Bách Việt Hùng Đồ

Quyển 2: Giáo

Chương 8: Nuôi Rắn

Đăng: 23/09/2026 23:02 3,978 từ 8 lượt đọc

Cao Cát nhắn Nghĩa gọi Nam Kha ra lán kho sau giờ tập sáng. Ông ta không nói lý do, chỉ nói "đến" và cái cách Nghĩa truyền lại lời nhắn gọn gàng với mắt hơi nghiêm khiến cho Kha biết rằng đây không phải chuyện gạo muối thường ngày.

Anh đi dọc con đường đất nối sân tập với khu lán phía đông, nắng sáng xiên ngang qua hàng cọc rào. Mùi rơm phơi trên mái lán bay theo gió trộn với mùi mồ hôi ẩm từ bãi tập vẫn còn vương trên áo anh. Ở phía xa, tiếng đám lính đang hô đều vọng lại, nhỏ dần theo mỗi bước chân. Sân tập vẫn đông, đời lính vẫn quay, nhưng không khí cả doanh trại từ hôm nhận tin Cộng Thúc Đoạn mộ binh đã đổi. Đổi theo kiểu mà ai sống trong đó thì thấy, còn ai mới đến thì không nhận ra, kiểu mọi thứ vẫn bình thường nhưng bình thường hơn mức cần thiết, kiểu người ta cố tỏ ra bình thường vì đang cố không nghĩ đến thứ không bình thường đang đến.

Lán kho nằm khuất sau hai dãy lều lính, mái thấp, ánh sáng lọt qua kẽ tre tạo vệt ngang trên nền đất nện. Khi Nam Kha bước vào, Cao Cát đã ở đó.

Cao Cát không dùng thẻ tre lần này. Ông ngồi xổm ngoài sân sau lán kho, nơi đất nện phẳng và cứng. Tay ông cầm một cành cây nhỏ, vạch từng đường vào mặt đất chậm và chính xác, kiểu người vẽ bản đồ không phải lần đầu. Nam Kha ngồi đối diện, nhìn cành cây di chuyển và từng đường vạch hiện ra dưới tay Cao Cát: đường biên giới ấp Kinh, đường biên giới ấp Dĩnh, dãy đồi phía bắc, con sông phía nam. Còn ở giữa là một vùng đất rộng mà Cao Cát vạch bằng nét đậm hơn, ấn cành cây xuống sâu hơn, kiểu người muốn Nam Kha nhìn kỹ chỗ này.

"Đây là đất Cộng Thúc Đoạn mở rộng."

Cao Cát nói, cành cây chỉ vào vùng đậm.

"Mười lăm làng, ba ấp nhỏ. Tổng cộng chiếm gần gấp đôi đất phong ban đầu."

Nam Kha nhìn và nhìn kỹ hơn, vì Cao Cát không bao giờ vẽ bản đồ chỉ để cho đẹp.

"Đất này nằm ở đâu so với quân Trịnh?"

Cao Cát không trả lời ngay. Ông vạch thêm ba mũi tên từ ba hướng bắc, tây, và đông, mỗi mũi tên chỉ vào vùng đất Đoạn chiếm. Khi ba mũi tên nằm trên mặt đất, Nam Kha nhìn và thứ anh thấy khiến anh dừng thở.

Ba mũi tên bao vây.

Vùng đất Đoạn mở rộng nằm lọt giữa ba hướng tấn công tự nhiên, phía bắc là dãy đồi nơi quân Trịnh có thể chiếm cao điểm, phía tây là rừng thưa nối liền với ấp Dĩnh nơi Dĩnh Khảo Thúc đóng quân, phía đông là đồng bằng trống trải không có gì che chắn. Phía nam, con sông duy nhất, nhưng con sông ấy hẹp, nông vào mùa khô. Bên kia sông là đất Trịnh, không phải đường thoát mà là thêm một mặt vây. Đoạn chiếm mười lăm làng ba ấp nhỏ, nhìn trên bản đồ thì rộng, nhưng rộng theo kiểu người nằm dang tay dang chân trên cánh đồng. Hắn tưởng mình chiếm nhiều nhưng thực ra đang phơi hết mọi chỗ hiểm cho kẻ đứng trên đồi nhìn xuống.

