nhát."
Đăng đáp, vẫn mài, không ngẩng lên.
Lĩnh ra khỏi lều ngay sau đó. Đi cạnh cậu như mọi sáng là A Sơn. Cậu ta mười bảy tuổi, người Việt, nhưng không ra khỏi trại nô lệ cùng lượt với nhóm. A Sơn tự chạy tới ấp Dĩnh một mình từ trước khi họ đến, nằm lả ở rìa ấp vì đói, rồi được Dĩnh Khảo Thúc cho ở lại làm việc vặt theo đúng cái cách ông vẫn làm với người lạ, tức là không hỏi gì nhiều và cũng không hứa gì cả. Cậu gầy, tay dài, cười rộng, cười hết cỡ, như thể ai đó quên khóa cái cười ấy lại trong những năm cậu bị nhốt. Cầm giáo thì cậu vụng, đấu tập thua nhiều hơn thắng, nhưng tay cậu đan tre thì nhanh đến mức lính Trịnh đã bắt đầu mang giỏ rách sang nhờ vá giúp. Sáng nay cậu vừa đi vừa xoay trong tay một nan tre chưa vót xong, tiện đâu vót đó, không để tay rảnh bao giờ.
"Anh Kha."
Cậu gọi bằng tiếng Lạc Việt, giơ nan tre lên.
"Chiều em vá xong cái giỏ cho bếp."
Lĩnh liếc sang, không nói gì nhưng cậu ta đi chậm lại nửa bước để A Sơn theo kịp. Cái nửa bước ấy ở Lĩnh đã là nhiều rồi.
Doanh trại lúc họ xuống đến nơi không còn làm Nam Kha choáng như lần đầu và chính điều đó mới đáng chú ý. Anh đã biết lối nào dẫn ra sân tập, biết giá vũ khí nào là của tốp lính mới, biết chỗ nào phải tránh vì đó là đường của người mang lương. Cái thuộc đường ấy tuy nhỏ nhưng khiến anh bước khác đi, không còn dáng bước của khách nữa. Người ta thuộc về một nơi bắt đầu từ chỗ không phải hỏi đường.
Đội trưởng đón anh ở góc sân phía đông, vẫn người đàn ông có vết sẹo kéo từ thái dương xuống gần mép. Sáng nay Nam Kha mới biết tên ông ta khi một tên lính chạy qua gọi với:
"Đội trưởng Cơ, kho phát giáo mới rồi."
Cơ gật với tên lính, rồi quay lại nhìn Nam Kha từ đầu đến chân, dừng ở hai bàn tay đã phồng rộp và vỡ ra thành mấy vệt đỏ.
"Ngươi ngã bao nhiêu lần hôm qua?"
"Tôi không đếm."
"Ta đếm. Mười chín lần."
Cơ cắm cây giáo gỗ xuống đất.
"Mười chín lần mà ngã cách nào cũng như nhau thì ngã thêm trăm lần cũng vô ích. Hôm nay không tập đâm. Tập ngã."
Và ông ta dạy anh ngã, dạy thật, dạy như dạy một thế đánh. Thu cằm vào ngực để đầu không đập xuống, đập cả cẳng tay xuống đất trước chứ đừng chống thẳng khuỷu vì khuỷu sẽ gãy, xoay hông để lưng tiếp đất theo chiều nghiêng chứ đừng nằm phẳng vì phẳng thì phổi nghẹn. Cơ đẩy anh ngã, đợi anh dậy, rồi đẩy anh ngã tiếp, chừng ba mươi lần liền. Đến lần cuối, khi nam Kha đáp xuống mà lồng ngực không nghẹn, mà đứng dậy được ngay không phải nằm chờ hơi thở quay lại, ông ta gật đầu một cái.
"Được."
Chỉ một chữ, không khen thêm, nhưng Nam Kha nhận ra rằng suốt hai ngày trước Cơ chưa từng dùng lời với anh. Ông ta chỉ dùng cán giáo gõ vào chân, vào khuỷu, vào vai, mỗi cú gõ là một lệnh mà cơ thể phải tự hiểu. Bây giờ ông ta nói. Cái đổi từ gõ sang nói ấy không ai giải thích cho Nam Kha nhưng anh hiểu, vì nó giống hệt cách người ta chỉ bắt đầu giảng bài cho đứa học trò đã chứng minh được rằng nó sẽ còn ngồi lại trong lớp.
