Tôi Trọng Sinh Tại Tinh Cầu Phế Liệu

Chương 8: Nâng Tấm Chắn Và Mương Thải

Đăng: 06/10/2026 21:01 1,126 từ 4 lượt đọc

Trần Ninh khom lưng, mười đầu ngón tay lách sâu vào rãnh hở dưới mép tấm thép đậy nắp rãnh cáp.

Gỉ sắt vụn lẫn bùn khô cọ ráp rạp vào da thịt. Cậu hít sâu một hơi, siết cơ bụng, dồn lực xuống đôi chân bọc khung kim loại rồi bóp nhẹ chốt điều khiển thủy lực bên hông sườn.

Xì... xì... ực!

Tiếng mô-tơ mini rít lên ken két. Bơm dầu gầm gừ ép áp suất dâng ngược vào hệ thống đường ống chắp vá. Các ống xi-lanh thủy lực dọc hai bên đùi gồng cứng lại như hai thớ cơ thép.

Cậu gập gối, bắt đầu đứng thẳng dậy.

Khung thép trên người cậu phát ra tiếng ken két khô khốc. Kim đồng hồ áp suất trước ngực giật nảy từ vạch một trăm hai mươi tụt thẳng xuống một trăm mười, nhưng tiếng bơm dầu rít to hơn một nhịp, đẩy kim từ từ nhích ngược trở lại.

Rắc! Một mảng rỉ sắt bám đáy tấm thép bung ra rớt xuống sàn.

Tấm thép dày gần hai phân, to bằng cánh cửa sổ từ từ rời khỏi mặt đất.

Trọng lượng cả trăm ký không đè nát hai vai cậu như tưởng tượng, nhưng độ rung giật từ xi-lanh truyền thẳng qua các đai bạt siết chặt vào xương sườn. Hai cánh tay Trần Ninh run bần bật, cơ bắp căng cứng để giữ thăng bằng. Trọng tâm dồn lệch về phía trước khiến cậu suýt ngã sấp mặt.

Cậu vội lùi chân trái về sau nửa bước để trụ lại. Khớp gối vừa nắn nguội kêu lên một tiếng khục nặng nề, thanh truyền hơi rung rơ nhưng vẫn khóa cứng ngàm.

Cậu đứng vững được, nhưng không thể vung vẩy hay di chuyển tự do. Mang theo tấm thép này, mỗi bước đi của cậu chẳng khác nào một cỗ máy kéo phế liệu nặng nề, chậm chạp.

Đây không phải áo giáp, cũng chẳng phải vũ khí. Nó chỉ là một tấm chắn bằng thép đủ dày để thử vận may trước họng súng tự động ở Bãi đáp số 3.

Trần Ninh hạ nhẹ một mép tấm thép xuống sàn bê tông cho đỡ mỏi tay, rồi ngẩng đầu nhìn quanh phòng điều khiển ngầm.

Cậu cần vài thứ nữa trước khi dấn thân vào chặng đường mười sáu cây số còn lại.

Trên chiếc giá sắt mục ở góc tường, cậu tìm thấy một cuộn dây cáp tời bện sợi thép to bằng ngón tay út, dài chừng mười lăm mét, còn nguyên hai móc khóa chữ U ở hai đầu. Trần Ninh luồn sợi cáp qua khe tay cầm của tấm thép, buộc chằng ngang trước khung ngực bộ trợ lực để cố định tạm, giảm bớt tải trọng phải dùng tay giữ liên tục.

Cạnh cuộn cáp là một chiếc mặt nạ phòng độc lọc bụi quặng của công nhân nhà máy cán thép ngày trước. Dây chun cao su phía sau đã nhão nhoẹt, nhưng vỏ chụp mặt bằng nhựa dẻo chưa bị rách nát. Trần Ninh vặn mở hai hộp lọc bên má ra kiểm tra: lõi than hoạt tính bên trong bám một lớp bụi xám nhưng chưa bị ẩm mốc đóng bánh.