"Đất ít giá trị quân sự."

Cao Cát nói với giọng phẳng.

"Không đồi, không ải, không thành. Dễ chiếm, dễ giữ, nhưng khó thủ nếu bị vây."

Ông ngừng một nhịp nhìn Nam Kha.

"Và Trang Công cho Đoạn chiếm, không cản."

Nam Kha nhìn bản đồ, nhìn ba mũi tên, nhìn vùng đất trống nằm giữa. Trong đầu anh, tất cả những mảnh thông tin từ bao nhiêu ngày qua bắt đầu xếp lại. Không phải sét đánh, không phải khoảnh khắc à ha rực rỡ như trong phim mà nó chậm và nặng. Kiểu những viên gạch rơi xuống từng viên một và xếp thành bức tường trước mặt anh, viên này chồng lên viên kia. Trang Công thở dài nói "Đoạn là em ta" trong sảnh triều, Trang Công "lo lắng" mà mắt không đổi, Trang Công hỏi thăm con trai quần thần bằng giọng ấm hoàn hảo, Trang Công khen Tử Đô mà không hỏi Dĩnh Khảo Thúc. Còn bây giờ, Trang Công cho em mở rộng trên đất trống mà không cản, không chặn, không dạy, không phạt, vì không phải ông không muốn cản mà vì ông đang đợi.

Ông đang đợi Đoạn lớn đủ để giết.

"Ông ấy biết."

Nam Kha nói với giọng khô. Anh nghe tiếng mình vang trong cái không gian nhỏ phía sau lán kho. Tiếng nhỏ và hơi run, kiểu giọng của người vừa nhìn thấy đáp án một bài toán mà anh ước mình sai.

"Trang Công biết. Biết từ đầu."

Cao Cát không gật đầu, không lắc mà chỉ nhìn Nam Kha.

"Ông ấy cho Đoạn mở rộng."

Nam Kha nói tiếp. Bây giờ giọng anh nhanh hơn vì một khi bức tường đã xong thì anh không thể giả vờ không nhìn thấy nó.

"Cho Đoạn chiếm đất, mộ binh, tích lương, cho lớn, cho mạnh, cho đến khi hắn tin rằng mình đủ mạnh để tạo phản. Và khi Đoạn phản, Trang Công có cớ. Cớ chính đáng, cớ mà cả thiên hạ đều gật đầu: ta đã nhẫn nhịn, ta đã chờ, ta đã dạy, em ta vẫn không nghe, giờ ta phải đánh."

Anh nhìn Cao Cát.

"Đúng không?"

Cao Cát nhìn anh thêm một nhịp rồi nói, giọng không thay đổi, nhưng câu ông nói khiến Nam Kha phát lạnh.

"Ngươi tưởng ta không biết?"

Tiếng gió thổi qua kẽ mái lán phần phật nhẹ, mùi đất khô bay lên từ bản đồ trên mặt đất. Nam Kha ngồi đó nhìn Cao Cát và hiểu rằng cái im lặng ấy không phải vì ông giận hay vì ông muốn gây ấn tượng, mà vì ông đã biết lâu rồi. Cao Cát biết và im lặng, biết và chờ, biết và tiếp tục đếm gạo, đếm muối, đếm quân, vì biết thì biết nhưng biết không thay đổi được gì.

"Dĩnh Khảo Thúc biết không?"

Nam Kha hỏi.

"Biết."

"Tế Túc?"

"Biết."

"Ai không biết?"

"Đoạn."

Cao Cát đáp và câu đó ngắn đến mức tàn nhẫn.

