Quyển 2: Giáo
Chương 6: Tin Từ Kinh
Bách Việt Hùng Đồ
Mục lục
38 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 38/38 chương
Tin đến vào buổi sáng, mang theo mùi bụi đường và mồ hôi ngựa. Nam Kha đang ngồi ở góc sân tập, anh đang lau thanh giáo gỗ sau buổi luyện sáng với Nghĩa. Hai người vừa đấu ba hiệp mà Nam Kha thua cả ba, thua vì Nghĩa nhanh hơn anh một nhịp ở pha đổi hướng, cái nhanh hơn ấy không lớn nhưng đủ để mũi giáo gỗ chạm vào ngực Nam Kha trước khi anh kịp gạt ra. Mỗi lần bị chạm, anh đều nghe tiếng Nghĩa thở phào khẽ như thể vừa vượt qua được một bài kiểm tra nào đó mà chỉ cậu tự đặt ra cho mình. Mồ hôi chưa kịp ráo trên trán thì một cỗ xe nhẹ lao từ ngoài cổng trại vào, hai con ngựa kéo thở phì phì, bọt trắng dính hai bên mõm. Tên lính trên xe nhảy xuống, chạy thẳng về phía lều chỉ huy, mặt đỏ bừng, bước chân vội đến mức suýt va vào giá giáo dựng ở đầu sân.
Cả doanh trại chưa ai biết tin gì nhưng không khí đã đổi. Nam Kha nhận ra điều ấy trước khi có bất cứ ai nói một lời. Anh nhận ra bằng cách lính gác ở cổng nghiêng người nhìn theo cỗ xe rồi quay sang nhìn nhau, bằng cách đội trưởng Cơ đang hướng dẫn đám tân binh tập đội hình bỗng dừng lại giữa chừng. Ông ta đưa mắt về phía lều chỉ huy rồi bảo đám lính nghỉ, giọng gấp hơn bình thường. Những thay đổi nhỏ thoáng qua, kiểu thay đổi mà nếu ở đại học anh đọc trong sách thì sẽ bỏ qua. Nhưng ở đây, sau mấy tuần sống trong doanh trại, anh đã học được rằng doanh trại là một cơ thể sống. Và khi cơ thể ấy căng lên đồng loạt, dù chỉ một chút, thì nghĩa là có thứ gì đó đang đến.
Nghĩa cũng cảm nhận được, cậu đặt giáo xuống, nhìn về phía lều chỉ huy, mắt hơi nheo lại.
"Tin từ Kinh."
Cậu nói nhỏ, không phải đoán mà gần như khẳng định. Khi Nam Kha nhìn cậu hỏi sao biết, Nghĩa chỉ lắc đầu ngắn.
"Kỵ binh từ hướng đông nam. Chỉ có tin từ Kinh mới đi hướng đó."
Nam Kha ghi nhận. Không phải vì thông tin đó lớn mà vì cái cách Nghĩa nói ra tự nhiên và quen thuộc, kiểu đứa trẻ lớn lên trong doanh trại biết đọc hướng gió từ trước khi biết đọc chữ.
Nửa canh giờ sau, Dĩnh Khảo Thúc ra lệnh triệu tập. Họ đứng thành vòng bán nguyệt trước lều chỉ huy. Không phải toàn bộ doanh trại mà chỉ đội trưởng các đội, Cao Cát và vài người Dĩnh Khảo Thúc tin dùng. Trong đó có Nam Kha, dù anh hiểu mình đứng ở đây không phải vì Dĩnh Khảo Thúc tin anh nhiều mà vì ông ta cần người biết tính, biết chữ. Và anh là một trong những ngườ trong ấp Dĩnh vừa biết Nhã ngữ đủ sâu vừa biết tính hậu cần đủ nhanh để Khảo Thúc không phải giải thích hai lần. Đăng lặng lẽ đứng phía sau Nam Kha, hai tay khoanh trước ngực, mắt nhìn Khảo Thúc chứ không nhìn ai khác. Cái nhìn ấy không phải ngưỡng mộ cũng không phải phục tùng, mà là nhìn của một người đang đánh giá bằng bản năng chiến binh, xem người trước mặt xử lý tình huống như thế nào.