Đến hiệp đấu thật, tên lính trẻ đối diện anh vẫn không giữ tay chút nào. Nam Kha vẫn ngã nhưng lần này anh đỡ được ba nhịp trước khi ngã. Ba nhịp ấy so với hôm đầu tiên ngã trong chưa đầy mười tiếng đếm là cả một khoảng cách mà chỉ mình anh đo được.
Giữa hai hiệp, Dĩnh Khảo Thúc đi ngang sân, ông không dừng ở đâu quá lâu, thỉnh thoảng ném ra một câu cho tốp này tốp kia rồi bước tiếp. Ông không bao giờ nói đến câu thứ ba với cùng một người. Khi đi qua chỗ Nam Kha, ông dừng đúng nửa nhịp.
"Chân sau rộng hơn."
Rồi ông đi tiếp, không quay lại xem anh có sửa hay không. Nam Kha đứng đó chỉnh lại thế đứng, hiểu rằng ông không kiểm tra vì ông không cần kiểm tra. Bởi nếu anh sửa thì cú ngã sau sẽ đến muộn hơn, còn nếu anh không sửa thì cú ngã sau sẽ tự nói cho anh biết. Trong cả hai trường hợp thì người dạy đều đã làm xong phần của mình.
Ở hàng bên cạnh, một cậu lính Việt trẻ hơn A Sơn bị hất ngã sấp mặt xuống đất. A Sơn bỏ luôn hiệp đấu của mình, chạy sang đỡ cậu ta dậy, phủi bụi trên vai áo cho cậu ta, nói câu gì đó khiến cậu ta bật cười dù mũi đang chảy máu. Cơ quát một tiếng, quát vì bỏ vị trí giữa hiệp là lỗi nặng, và A Sơn cúi đầu nhận lỗi rồi chạy về chỗ và tiếp tục. Chừng nửa canh giờ sau, một người khác ngã và A Sơn lại bỏ vị trí chạy sang. Cơ quát lần nữa, lần này gằn hơn, còn A Sơn thì vẫn cúi đầu nhận, vẫn chạy về, vẫn không sửa được. Nam Kha đứng nhìn mà nghĩ rằng có những thứ không phải thói quen để bỏ mà là phản xạ mọc sẵn trong người, và người mang phản xạ ấy thì không tự gỡ ra được kể cả khi bị quát.
Sang giữa buổi sáng, Cơ nhìn Nam Kha, rồi nhìn sang góc sân phía tây, rồi hô một tiếng.
"Nghĩa. Sang đây."
Cậu thanh niên ở góc sân xa quay lại. Nam Kha nhận ra ngay, vì đó chính là cái bóng mảnh khảnh anh đã thấy hai hôm trước, người tập một mình, đúng từng thế mà thiếu lực. Người đã gọi một tiếng "cha" giữa sân đông và nhận lại một cái gật đầu không dừng bước. Bây giờ anh mới biết cậu tên Nghĩa.
Cơ chỉ hai người, nói gọn một câu duy nhất:
"Hai đứa ngang nhau. Đánh với nhau."
Và họ đánh với nhau, ngang nhau thật, ngang đến mức trận đấu buồn cười. Cả hai đều đâm hụt như nhau, đều mất thăng bằng ở đúng cái nhịp thứ tư như nhau, đều ngã, đều đứng dậy. Trong hiệp thứ ba, khi Nam Kha bị hất ngửa và đáp xuống đúng cách Cơ vừa dạy, Nghĩa chìa tay xuống kéo anh dậy.
Đó là lần đầu tiên trong ba ngày có người ở doanh trại này chìa tay cho anh thay vì nói "đứng dậy".
"Ngươi biết ngã rồi."
Nghĩa nói, thở dốc, hất cằm về phía Cơ.
"Ông ấy dạy đúng câu đó với ta năm ta mười ba tuổi. Thu cằm, đập tay trước."
"Ngươi tập ở đây từ mười ba tuổi?"
"Từ khi cha cho ta ra sân."
Nghĩa nhặt cây giáo của mình lên, phủi đất ở cán. Cậu nói câu tiếp theo bằng giọng rất bình thường, bình thường đến mức Nam Kha phải mất một nhịp mới nghe ra cái ý nằm dưới nó.
"Ta ra sân từ mười ba tuổi. Bây giờ ta đánh ngang một kẻ mới cầm giáo được ba hôm."
Cậu quay đi vào vị trí trước khi Nam Kha kịp đáp. Cũng may là kịp, vì Nam Kha không biết phải đáp thế nào. Ở một buổi chiều nào đó rất xa nơi này, anh đã ngồi trong giảng đường nghe điểm mình đọc lên giữa lớp, thấp hơn đứa bạn ngồi cạnh đúng nửa điểm. Cái nửa điểm ấy anh mang về nhà nhai đi nhai lại suốt một tuần.
