Chương 11: Gầm Máy Xúc
Tôi Trọng Sinh Tại Tinh Cầu Phế Liệu
Mục lục
17 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 17/17 chương
Tiếng xì áp suất rít lên chói tai bên mạn sườn trái.
Trần Ninh ép lưng sát vào dải xích sắt rỉ sét dưới gầm chiếc máy xúc bánh xích cổ lỗ sĩ. Đất cát và xỉ vụn phả thẳng vào mặt cậu sau cú trượt dài ba mét.
Một tia laser đỏ sẫm lia qua sườn kim loại phía trên đầu cậu, để lại một đường rạch khét lẹt trên lớp sơn bong tróc, rồi quét thẳng ra khoảng đất trống phía sau.
Cách đó chưa đầy hai trăm mét, tháp súng phòng thủ sáu nòng trên đỉnh ụ bê tông số 3 vừa hoàn thành nửa vòng quét. Cụm mô-tơ phát ra tiếng rít cơ khí khô khốc, chậm rãi chuyển hướng sang bãi container phía đông.
Trần Ninh thở dốc. Phổi cậu bỏng rát vì hít phải bụi xỉ nóng. Khớp vai phải vừa nẹp tạm nhói lên từng cơn giật cục, nhưng thứ khiến cậu lập tức căng người lại là âm thanh phát ra ngay bên đùi trái:
Cộc... cộc... xì...
Xi-lanh thủy lực ở chân trái đang mất áp.
Đệm cao su ở chân van hồi tiếp đã bị áp lực từ hệ thống Tinh Thạch ép nát trong cú nhảy vọt qua rãnh xỉ ban nãy. Dầu thủy lực đen ngòm rỉ thành từng giọt đặc quánh, nhỏ xuống lớp xỉ sắt nóng dưới sàn gầm, lập tức bốc lên mùi khét. Nếu để mất hết áp suất, toàn bộ chân trái của khung thép sẽ kẹt cứng thành một khối sắt nặng hơn bốn mươi ký, biến cậu thành một tấm bia sống bất động giữa bãi trống.
Trần Ninh cắn chặt môi, rút chiếc cờ-lê mười hai giắt bên hông, nhưng bàn tay khựng lại.
Không có gioăng cao su thay thế. Không có cút nối mới. Dưới cái gầm máy xúc chật chội chưa đầy nửa mét này, mọi kỹ thuật tháo lắp bài bản trong xưởng đều vô nghĩa.
Cậu hít sâu một hơi để trấn áp nhịp tim đang đập loạn, luồn tay trái xuống đáy túi bạt đeo chéo. Đầu ngón tay chạm vào mép bìa da sờn rách, nham nhở vết cháy sém.
Cuốn sổ tay của ông già.
Trần Ninh lôi cuốn sổ ra. Bìa da đã bong gần hết, các mép giấy bị dầu máy đen kịt tẩm ướt nhẹp dính chặt vào nhau. Cậu không tìm công thức, không tìm hướng dẫn. Ngón tay nhem nhuốc mạt sắt lật nhanh vài trang theo trí nhớ, chỉ tìm những nét vẽ nguệch ngoạc quen thuộc.
Một trang có hình cái van thủy lực được vẽ bằng bút chì mỡ. Nét chì đậm và thô ráp. Bên cạnh miệng van, mấy dòng chữ viết tay xiêu vẹo, gắt gỏng như tiếng chửi thề thường ngày của lão thợ cả:
“Van này mà rỉ thì đừng phí dầu. Lấy mỡ vòng bi trét tạm quanh chân van. Cầm được thêm một lúc.”
Trần Ninh nhìn dòng chữ vài giây.
“Ông già...”
Cậu gấp sổ lại, nhét sâu vào túi trong áo khoác, ép sát vào luồng nhiệt âm ỉ của khối Tinh Thạch trước ngực.
Không chần chừ, Trần Ninh xoay người, hướng mắt về cụm trục bánh dẫn hướng của chiếc máy xúc ngay sát nách. Khối thép rỉ sét này đã nằm chết ở đây hàng chục năm, nhưng nắp chụp bảo vệ trục bánh luôn được làm bằng gang đúc dày để ngăn bụi.
Cậu luồn một đầu cờ-lê vào khe nắp chụp, dồn sức nện cùi chỏ xuống.
Cạch! Rắc!