Cậu không chắc nó còn lọc được bao nhiêu phần trăm độc chất, nhưng giữa một bãi rác nồng nặc mùi lưu huỳnh và axít bốc hơi, có thứ này trùm lên mặt vẫn còn hơn không. Cậu dùng một đoạn dây đồng vụn buộc túm lại chỗ dây chun bị dão để vừa cỡ đầu mình, rồi móc tạm bên sườn khung.

Toàn bộ đồ nghề mang theo được kiểm tra lại lần cuối:
Bình tông nước đầy kẹp chặt bên hông.
Hai phong lương khô và vỉ thuốc giảm đau nhét túi trong sát ngực.
Chiếc cờ-lê mười hai cắm chắc trong bao da.
Hộp cầu chì mười am-pe còn vài cái sơ cua kẹp ở túi ngực áo khoác.

Chiếc máy thu dã chiến trên bàn thợ lúc này hiện rõ dòng chữ số xanh: 65:47:18.

Thời gian ở Kho số 1 đã hết.

Cậu không thể quay ra bằng lối cũ. Khe cửa hẹp nấp sau đống ống gang ban nãy chỉ vừa cho một người trần chui lọt; mang theo bộ khung trợ lực cồng kềnh cùng tấm thép to bản này thì không đời nào lách qua nổi.

Nhưng Trần Ninh nhớ rất rõ.

Hồi mới tới đây học việc, ông già từng bắt cậu vác bình ắc quy đi theo ông dọc đường hầm kỹ thuật ở sàn sau phòng điều khiển để ra cổng dỡ hàng phụ. Đó là cửa thoát xỉ của xưởng, mở thẳng ra một con mương thải công nghiệp khô cạn ăn luồn dưới lòng bãi rác.

Trần Ninh bước tới góc sau căn phòng ngầm, nơi có một cánh cửa sắt dạng nâng hai cánh bằng ròng rọc tay xích.

Xích tời bám đầy bụi dầu khô. Cậu một tay giữ mép tấm thép trước ngực, một tay nắm lấy dây xích kéo giật từng chặp.

Xoảng... xoảng... xoảng...

Dưới sức kéo của cánh tay được xi-lanh trợ lực hỗ trợ, bánh răng ròng rọc quay tít. Cánh cửa sắt nặng trịch từ từ nhấc lên, để lộ ra khoảng tối hun hút và một luồng gió ẩm mốc, tanh tưởi xộc thẳng vào mặt.

Phía trước là lòng mương thải công nghiệp đã cạn nước từ hàng chục năm trước. Đáy mương rộng chừng hai mét, ngổn ngang những đoạn ống bê tông vỡ, các búi rễ kim loại và từng mảng bùn hóa chất đã nứt nẻ đóng vảy dày cộp. Hai bên thành mương dựng đứng bằng đá hộc cao quá đầu người, che chắn hoàn hảo khỏi tầm quét từ trên mặt đất.

Lòng mương đủ rộng để một người mang khung sắt lọt qua, nhưng tấm thép chắn trước ngực khiến mỗi lần lách qua các miệng cống sập trở thành một cực hình kẹt cứng.

Trần Ninh kéo mặt nạ phòng độc trùm lên mặt. Lớp cao su cũ hôi mùi mốc ép chặt vào sống mũi, tiếng thở của cậu qua màng lọc vang lên phì phò, nặng trịch.

Cậu bước những bước đầu tiên xuống lòng mương thải.

Keng... cục...

Bàn đạp kim loại cắm sâu vào lớp bùn vảy khô. Chân trái hơi khựng lại theo từng nhịp bước, tiếng rơ lắc ở khớp mắt cá vang lên đều đặn.

Trần Ninh chỉnh lại cuộn dây cáp giữ tấm thép, cắm cúi bước đi trong bóng tối sâu hoắm của rãnh mương, hướng về phía Bãi đáp số 3.

0