Dĩnh Khảo Thúc đứng trước mặt mọi người, tay cầm mấy thẻ tre, giọng bình thường, không cao không thấp, không nhanh không chậm. Như thể ông đang nói về việc phân bổ lương thảo hàng tuần chứ không phải chuyện một kẻ đang mộ quân chuẩn bị nổi loạn.
"Cộng Thúc Đoạn mở rộng đất phong vượt quy định."
Ông nói rồi đặt thẻ tre đầu tiên xuống bàn gỗ thấp trước mặt.
"Thu thuế riêng ở ba ấp phía nam Kinh, không nộp về triều đình. Mộ binh, con số chưa rõ, nhưng không dưới hai nghìn."
Đội trưởng Cơ hít vào. Hai nghìn không phải con số nhỏ, với quy mô ấp Kinh thì đó gần như là cả sức người. Mộ được hai nghìn nghĩa là Đoạn đã hứa hẹn đủ nhiều, đủ lớn để dân ấp chịu buông cuốc cầm giáo, nghĩa là hắn không chỉ tự tin vào bản thân mà còn khiến người ta tin vào hắn.
Dĩnh Khảo Thúc đặt tiếp thẻ thứ hai.
"Liên kết với một số đại phu bất mãn ở triều đình. Chưa biết ai, nhưng hắn đang nhận lương thảo từ nguồn ngoài ấp Kinh. Lý Trực đang xác minh."
Nam Kha nghe đến tên Lý Trực thì tai dựng lên, không phải vì bất ngờ mà vì anh biết Lý Trực đã đi khỏi ấp Dĩnh từ ba ngày trước. Ông ta nói là đi giao hàng cho Doãn Phúc, nhưng Nam Kha hiểu rằng "giao hàng" ở thời đại này đồng nghĩa với thu thập tin. Mạng lưới thương nhân của Lý Trực, mạng lưới chạy dọc các tuyến buôn bán giữa các ấp, chính là hệ thống tình báo hiệu quả nhất mà không ai gọi là tình báo, vì ai cũng nghĩ đó chỉ là mấy ông lái buôn tán gẫu bên chén rượu.
"Triều đình biết rồi."
Dĩnh Khảo Thúc nói tiếp, giọng không đổi.
"Hôm qua, đại phu Tế Túc đã trình lên chúa công."
"Chúa công nói sao?"
Đội trưởng Cơ hỏi.
Dĩnh Khảo Thúc liếc Cơ rồi nhìn ra xa ngoài vòng người, ngoài hàng rào, về phía những cánh đồng lúa bắt đầu ngả vàng dưới nắng sáng. Rồi ông im lặng một lúc trước khi trả lời.
"Chúa công nói Đoạn là em, ông phải dạy trước khi phạt và chưa đến lúc."
Câu ấy rơi xuống vòng người như một hòn đá rơi xuống mặt nước tĩnh. Nam Kha cảm nhận được từng gợn sóng lan ra: đội trưởng Cơ gật đầu thành kính, vài người trẻ thở phào vì nghĩ chúa công nhân từ. Và có một vài ánh mắt ít hơn, kín hơn, trao đổi nhanh giữa những người đã đánh đủ trận để biết rằng "chưa đến lúc" không giống "sẽ không đánh".
Dĩnh Khảo Thúc thuộc nhóm thứ hai. Nam Kha biết vì mắt ông không thay đổi khi nói câu ấy. Mắt ông phẳng lặng và vững, kiểu mắt của người đã nghe câu này rồi, đã nhai nó trong đầu rồi, đã hiểu ý phía sau rồi và đã quyết định rằng hiểu là đủ, không cần bình luận.
Nhưng Nam Kha không phải người Xuân Thu. Anh là sinh viên năm tư đã từng ngồi trong giảng đường nghe thầy giáo phân tích câu nói chính xác này, câu "Đoạn là em ta, ta phải dạy trước khi phạt". Thầy giáo đã gạch chân bằng bút đỏ rồi nói với cả lớp:
"Đây là bài diễn xuất chính trị hoàn hảo nhất trong Tả Truyện, Trang Công không nhẫn nhịn vì yêu em, ông nhẫn nhịn vì cần Đoạn phạm đủ tội để thiên hạ không ai bênh được. Mỗi ngày Đoạn lớn thêm là mỗi ngày Trang Công thêm một dòng vào bản cáo trạng."