"Đoạn không biết. Hắn nghĩ mình đang thắng."

Nam Kha nuốt nước bọt và cảm thấy cổ họng mình chật lại. Ông vua nhẫn nhịn trước mặt cả triều đình, thở dài rằng "Đoạn là em ta". Bài diễn xuất mà thầy giáo gạch bút đỏ gọi là hoàn hảo nhất Tả Truyện.

"Bài diễn xuất ấy không chỉ là diễn cho quần thần xem. Nó là diễn cho Đoạn xem. Mỗi lần Trang Công nhẫn nhịn, Đoạn lại tin mình mạnh thêm một chút, lại dám làm thêm một chút, lại chiếm thêm một ấp, mộ thêm một đội quân. Mỗi bước Đoạn tiến thêm là mỗi bước hắn chui sâu hơn vào cái túi mà anh trai đã may sẵn."

"Nhưng biết thì sao?"

Cao Cát nói, giọng không buồn, không giận, chỉ thực tế đến mức khô khốc.

"Đoạn sẽ phản. Dù Trang Công nuôi hay không nuôi, hắn vẫn sẽ phản. Vì mẹ hắn muốn vậy, vì hắn tin mình xứng đáng, vì bất công mà hắn nhận là thật, không phải tưởng tượng. Trang Công chỉ làm một việc là thay vì chặn từ đầu thì để Đoạn phản ở nơi Trang Công chọn, thời điểm Trang Công chọn, bằng quân số Trang Công đã tính trước."

Ông gõ cành cây vào ba mũi tên trên đất.

"Đây là cái túi. Đoạn đang ở trong. Và khi hắn phản, Trang Công chỉ cần thắt miệng túi."

Nam Kha nhìn xuống bản đồ. Bây giờ anh không thấy đường vạch trên đất nữa, anh thấy một con người, một thằng em trai được mẹ yêu hơn anh, lớn lên tin rằng mình đúng, tin rằng anh trai ganh ghét. Sự thật thì cái tin ấy không sai, mẹ họ thật sự thiên vị. Khương thị ghét Trang Công vì bà sinh ông khó, đặt tên ông là Ngộ Sinh, tức "đứa trẻ sinh ngược, sinh khó, suýt chết". Ngược lại bà yêu Đoạn vì sinh cậu dễ, vì cậu đẹp, vì cậu giống mẹ. Đoạn không phải kẻ ác, hắn là một đứa con tin mẹ, tin sai, tin đến mức lấy cái sai ấy làm cờ. Và cái cờ ấy sẽ dẫn hắn vào cái túi mà anh trai đã may sẵn. Còn anh trai hắn, người mà mẹ ghét từ lúc lọt lòng, người ấy nuôi em mình lớn đủ để giết mà thiên hạ vẫn vỗ tay.

Anh nghĩ đến ông giáo năm hai đại học, người đã đứng trước lớp, chiếu slide và nói:

"Trịnh Trang Công là một trong những nhà chính trị xuất sắc nhất Xuân Thu."

ây giờ anh hiểu "xuất sắc" nghĩa là gì. Cái hiểu ấy không nằm trên giấy mà nằm trên mặt đất, trong ba mũi tên Cao Cát vạch, trong tiếng thở dài giả tạo mà Trang Công thở trước cả triều đình, trong đôi mắt không đổi khi ông hỏi thăm con trai quần thần. "Xuất sắc" nghĩa là biến yêu thương thành vũ khí, biến nhẫn nhịn thành chiến lược, biến cả cái thở dài "ta không muốn đánh em" thành một nước cờ. Cả nước Trịnh vỗ tay vì tưởng mình đang xem một vị vua nhân từ trong khi thực ra đang xem một ván cờ mà quân cờ là xương thịt người.