Anh bị đánh ngã thêm hai lần nữa trước giờ nghỉ. Ở lần thứ hai, khi nằm ngửa trên nền đất nhìn lên khoảng trời trắng đục, trong đầu anh bật lên một câu mà thầy dạy môn Cổ sử Trung Hoa từng nói. Giọng thầy thong thả và có phần thích thú nói rằng thời Xuân Thu người ta còn trọng lễ, quý tộc coi chiến đấu là một thứ nghệ thuật, đánh nhau còn nhường nhau ba bước, còn hỏi tên nhau trước khi giao chiến. Cả lớp hôm đó gật gù và bản thân anh còn ghi câu ấy vào vở, gạch chân, thấy nó hay, thấy nó thanh cao, thấy nó khác hẳn cái tàn bạo của những thời sau. Bây giờ nằm đây, mặt dính đất, vai buốt, nghe tiếng gỗ đập vào thịt người vọng đều từ khắp bốn góc sân, anh hiểu rằng cái nghệ thuật ấy là nghệ thuật giết người sao cho đẹp. Người ta chỉ gọi nó là nghệ thuật khi đứng cách nó ba nghìn năm, còn ở khoảng cách một bước chân thì nó chỉ có bụi, mồ hôi và cái tiếng khô khốc khi một cây gỗ chạm vào xương sườn ai đó.
Gần trưa, tiếng trống đổi nhịp.
Không phải nhịp gọi nghỉ, cũng không phải nhịp đổi hiệp, mà là ba tiếng rời nhau chậm. Cả sân tập ngừng lại cùng một lúc, tất cả các tốp lính, tất cả các góc, không ai bảo ai. Nam Kha hạ giáo xuống, quay đầu nhìn ra giữa sân và thấy Dĩnh Khảo Thúc đang bước ra đó, tay cầm một cây trường mâu, không mang giáp, tay áo xắn đến khuỷu.
Đăng đã đứng sẵn ở phía đối diện, đại phủ vác trên vai.
Nam Kha nhìn quanh và trong một thoáng cái đầu quen phân tích của anh chạy trước cảm xúc. Giờ này là giờ duy nhất trong ngày mà toàn bộ các tốp lính đều có mặt trên sân, tốp tập đội hình vừa vào, tốp gác đêm vừa đổi ca ra, tốp mới chưa đi ăn. Sớm hơn nửa canh giờ thì thiếu một nửa, muộn hơn thì mọi người đã tản đi lấy cơm. Người chọn giờ này không chọn ngẫu nhiên.
Rồi nhát đầu tiên giáng xuống và anh không kịp nghĩ gì thêm.
Tiếng đại phủ chạm trường mâu không giống bất cứ âm thanh nào Nam Kha nghe trên sân tập ba ngày qua. Không phải tiếng lách cách của giáo gỗ mà là một tiếng rền trầm, truyền qua mặt đất tới tận bàn chân anh đứng cách mười bước. Nhát thứ hai, thứ ba. Cán trường mâu rung bần bật trong tay Dĩnh Khảo Thúc khi ông đón trực diện lực chém. Ông không né sang bên, không xoay người tránh, chỉ chặn. Tiếng gỗ nghiến vào gỗ kêu răng rắc, bụi bốc lên thành vệt mỏng trong nắng và gió từ mỗi cú vung ngang đủ mạnh để Nam Kha cảm thấy trên mặt mình dù đứng xa.
Không có động tác nào đẹp, không có cú xoay nào thừa, không có thế thủ nào để nhìn, chỉ có sức va vào sức. Mỗi nhát của Đăng mang theo trọng lượng đủ chẻ một thân cây và mỗi cú đỡ của Dĩnh Khảo Thúc là một khối đá đặt chắn ngang đường đi của khối đá kia.
Mười nhát rồi hai mươi nhát. Lính đứng vòng quanh đã bắt đầu đếm, đếm khẽ, rồi to dần. Nam Kha cũng đếm, nhưng anh đếm một thứ khác, và đến nhát thứ hai mươi thì cái thứ ấy đã rõ đến mức anh không nhìn Đăng nữa mà chỉ nhìn Dĩnh Khảo Thúc.
Ông không đánh trả, không một lần. Suốt hai mươi mấy nhát, ông chỉ đỡ, chỉ chặn, chỉ đẩy ngược. Nhịp thở của ông chậm và sâu ngay từ đầu đến giờ vẫn chậm và sâu như thế, trong khi Đăng đã thở gấp từ nhát thứ mười hai.