Nam Kha nhớ mình đã ghi chép đoạn đó, ghi bằng bút bi xanh trên vở kẻ ngang, có vẽ thêm một mũi tên ngoài lề chỉ vào chữ "diễn xuất" gạch dưới hai lần. Bây giờ anh đứng đây, trong cái doanh trại bốc mùi đất ẩm và mồ hôi, nghe chính câu nói ấy được truyền lại qua miệng Dĩnh Khảo Thúc. Mỗi chữ đều khớp, khớp đến mức anh gần như nghe thấy tiếng bút đỏ của thầy giáo kẹt trên bảng trắng.
Tay anh nắm chặt lại bên hông rồi buông, rồi nắm lại.
Ông ta đang diễn. Trang Công đang diễn cho cả nước xem. Và Dĩnh Khảo Thúc, người vừa kể cho anh nghe đêm qua rằng nghĩa khí không cần người xứng đáng dùng nó, người ấy sẽ cầm giáo ra trận vì một vở diễn mà ông biết là vở diễn nhưng vẫn chọn đóng vai của mình.
Anh nuốt nước bọt, cổ họng hơi khô.
Buổi họp tan, đám đội trưởng tản đi lo việc riêng và Nam Kha đi tìm Cao Cát.
Ông đang ở trong lán nhỏ phía đông doanh trại, nơi mà lính gọi là "kho giấy" dù bên trong không có mảnh giấy nào. Nơi đó chỉ có thẻ tre, mấy chục bó xếp thành hàng gọn ghẽ đến mức cứng nhắc. Cao Cát ngồi giữa, trước mặt trải ra một mớ thẻ tre mới, mỗi thẻ ghi vài chữ ngắn gọn bằng loại mực đen mà ông tự mài, ánh sáng từ kẽ mái lọt vào chiếu thành vệt ngang trên tay ông. Mùi tre khô trộn mùi mực quen thuộc tràn ngập trong cái không gian nhỏ ấy.
Nam Kha ngồi xuống đối diện chờ.
Cao Cát không ngẩng lên, tay vẫn lướt qua các thẻ tre. Nhưng ông nói với giọng phẳng.
"Ngươi nghe Khảo Thúc nói rồi."
"Rồi."
"Ngươi nghĩ sao?"
Nam Kha do dự một giây, không phải vì không biết nghĩ gì mà vì không biết nên nói bao nhiêu. Với Cao Cát, nói quá ít thì ông coi là lười, nói quá nhiều thì ông coi là khoe. Cái khoảng vừa đủ ở giữa rất hẹp, hẹp đến mức mỗi lần nói chuyện với ông, Nam Kha đều có cảm giác đang đi trên một sợi dây mà hai bên không phải vực sâu mà là sự im lặng kéo dài. Kiểu im lặng của Cao Cát khi ông quyết định rằng người trước mặt không đáng nghe nữa.
"Đoạn mộ hai nghìn quân."
Nam Kha nói. Anh chọn lối vào bằng con số vì với Cao Cát con số luôn đáng tin hơn quan điểm.
"Nhưng nuôi hai nghìn quân tốn bao nhiêu?"
Cao Cát ngẩng lên lần đầu tiên kể từ khi Nam Kha ngồi xuống. Mắt ông dừng ở Nam Kha lâu hơn một nhịp thở, kiểu mắt nhận ra câu hỏi đáng nghe. Ông đặt thẻ tre xuống, lấy từ đống bên phải ra năm thẻ khác xếp thành hàng ngang trước mặt Nam Kha. Mỗi thẻ ghi một thứ: gạo, muối, vải, gỗ, sắt.
"Đoạn mộ hai nghìn quân."
Ông nói rồi gõ vào thẻ gạo.
"Mỗi người ăn ba bữa, mỗi bữa tối thiểu hai chén gạo nấu. Một ngày sáu chén. Hai nghìn người, mười hai nghìn chén. Một tháng, ba trăm sáu mươi nghìn chén."
