Chương 6: Tính Đường Sống
Tôi Trọng Sinh Tại Tinh Cầu Phế Liệu
Mục lục
9 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 9/9 chương
Ánh huỳnh quang xanh lục từ màn hình máy thu nhấp nháy từng nhịp khô khốc.
71:40:02
71:40:01
Mỗi giây trôi qua, con số ở đuôi lại tụt xuống một nấc.
Trần Ninh ngồi bất động dưới đáy silo. Cậu không biết ai phát lệnh này, cũng chẳng hiểu cái thứ gọi là "Diệt Tinh" kia rốt cuộc sẽ thiêu rụi bãi rác bằng đạn đạo từ quỹ đạo, quét chùm tia hạt nhân hay xả khí độc.
Ở cái xó này, mọi thứ đều có thể hỏng hóc. Riêng cái đồng hồ đếm ngược kia thì vẫn đang chạy.
Ba ngày nữa.
Cái hầm chứa hai mươi lít nước này trốn được quái máy, trốn được cái nắng thiêu người buổi trưa, nhưng đến khi cả bãi rác bị cào phẳng thì nó chỉ là một cái hòm sắt chôn sống cậu.
Phải cút khỏi đây trước khi con số kia về không.
Nhưng đi bằng cái gì?
Thứ duy nhất cậu biết có thể bay ngược lên trời là xà lan vận tải tự động ở Bãi đáp số 3.
Đó là những khối sắt hộp khổng lồ không người lái, chạy theo lịch trình định sẵn. Chúng đáp xuống, trút container phế liệu rồi tự bay về trạm trung chuyển ngoài tầng khí quyển. Cậu từng thấy chúng rít gầm xé toang bầu trời mỗi tuần một lần từ xa.
Muốn sống, chỉ có chui vào gầm hoặc bám vào khoang rỗng của xà lan trước khi nó cất cánh.
Nhưng từ đây đến Bãi đáp số 3 cách hơn hai mươi cây số đường bãi rác.
Trần Ninh nhẩm tính trong đầu. Đường đi toàn dốc phế liệu trơn trượt, sắt thép lởm chởm. Lũ chó máy, linh cẩu cơ khí phát điên chắc chắn đang lảng vảng dày đặc quanh trục đường chính. Với một bên vai sưng vù, cái chân đi khập khiễng và một thanh cưa rỉ sét, cậu ra khỏi hầm đi được năm cây số là làm mồi cho chúng.
Chưa kể đến chướng ngại vật chết người ở đích đến: quanh Bãi đáp số 3 có trụ súng phòng thủ tự động đời cũ. Thứ đó không phân biệt người hay thú, cứ có chuyển động lạ lọt vào bán kính ba trăm mét là nó xả đạn nát bấy.
Đường xa cần sức vác. Còn muốn lọt qua tầm quét của súng máy, cậu phải có một tấm thép đủ dày để che chắn.
Cả hai thứ đó, một thằng nhóc mười sáu tuổi như cậu không kham nổi. Cậu không thể tự tay bưng một tấm thép dày cộp nặng cả trăm ký mà chạy dưới hỏa lực.
Trần Ninh siết chặt nắm tay, đập nhẹ lên thành hòm sắt.
Kho số 1.
Chỉ có ở đó mới có thứ giúp cậu làm được việc này.
Kho số 1 là căn cứ chính của ông già, khoét sâu dưới đáy một xưởng cán thép bỏ hoang cách đây chừng bốn cây số. Ông già giấu ở đó những món đồ nặng mà ông không tiện mang về trạm. Cậu nhớ rõ ở góc xưởng ngầm có một bộ khung sắt trợ lực dùng để bốc dỡ trục máy mà ông hàn dở dang suốt mấy năm trời.
Ông từng chửi thề mỗi khi thiếu phụ tùng thay thế rồi vứt xó nó ở đó.
Nó chưa hoàn chỉnh, nhưng ít nhất cậu còn có nó.
Trần Ninh không nghĩ ngợi thêm, đứng dậy thu dọn đồ.
Cậu nhấc can hai mươi lít, cẩn thận kê miệng can rót từng dòng nước mát vào miệng bình tông sắt cho đến khi đầy tràn mép ren. Cậu vặn chặt nắp, buộc chặt dây đeo vào hông. Cuộn băng gạc còn lại với vỉ thuốc giảm đau được nhét sâu vào túi trong áo khoác, sát cạnh khối Tinh Thạch đang âm ỉ tỏa nhiệt.
Dưới đáy hòm sắt, cậu nhặt cuộn dây đồng được quấn tròn chằn chặn, hộp cầu chì cũ và chiếc cờ-lê mười hai dự phòng của ông già nhét vào túi bạt. Cậu nhìn chiếc máy thu một thoáng, ngón tay chần chừ trên mặt kính nhảy số. Mang theo cục sắt này vừa nặng vừa vướng víu, nhưng nó là thứ duy nhất cho cậu biết cái án tử trên đầu còn bao nhiêu thời gian.
Trần Ninh gập ăng-ten dẹt của máy lại, dùng một tấm giẻ lau quấn kín thân máy chống va đập rồi nhét xuống đáy túi bạt.