Đến nhát thứ ba mươi, cây trường mâu chặn ngang cán đại phủ và giữ nguyên tại chỗ. Hai người khóa vũ khí vào nhau, mắt nhìn thẳng vào mắt, đứng đúng một nhịp thở. Rồi Dĩnh Khảo Thúc là người lùi lại trước, hạ mâu xuống, thở ra một hơi dài.
"Được."
Đăng hạ rìu xuống theo ngay lập tức, không thêm một nhát nào, không bước thêm nửa bước.
Vòng người vỡ ra thành tiếng ồn. Giữa tiếng ồn ấy Dĩnh Khảo Thúc quay sang Cao Cát, người đứng khoanh tay ở rìa sân từ lúc nào mà Nam Kha không hề để ý.
"Mạnh thì ta biết từ hôm kia rồi."
Ông nói, giọng bình thản, tay gãi cằm.
"Hôm nay ta xem nó có biết dừng không."
"Hắn biết."
Cao Cát đáp ngắn như mọi khi.
"Ừ."
Dĩnh Khảo Thúc nhìn về phía Đăng đang lau mồ hôi bằng vạt áo ở góc sân, lưng vẫn thẳng.
"Mạnh mà không biết dừng thì để ở nhà. Mạnh mà biết dừng thì đem ra trận được."
Nam Kha đứng đó. Trong đầu anh mọi mảnh ghép vừa khớp vào nhau một lượt.
Ba mươi nhát ấy Dĩnh Khảo Thúc có thể kết thúc ở nhát thứ năm. Ông không thiếu gì để kết thúc nó, ông chỉ chọn không kết thúc, chọn đứng đó chặn hết ba mươi nhát để cả doanh trại có đủ thời gian đếm cho hết, để mọi cú vung trong mắt người xem đều là cú vung của Đăng chứ không phải của ông. Ông không đấu mà ông trưng bày. Và thứ ông trưng bày không phải sức mạnh của Đăng mà là một câu trả lời gửi cho cả cái sân tập này, cho từng người lính vẫn đang nhìn nhóm người Việt mới đến như nhìn một gánh nặng phải chịu đựng. Câu trả lời rằng đám người này không phải gánh nặng, đám người này đứng được ba mươi nhát trước mặt ta.
Ở đại học, khi đọc về Dĩnh Khảo Thúc, Nam Kha chỉ nhớ mấy chữ mãnh tướng và trọng nghĩa. Trong đầu anh khi đó hình dung ra một người to lớn cầm vũ khí lao lên trước hàng quân. Không cuốn sách nào nói rằng người ấy hiểu binh lính của mình đến mức biết rằng lời nói không làm hai nhóm người xa lạ dính vào nhau được. Thứ làm được thì phải cho họ cùng đứng xem một lần.
Anh cúi xuống nhặt cây giáo gỗ của mình lên. Suốt buổi chiều hôm ấy, mỗi lần đáp lưng xuống đất, thứ hiện lên trong đầu anh lại là hình ảnh người đàn ông đứng chặn ba mươi nhát liền mà nhịp thở không đổi lấy một lần.
Buổi trưa, không khí trên sân đã khác. Vài tên lính trẻ chủ động sang chỗ Đăng, hỏi cầm đại phủ thì đặt tay chỗ nào, chém xuống thì hông xoay bao nhiêu. Đăng trả lời bằng những câu ba bốn chữ, chỉ tay vào cán rìu, chỉ vào bàn chân, nhưng họ vẫn đứng vòng quanh nghe. Cái vòng người ấy nói nhiều hơn mọi câu Đăng không nói. Lĩnh được xếp tập cùng một nhóm nhỏ lính Trịnh mà không ai xua đi. Cậu vẫn đứng cứng đờ như mọi khi, vẫn gồng vai như một cái phản xạ không tắt được. Nhưng có một khoảnh khắc rất ngắn khi cậu đỡ trúng một đòn đâm và tên lính bên cạnh vỗ vai khen, vai cậu hạ xuống một chút, chỉ một chút, gần như không thấy được nếu không nhìn kỹ.
Nhóm Việt tụ dưới gốc cây ở rìa sân chia nhau phần cơm nắm mang theo. A Sơn ngồi bệt xuống cạnh Lĩnh, ăn hết phần của mình nhanh gọn rồi rút từ trong áo ra một bông lúa khô nhỏ và dẹp, đã ngả nâu vì để lâu. Cậu xoay nhẹ giữa hai ngón tay như người ta xoay một cây tăm.