Ông ngừng một nhịp nhìn Nam Kha.
"Ấp Kinh sản xuất bao nhiêu?"
Nam Kha không biết con số chính xác nhưng anh nhớ từ lần Doãn Phúc kể về sản lượng các ấp khi họ tính toán tuyến buôn muối. Rồi anh ước lượng.
"Ấp Kinh gặt xong từ mùa thu năm ngoái, tới giờ đã ăn gần hết. Sản lượng đủ nuôi dân bình thường cộng dự trữ một vụ, nhưng không đủ nuôi thêm hai nghìn quân ăn không làm, mà lúa ngoài đồng thì còn chưa chín."
"Đúng."
Cao Cát nói. Chữ "đúng" từ miệng ông vẫn nặng đúng như lần đầu tiên Nam Kha nghe ông nói. Ông không khen mà chỉ xác nhận, nhưng cái xác nhận ấy đáng giá hơn mười lời khen từ người khác.
"Đoạn mộ hai nghìn binh nhưng lương chỉ nuôi được khoảng một nghìn rưỡi trong hai tháng. Sau hai tháng nếu không đánh thì quân đói, mà quân đói thì tan."
Ông gõ vào thẻ gạo thêm một lần nữa, chậm hơn.
"Bây giờ là lúc lúa cũ đã hết mà lúa mới chưa chín. Kho nào cũng cạn. Kho hắn cạn thì kho chúa công cũng cạn."
Ông ngẩng lên.
"Hắn không chờ nổi tới vụ gặt vì hai nghìn cái miệng ăn không làm thì tan trước khi lúa vàng. Còn chúa công thì cũng không đủ gạo nuôi quân giữ thành lâu. Kẻ nổi loạn chọn tháng này không phải vì gan. Hắn chọn vì đây là tháng duy nhất trong năm mà thành nào cũng đói ngang nhau."
Ông gõ vào thẻ muối.
"Muối cũng thiếu. Ấp Kinh không có tuyến muối riêng mà phải mua qua thương nhân. Và thương nhân bán cho ai có tiền."
Nam Kha nhìn năm thẻ tre xếp hàng, mỗi thẻ đại diện cho một thứ mà quân đội cần. Anh nhận ra rằng Cao Cát đang đọc cuộc chiến sắp tới không phải bằng binh thư, không phải bằng chiến thuật hay mưu kế, mà bằng gạo, bằng muối, bằng vải, bằng sắt, bằng những thứ nhỏ nhặt nhất và thiết yếu nhất mà sách sử không bao giờ chép. Đơn giản vì sử quan chỉ chép ai thắng ai thua chứ không chép ai hết gạo trước. Và cách đọc ấy, kỳ lạ thay, gần với cách ông thầy dạy kinh tế ở đại học anh giảng hơn bất cứ mưu sĩ nào trong Tả Truyện hay Chiến Quốc Sách, kiểu người không nhìn quân cờ trên bàn mà nhìn cái bàn được làm bằng gì, bao nhiêu tiền, ai trả, ai nợ.
"Lương thiếu thì hắn phải lấy từ đâu?"
Nam Kha nói, nửa hỏi nửa nghĩ to.
Cao Cát không trả lời ngay. Ông lấy thêm một thẻ tre đặt cạnh năm thẻ kia, thẻ này không ghi chữ mà vạch một ký hiệu mà Nam Kha nhận ra là cách Cao Cát đánh dấu "nguồn ngoài". Kiểu ông ghi từ hồi tính sổ cho Doãn Phúc, khi có một khoản tiền vào mà không rõ từ đâu.
"Lý Trực đang xác minh."
Cao Cát nói. Cái cách ông nói "đang xác minh" mang một thứ trọng lượng riêng, kiểu trọng lượng của người biết câu trả lời nhưng chưa muốn nói vì chưa đủ bằng chứng.
"Nhưng ta nghi ngờ có người cung cấp lương thảo cho Đoạn từ ngoài ấp Kinh, qua trung gian, không để tên."
Nam Kha im lặng. Vì trong đầu anh, một cái tên đã nhảy lên rõ ràng như đèn neon trong đêm.
Tào Thiệu.