Cậu trèo lên những bậc thang sắt rỉ sét, ghé tai vào khe nắp hầm lắng nghe.
Bên ngoài không có tiếng móng sắt cào hay tiếng rít động cơ. Ánh sáng chói chang ban ngày đã dịu đi, nhường chỗ cho ráng chiều đỏ quạch đặc trưng của tầng khí quyển nhiễm bụi kim loại. Gió bắt đầu thốc qua miệng silo, mang theo hơi lạnh của đêm đen sắp tới.
Cậu tháo then sắt, dùng vai đẩy nhẹ nắp hầm hé ra một khe nhỏ. Không khí bãi xỉ xộc vào mũi, khét lẹt mùi lưu huỳnh.
Trần Ninh lách người qua miệng hầm, kéo nắp sắt đóng sập lại rồi dùng chân gạt một lớp xỉ vụn phủ lên mép khóa. Cậu cầm chắc thanh cưa sắt trong tay trái, cúi thấp người, men theo bóng râm của những đụn phế liệu khổng lồ bắt đầu bước về hướng xưởng cán thép bỏ hoang.
Bốn cây số từ đáy silo sang xưởng cán thép không dài bằng quãng đường chạy thục mạng đêm qua, nhưng lại khó đi gấp bội.
Mặt trời lặn rất nhanh. Ráng chiều đỏ quạch vừa tắt sau rặng phế liệu thì bóng tối lạnh ngắt lập tức nuốt chửng cả bãi rác. Gió đêm rít từng hồi qua các khe kim loại rỉ sét.
Trần Ninh không dám bật đèn pin. Chùm sáng vàng vọt giữa bãi rác tối om chẳng khác nào mồi nhử lũ săn đêm. Cậu chỉ dựa vào thứ ánh sáng xanh nhờ nhờ từ mấy bãi bùn hóa chất rỉ ra dưới chân để dò từng bước.
Mỗi bước chân dẫm lên xỉ quặng kêu rào rạo. Bả vai phải được băng chặt vẫn giật thót từng cơn, nhưng khối Tinh Thạch trong ngực áo vẫn âm ấm qua lớp vải rách.
Đi được chừng hai cây số, Trần Ninh khựng lại.
Cậu nép sát người vào gầm một chiếc rơ-moóc gãy trục, nín thở.
Cách đó khoảng năm mươi mét, trên đỉnh một đụn rác cao, một đốm sáng đỏ ngòm quét ngang qua mặt đất.
Xoẹt... xoẹt...
Tiếng xích sắt cọ vào mặt tôn vụn lạo xạo. Đó là một con linh cẩu cơ khí ba chân, một chân sau đã bị thay bằng bánh xích thô sơ, nửa đầu vỡ toác lộ cả mớ dây dẫn chập tia lửa lách tách. Nó dừng lại trên đỉnh đụn rác, cái mũi cảm biến bằng kim loại hít hà liên hồi vào không khí lạnh.
Mắt quét của nó lia qua gầm chiếc rơ-moóc nơi cậu đang nấp.
Trần Ninh ép chặt lưng vào thanh dầm thép gỉ sét, một tay siết chặt cán cờ-lê mười hai vừa rút khỏi túi. Cậu nghe rõ từng nhịp tim đập thình thịch trong lồng ngực. Viên thuốc giảm đau uống lúc chiều đang tan dần, cảm giác nhức buốt ở vai bắt đầu cắn rỉa trở lại.
Con thú máy đứng đó chừng một phút. Mắt quét màu đỏ chớp chớp hai nhịp rồi lia sang hướng khác. Nó phát ra một tiếng rít khô khốc như sắt cọ vào đá mài, rồi lê lết bánh xích trượt xuống sườn dốc bên kia, hướng về một vùng rác thấp hơn.
Chờ tiếng xích sắt loãng dần rồi mất hẳn, Trần Ninh mới thở hắt ra một hơi run rẩy. Lưng áo cậu ướt đẫm mồ hôi lạnh, gió lùa qua buốt thấu xương.
Cậu bò ra khỏi gầm rơ-moóc, đổi hướng đi vòng qua chân đụn rác, không dám đi thẳng theo lòng hẻm.
Nửa giờ sau, một khối bóng đen khổng lồ sừng sững hiện ra giữa màn đêm.
Đó là xưởng cán thép số 4.
Cả một tổ hợp nhà xưởng bằng khung thép đồ sộ đổ sụp một nửa, những thanh giằng chữ I cong queo chĩa thẳng lên trời. Mái tôn thủng lỗ chỗ, gió lùa qua tạo thành những tiếng gầm gừ nghẹn ứ.
Dưới chân bức tường bê tông nứt toác ở góc tây của xưởng, một đống ống thép rỉ sét được chất đống có chủ ý, che kín một cánh cửa sắt trượt ngầm dẫn xuống lòng đất.
Kho số 1 vẫn còn nguyên.
Trần Ninh đứng dưới chân bức tường đổ nát, chống thanh cưa thở dốc. Cậu đưa tay áo quệt mồ hôi trên trán, ngước nhìn bóng tối thăm thẳm bên trong xưởng cán thép.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.