"Cái gì vậy?"
Nam Kha hỏi.
"Lúa ở nhà."
A Sơn cười, cái cười rộng quen thuộc, rồi cất bông lúa lại vào trong áo, vỗ nhẹ lên chỗ vừa cất, và quay sang tiếp tục vót cái nan tre dở từ sáng.
Nam Kha gật đầu, không hỏi thêm, vì bên kia sân đội trưởng Cơ đã bắt đầu gọi các tốp vào hàng. Trong suốt cả buổi chiều hôm ấy, cũng như trong suốt nhiều ngày sau đó, anh không nghĩ đến bông lúa khô ấy thêm một lần nào nữa.
Nghĩa mang phần cơm của mình sang ngồi cùng nhóm Việt một cách tự nhiên, không ai mời và cũng không ai cản. Cậu ta ngồi ở mép ngoài cùng ăn im lặng, nghe A Sơn kể chuyện đan rổ bằng thứ tiếng cậu không hiểu một chữ nào.
Buổi chiều trôi qua như buổi sáng, ngã và đứng dậy, ngã và đứng dậy, nhưng đến cuối ngày Nam Kha ngã ít hơn buổi sáng bốn lần. Đội trưởng Cơ không nói gì về chuyện đó, ông ta chỉ đổi đối thủ của anh sang một tên lính khác cao hơn, nặng hơn, đánh nhanh hơn. Nam Kha hiểu rằng lời khen ở nơi này có hình dạng như vậy, không nằm trong câu nói mà nằm trong việc người ta tăng mức khó cho anh.
Trời sẩm tối thì bếp doanh trại nhóm lửa. Dĩnh Khảo Thúc đến ngồi ăn cùng mấy đội trưởng, và ông vẫy tay gọi Nam Kha và Đăng lại, chỉ hai chỗ trống trên chiếu cói trải dưới đất. Cơm gạo thô, một bát canh rau nấu loãng, muối hạt to đựng trong cái khay tre mà Nam Kha nhận ra ngay là do A Sơn đan.
Ông để Nam Kha ăn hết nửa bát rồi mới hỏi đột ngột, như mọi câu ông hỏi.
"Ba hôm rồi. Biết cầm giáo chưa?"
Nam Kha đặt bát xuống. Anh nghĩ đến việc trả lời cho hay, nghĩ đến mấy cách nói khiêm tốn vừa đủ mà anh đã dùng cả đời trong các buổi vấn đáp. Rồi anh bỏ hết, vì ngồi trước người này thì mọi cách nói cho hay đều lộ ra như một cái áo rộng quá khổ.
"Chưa."
Anh nói.
Dĩnh Khảo Thúc gật đầu và trong cái gật ấy có một thứ gần với hài lòng.
"Biết là chưa biết thì đã hơn phần lớn người trong trại này."
Ông xới thêm cơm vào bát mình chậm rãi.
"Nhưng ta hỏi ngươi câu khác. Ngươi cầm giáo ba hôm, ngã ba hôm, tay rách ra rồi. Ngươi có biết vì sao phải cầm không?"
Nam Kha mở miệng. Trong đầu anh đã có sẵn một câu, một câu tử tế và hợp lý về chuyện tự vệ, về chuyện bảo vệ người đi cùng mình. Anh biết ngay khi định nói ra rằng đó là câu trả lời của một người đã đọc về câu hỏi này chứ chưa từng bị nó hỏi.
Dĩnh Khảo Thúc không chờ. Ông húp một ngụm canh, đặt bát xuống, nhìn thẳng vào Nam Kha, rồi nói với giọng bình thản như đang bàn chuyện thời tiết.
"Mai ta lên triều. Ngươi theo ta."
Rồi ông quay sang nói chuyện với đội trưởng Cơ về việc phát giáo mới cho tốp lính vừa bổ sung. Câu hỏi kia nằm lại đó, giữa chiếu cói và mấy cái bát, không ai nhắc tới nữa.
Nam Kha ngồi thêm một lúc, bát cơm còn ấm trong hai bàn tay rách da. Anh hiểu rằng ông không hề bỏ dở câu hỏi. Ông đã giao nó xong, giao đúng cách ông đã giao bốn chữ "chân sau rộng hơn" trên sân tập sáng nay. Ông chỉ ném ra một mảnh ghép rồi để người nghe tự đi tìm phần còn lại. Lần này phần còn lại nằm ở một nơi không có sân tập nào cả, không có giáo, không có cát bụi, một nơi mà người ta cũng đánh nhau mỗi ngày nhưng không ai ngã xuống đất.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.