Anh không nói ra vì chưa có bằng chứng. Anh đã học đủ từ Cao Cát để biết rằng nói một cái tên khi chưa có bằng chứng thì không phải phân tích mà là vu cáo. Nhưng logic thì rõ ràng rồi, Tào Thiệu là thương nhân lớn nhất vùng, hắn buôn mọi thứ, hắn có tuyến vận chuyển riêng, hắn đã từng cung cấp hàng cho cả hai bên trong cuộc cạnh tranh giữa Doãn Phúc và hắn. Nếu hắn đặt cược cả hai bên trong chuyện kinh doanh nhỏ thì không có lý do gì hắn không làm y vậy trong chuyện chính trị lớn. Đoạn thắng thì hắn có chỗ trong triều đình mới, Trang Công thắng thì không ai chứng minh được gì. Mọi giao dịch đều qua trung gian và trung gian thì biến mất nhanh hơn mực trên tre ướt mưa.
Anh nhớ bài giảng hồi năm ba, thầy chiếu slide về cách tập đoàn lớn đóng tiền cho cả hai đảng, đảng nào thắng cũng không mất vì mất tiền tài trợ thì nhỏ, mất quan hệ với quyền lực thì lớn. Hai mươi bảy thế kỷ, cùng một logic.
"Ông có nghĩ đến ai không?"
Nam Kha hỏi cẩn thận.
Cao Cát nhìn anh. Mắt ông không đổi, nhưng khóe miệng ông hơi co lại rất nhẹ, kiểu người vừa nghe đúng câu mình đang nghĩ mà không muốn khen.
"Nghĩ thì nghĩ. Nói thì đợi Lý Trực về."
Buổi chiều, Nam Kha đi ra khu nhóm Việt ở phía tây doanh trại, nơi mà sau mấy tháng ở ấp Dĩnh, nhóm đã có một khoảnh đất riêng. Khoàng đất không lớn, chỉ đủ ba lều nhỏ và một khoảng sân đất nện trước mặt nơi Mị Linh hay dạy mấy người Việt trẻ bắn cung.
Mị Linh đang ở đó, đứng cách bia rơm mười lăm bước, tay chỉnh lại tư thế cầm cung cho một cậu trai trẻ hơn A Phúc vài tuổi. Vẫn là thứ kiên nhẫn ở nàng mà Nam Kha đã thấy lần đầu trên khoảnh sân này hồi anh mới bắt đầu xuống sân tập, thứ kiên nhẫn nàng không bao giờ dành cho người lớn. Nàng thấy Nam Kha thì gật đầu ngắn rồi quay lại cậu học trò, nói bằng tiếng Lạc Việt, giọng phẳng nhưng không lạnh.
"Kéo đến tai. Không phải đến cằm."
Cậu trai kéo lại và bắn, mũi tên cắm vào rìa bia, lệch một gang tay. Mị Linh nhìn, không khen không chê, chỉ nói:
"Làm lại."
Và cậu trai lại kéo, như thể từ "làm lại" của Mị Linh mang một thứ trọng lực riêng mà không ai muốn cãi. Nam Kha đứng nhìn, anh biết rằng chừng nào nàng còn mở miệng thì nghĩa là còn sai, và đến ngày cậu trai kia bắn trúng thì nàng sẽ không nói gì cả.
A Sơn đang ngồi trước lều cạnh Lĩnh, hai người đang sửa lại một cái rổ tre bị gãy nan. Nam Kha đứng nhìn một lúc, nhìn cái nhịp luồn nan vào khung đều và nhanh đến mức mắt không bắt kịp lúc nào nan vào lúc nào nan ra. Cái nhịp mà cậu giữ được cả khi đang ngẩng lên nói chuyện, cả khi không hề nhìn xuống tay mình. Lĩnh ngồi cạnh im lặng như mọi khi, vai cậu gồng hơn mọi khi vì Lĩnh luôn gồng khi có chuyện. Hôm nay cả doanh trại đều biết có tin từ Kinh nên vai Lĩnh gồng.
"Anh Kha."
A Sơn ngẩng lên, gọi bằng tiếng Lạc Việt rồi cười.
"Anh ngồi chứ? Em sửa xong rổ rồi cho anh."