Lớp rỉ sét bám quanh ren nắp vỡ vụn. Chiếc nắp gang bật ra, để lộ cụm ổ bi côn lớn phủ đầy mỡ cũ. Bên trong, lớp mỡ bò cũ đã cô lại thành một khối đặc đen kịt, dẻo quánh và nồng nặc mùi lưu huỳnh.
Trần Ninh quẹt hai ngón tay trần vào hốc ổ bi, vét ra một cục mỡ đặc quánh.
Cậu ép mình nằm ngửa ra đất xỉ, luồn tay xuống chân van thủy lực bên hông đùi trái. Cậu không tháo rãnh van; ngón tay ấn thẳng khối mỡ đặc quánh vào quanh cổ ren, miết thật chặt thành một lớp trám tạm, rồi dùng một mẩu giẻ lau tẩm dầu quấn chặt ba vòng bên ngoài, siết lại bằng một sợi dây kẽm nhặt vội dưới đất.
Tiếng xì nhỏ dần rồi tắt hẳn.
Kim đồng hồ áp suất dừng lại ở vạch 88. Pít-tông ngừng giật. Lớp mỡ bò đông đặc tạm thời đóng vai trò như một nút trám cơ học, hạn chế dầu thủy lực tiếp tục rò ra. Nó không chữa được chỗ hỏng, nhưng ít nhất cũng giữ được áp suất thêm một lúc.
Trần Ninh nhắm mắt đúng một nhịp, ép mình lấy lại hơi thở.
Giờ là bài toán sống còn thứ hai: đường thoát khỏi gầm máy.
Qua kẽ hở giữa hai mắt xích thép, toàn bộ khoảng sân trước Bãi đáp số 3 hiện ra mồn một dưới ánh đèn cao áp nhập nhèm.
Cách gầm máy xúc năm mươi mét, một cỗ máy cào xỉ tự hành bốn bánh sắt đang lừ lừ lăn qua một rãnh cáp lộ thiên. Khung thân của nó vuông vức như một chiếc quan tài sắt, phía trước gắn một lưỡi ủi răng cưa liên tục cạp từng mảng xỉ quặng vụn hất sang hai bên. Động cơ đốt trong nổ lụp bụp từng nhịp nghẹn ứ, khói đen phả thẳng lên trời.
Nhưng mối đe dọa thật sự không phải cỗ máy cào xỉ chậm chạp đó, mà là thứ nằm trên đỉnh đầu nó: tháp súng phòng thủ sáu nòng.
Trần Ninh không nhắm mắt lao bừa. Cậu căng mắt, bắt đầu đếm nhịp trong đầu:
Một... hai... ba...
Tia laser đỏ từ họng súng lia từ trái qua phải mất đúng chín giây. Khi chạm đến mép đụn rác ép phía đông, tháp súng khựng lại một nhịp rất ngắn để đảo chiều xoay trục.
Một giây rưỡi.
Đó là khoảng trễ của cơ cấu quay đã quá cũ. Trong một giây rưỡi đó, toàn bộ góc chết rộng khoảng mười lăm mét phía sau chiếc máy cào xỉ nằm ngoài tầm quét của tháp súng.
Nhưng khoảng cách từ gầm máy xúc này đến đụn rác ép gần nhất là ba mươi mét. Với một bên chân vừa trám tạm, cậu không thể chạy hết quãng đường đó trong một giây rưỡi.
Cậu cần một vật che chắn di động.
Ánh mắt Trần Ninh rơi thẳng vào sườn sau của cỗ máy cào xỉ đang tiến lại gần.
Chiếc máy cào xỉ chạy bằng bánh sắt với tốc độ rùa bò, sườn xe được bọc một tấm thép xỉ dày ba phân để chống đá văng. Nếu lọt được vào khoảng mù, cậu chỉ cần bám sát phía sau tấm thép ấy. Chiếc máy cào xỉ sẽ thành một tấm khiên di động che cho cậu lướt qua vùng quét của sáu họng súng tự động.
Thời cơ chỉ có một lần, ngay khi chiếc máy cào xỉ lướt ngang qua tầm mắt từ dưới gầm máy xúc.
Trần Ninh co chân trái, gót thép của khung trợ lực cắm sâu vào lòng xỉ quặng làm điểm tựa. Cậu siết chặt chiếc cờ-lê trong tay phải, mắt dán chặt vào nhịp lắc của tia laser đỏ trên mặt đất.
Tám... chín...
Tia đỏ vừa quét qua mép máy xúc. Cụm mô-tơ trên đỉnh tháp súng phát ra tiếng cạch khô khốc khi bắt đầu trễ nhịp đảo chiều.
Chính là lúc này.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.