Nam Kha ngồi xuống. Anh chưa kịp nói gì thì A Sơn đã đưa cho anh cái rổ vừa sửa xong, mắt sáng lên kiểu người vừa hoàn thành một tác phẩm.
"Anh coi chắc không? Em đan lại cả đáy, bền hơn mấy cái rổ lính Trịnh đan."
Nam Kha cầm lên bấm thử. Anh phải thừa nhận rằng cái rổ tre của một cậu bé mười bảy tuổi người Việt chắc hơn bất cứ thứ gì doanh trại Trịnh sản xuất. A Sơn cười khi thấy Nam Kha gật đầu, cái cười rộng không giấu, kiểu cười của người mà niềm vui lớn nhất trong ngày là một cái rổ đan đẹp. Lĩnh liếc sang, cậu không cười nhưng khóe miệng hơi giật, kiểu người muốn cười mà không cho phép mình cười vì đang gồng.
Nam Kha cân nhắc nên nói bao nhiêu.
"Có tin từ Kinh."
Nam Kha nói.
"Đoạn sẽ phản. Mình sẽ đánh."
Lĩnh nghe thì vai gồng thêm nhưng không nói gì.
A Sơn dừng tay đan. Cậu nhìn xuống cái rổ dở dang, rồi nhìn lên Nam Kha. Mắt cậu sáng và trong, kiểu mắt của người chưa biết chiến trường thật sự là gì, chỉ biết qua luyện tập, qua tiếng hô trên sân, qua giáo gỗ chạm nhau. Cậu chưa biết mùi máu thật trộn bùn đất dưới chân, chưa biết tiếng người kêu không ra tiếng khi giáo xuyên qua da.
"Có đánh không anh?"
Nam Kha nhìn A Sơn. Trong lồng ngực anh có một thứ gì đó siết lại, không mạnh, chỉ vừa đủ để anh phải hít vào chậm hơn bình thường. Anh không biết A Sơn có ra trận không, không biết nhóm Việt sẽ ở đâu trong cuộc chiến sắp tới. Sách sử không chép tên nhóm Việt nào cả, sách chỉ chép Trang Công thắng, Đoạn thua, mấy dòng gọn ghẽ. Giữa những dòng gọn ghẽ ấy là bao nhiêu người như A Sơn, bao nhiêu đứa trẻ cầm bông lúa khô giắt trong áo, đi vào cái khoảng trống giữa hai dòng chữ trong sách sử và không bao giờ đi ra.
"Chưa biết."
Anh nói. Lần này anh cố giữ giọng phẳng vì anh không muốn cậu thấy cái siết trong ngực mình.
"Nhưng chuẩn bị trước."
A Sơn gật đầu rồi quay lại đan rổ, tay vẫn thoăn thoắt. Cậu bắt đầu hát khẽ, một bài hát Lạc Việt cổ mà bà Cả hay hát bên bếp lửa. Giai điệu chậm, lặp đi lặp lại, nghe như tiếng nước chảy qua đá cuội. Lĩnh ngồi cạnh, vai vẫn gồng, nhưng mắt nhắm lại lắng nghe.
Nam Kha ngồi đó một lúc nghe A-Sơn hát, nhìn bông lúa khô nhô ra từ vạt áo cậu. Anh nghĩ rằng có những thứ mà kiến thức về tương lai không cho anh, không bao giờ cho, vì anh biết ai thắng ai thua nhưng không biết ai sống ai chết ở tầng dưới cùng của lịch sử. Nơi mà sử quan không buồn chép và giáo sư không buồn gạch chân.
Lý Trực về vào lúc trời chạng vạng, bước chân nhanh nhưng mặt bình thản, kiểu người quen mang tin mà không để tin lộ ra trên gương mặt cho đến khi ngồi xuống đúng chỗ cần ngồi.
Ông tìm Cao Cát trước. Nam Kha đến sau, vừa kịp lúc Lý Trực bắt đầu nói. Giọng ông ta nhẹ và đều, mỗi câu ngắn và chính xác như thẻ tre Cao Cát ghi sổ.
"Tào Thiệu cung cấp lương cho Đoạn nhưng không trực tiếp. Qua hai trung gian, một ở ấp Chế, một ở ngoài biên cương. Gạo, muối, một ít vải. Không nhiều nhưng đủ để Đoạn nuôi thêm bốn năm trăm quân mà ấp Kinh không sản xuất đủ."
Cao Cát gật đầu. Ông không ngạc nhiên, kiểu người đã đoán đúng và không cần ai nói mới biết.
"Bằng chứng?"
"Người của Doãn Phúc ở ấp Chế thấy hàng đi, đếm xe, nhận ra dấu bao gạo của Tào Thiệu vì bao của hắn buộc bằng dây gai nhuộm đỏ, không ai khác dùng kiểu đó."
Lý Trực ngừng một nhịp.
"Nhưng nếu đưa ra trước Khảo Thúc hoặc triều đình thì Tào Thiệu sẽ nói hắn bán cho trung gian, trung gian bán cho ai thì hắn không biết. Đúng về lý."
"Đúng về lý nhưng sai về sự thật."
Nam Kha nói.
"Ở đây lý lớn hơn sự thật."
Cao Cát đáp.
"Thương nhân lớn đều có chỗ dựa trong triều. Đụng hắn bây giờ thì rắc rối hơn để hắn yên."
Nam Kha hiểu. Và cái hiểu ấy ca, vì nó giống hệt cái cay khi anh đọc về những vụ bê bối doanh nghiệp lớn ở thế kỷ hai mươi mốt. Khi tất cả mọi người đều biết ai làm gì nhưng không ai có đủ bằng chứng hợp pháp để buộc tội. Cái "hợp pháp" ấy được thiết kế bởi chính những người cần nó che chở, hai mươi bảy thế kỷ trước hay hai mươi bảy thế kỷ sau đều giống nhau đến phát ngán.
"Vậy mình cứ để hắn như vậy?"
Nam Kha hỏi.
Cao Cát nhìn anh. Mắt ông không giận, không buồn, chỉ bình thường, kiểu bình thường của người đã chấp nhận thế giới vận hành theo cách nó vận hành từ rất lâu trước khi ông sinh ra.
"Chúng ta ghi nhớ và chờ. Tào Thiệu đặt cược cả hai bên, nghĩa là hắn sẽ chờ xem ai thắng rồi mới ngả. Khi Trang Công thắng và Trang Công sẽ thắng, hắn sẽ quay sang. Lúc đó mình mới có cái để nói chuyện với hắn."
"Trang Công sẽ thắng" là điều Cao Cát nói bằng giọng phẳng như sự thật hiển nhiên. Nam Kha không cần hỏi vì sao ông chắc chắn vậy vì anh cũng chắc thế. Chỉ là anh chắc vì đã đọc sách sử còn Cao Cát chắc vì đã đếm gạo và hai con đường khác nhau đến cùng một đáp án.
Đêm đó, Nam Kha nằm trong lều, không ngủ được.
Anh nằm ngửa nhìn lên mái lều vải thô, nghe tiếng gió ngoài thổi qua kẽ hở phần phật nhẹ. Trong đầu anh, thông tin từ cả ngày xoay vòng, chúng xếp lại, dán lên một tấm bản đồ vô hình mà anh đang vẽ dần trong đầu từ nhiều tháng nay. Đoạn mộ binh, Tào Thiệu tiếp lương, Trang Công diễn, Dĩnh Khảo Thúc chuẩn bị, Cao Cát đếm gạo. Mỗi người một mảnh, mỗi mảnh khớp vào bức tranh lớn hơn. Bức tranh lớn hơn ấy, anh đã biết kết quả từ trước khi nó bắt đầu. Nhưng cái biết ấy giống như biết rằng trận bão sẽ tan mà vẫn phải đứng giữa bão, phải chịu ướt lạnh, run, không tránh được.
"Nam Kha."
Đăng nói với giọng nhỏ, không mở mắt.
"Gì?"
"Lần này đánh thật."
Nam Kha nhìn sang Đăng trong bóng tối, chỉ thấy đường viền khuôn mặt ông ta cứng và tĩnh. Anh hiểu rằng câu Đăng vừa nói không phải sợ, không phải lo, mà là xác nhận, kiểu người thợ rèn nhìn lò lửa đã đủ nóng và nói "đến lúc rồi" trước khi đặt thanh sắt vào. Đăng đã chờ từ lâu, chờ từ ngày đầu tiên bước vào sân tập ấp Dĩnh, chờ từ khi Khảo Thúc nhìn ông ta gật "thằng này cầm giáo quen tay". Tất cả những buổi luyện, những lần đấu tập với lính Trịnh, với Dĩnh Khảo Thúc, đều là chờ cho khoảnh khắc này. Khoảnh khắc mà giáo gỗ được thay bằng giáo thật và sân tập được thay bằng chiến trường.
"Ừ."
Nam Kha nói lần nữa vì không biết nói gì khác.
Rồi im lặng trở lại dày và nặng, kiểu im lặng của hai người đang nghĩ cùng một chuyện nhưng không ai muốn nói thành lời vì nói ra thì nó thành thật. Có những thứ để yên trong đầu thì nhẹ hơn là để trên môi.
Sáng hôm sau, Khảo Thúc triệu tập doanh trại lần nữa. Lần này đông hơn, không chỉ đội trưởng mà tất cả lính, tất cả đứng thành hàng ngang trên sân tập, giáo dựng thẳng, nắng sáng chiếu vào mũi giáo đồng lấp lánh. Dĩnh Khảo Thúc đứng trước mặt họ, giọng ông vang rõ, mỗi chữ rơi xuống sân đất như đá ném xuống mặt trống.
"Chuẩn bị. Nếu Đoạn động thì ta phải động trước."
Ông Không giải thích thêm, không hô hào, không kể lể lý do hay phân tích tình hình. Chỉ hai câu, và hai câu ấy đủ để cả doanh trại hiểu rằng chiến tranh không còn là tin đồn nữa, nó đang đi đến. Người đang đứng trước mặt họ, người mà họ đã theo từ trận Vệ, trận biên giới, trận nào cũng theo, người ấy đã quyết định rồi. Khi Dĩnh Khảo Thúc đã quyết thì không ai hỏi vì sao, chỉ hỏi khi nào.
Nam Kha đứng ở cuối hàng cạnh Nghĩa. Cậu ta đứng thẳng, vai mở, giáo dựng song song với giáo lính Trịnh, mắt nhìn thẳng về phía cha mình. Lần đầu tiên Nam Kha thấy Nghĩa không liếc xem cha có nhìn mình không, vì lúc này không cần nhìn, lúc này mọi người đều nhìn cùng một hướng. Lúc này Nghĩa đứng trong hàng như một người lính chứ không phải con trai ai cả.
Đăng đứng hàng trước, trường mâu dựng bên vai, mắt nhìn Dĩnh Khảo Thúc. Trên gương mặt ông ta, lần đầu tiên kể từ khi Nam Kha quen, có một thứ gì đó giống như sốt ruột rất nhẹ, ẩn dưới cái phẳng lặng quen thuộc, kiểu ngựa chiến nghe tiếng trống từ xa mà chưa được thả cương.
Gió thổi qua sân tập, lay nhẹ đám cỏ bắt đầu ngả vàng ở rìa sân. Mùi đất, mùi sắt, mùi mồ hôi trộn vào nhau trong nắng sáng. Nam Kha đứng đó giữa những hàng quân, giữa những con người mà anh đã biết tên, biết mặt, biết ai ngáy khi ngủ, ai dậy sớm nhất, ai hay nhường phần cơm. Anh nghĩ rằng trong sách sử, đoạn này chỉ có một dòng:
"Trang Công sai quân đánh Đoạn ở Kinh."
Một dòng và tất cả những con người đang đứng trên sân tập lúc này, tất cả mồ hôi và sắt và cỏ vàng và tiếng gió, tất cả đều nằm gọn trong một dòng ấy. Tất cả đều vô danh, vô hình, như thể họ chưa từng tồn tại.
Nhưng họ đang thở. Họ đang đứng đây. Và ở phía sau, tay A Sơn vẫn giắt bông lúa khô trong áo, đang nhìn về phía trước bằng đôi mắt sáng và trong của một người chưa biết chiến trường là gì.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.