Anh nghĩ rằng đây là House of Cards. Nhưng không có Netflix, không có bình luận trên mạng xã hội, không có season finale rồi tắt tivi đi ngủ. Chỉ có máu thật, nước mắt thật. Em trai ông ấy dù đáng ghét đến mấy, cũng chỉ là một thằng em trai lớn lên tin rằng mẹ yêu mình hơn anh. Và cái tin ấy là thật.

"Đoạn có đúng không?"

Nam Kha hỏi. Anh không hỏi Cao Cát mà hỏi cả bản đồ trên đất, cả bầu trời chiều đang ngả vàng phía trên lán kho, cả cái thế giới mà anh đang ngồi giữa.

Cao Cát nhìn anh lâu hơn bình thường, lâu đến mức Nam Kha tưởng ông sẽ không trả lời. Rồi ông nói chậm từng chữ nặng và rõ.

"Đoạn đúng về bất công. Mẹ hắn thiên vị, anh hắn ganh tị vì bị đối xử tệ. Những thứ đó là thật."

Ông ngừng một nhịp.

"Nhưng đúng không có nghĩa là thắng. Ở đây, đúng sai không phải luân lý mà là vị trí. Đoạn yếu hơn. Hắn đúng nhưng hắn yếu và kẻ yếu mà đúng thì chỉ đúng đến khi kẻ mạnh quyết định hắn sai."

Câu ấy rơi xuống mặt đất cạnh bản đồ. Nam Kha ngồi đó nghe nó rơi và không có gì để nói lại. Đơn giản vì Cao Cát đúng, đúng bằng cái đúng của người đã sống bao nhiêu năm giữa quyền lực và biết rằng quyền lực không cần luân lý. Quyền lực chỉ cần kết quả và kết quả luôn thuộc về người mạnh hơn.

"Dĩnh Khảo Thúc biết mà vẫn đánh cho Trang Công."

Nam Kha nói. Câu này không phải hỏi nữa mà là xác nhận, xác nhận một thứ mà anh đã cảm nhận từ đêm dưới gốc cây khi Khảo Thúc nói "nghĩa khí không cần người xứng đáng dùng nó". Nhưng bây giờ, dưới ánh sáng của bản đồ trên đất, thứ cảm nhận ấy rõ ràng hơn, đau hơn. Vì bây giờ anh hiểu Dĩnh Khảo Thúc không chỉ bị dùng bởi một vị vua khôn ngoan, ông bị dùng bởi một vị vua đã lên kế hoạch dùng ông từ rất lâu trước khi ông biết.

Cao Cát đứng dậy và phủi đất ở đầu gối, rồi nhìn xuống bản đồ lần cuối. Sau đó ông ta nói một câu mà Nam Kha sẽ nhớ rất lâu, nhớ qua bao nhiêu trận đánh, bao nhiêu triều đình, bao nhiêu vị vua khác nhau, nhớ cho đến tận cùng.

"Người ra trận vì dân, xưa nay vẫn chỉ là thanh giáo trong tay kẻ ra trận vì quyền."

Rồi ông đi, bước chân nhẹ, lưng hơi còng, tay khoanh sau lưng. Nam Kha ngồi lại một mình trước bản đồ trên đất, ba mũi tên, mười lăm làng, một cái túi.

Anh ngồi đó đủ lâu để nắng chiều dịch từ góc trái lán sang góc phải, đủ lâu để bóng cành cây Cao Cát để lại trên đất ngả dài rồi mờ đi khi mây che nắng. Trong suốt thời gian ấy, đầu anh không yên.

Anh nghĩ đến Trang Công, nghĩ đến cách ông hỏi thăm quần thần ấm áp, đúng mức, mắt không đổi. Nghĩ đến cách ông thở dài trước triều đình, mỗi chữ chọn kỹ, mỗi khoảng lặng đều tính toán. Và anh nhận ra rằng tất cả những lần ông nhẫn nhịn, tất cả những lần triều đình xôn xao mà ông nói "chưa đến lúc", tất cả đều không phải chờ đợi mà là đang tưới. Ông ta tưới nước cho Đoạn lớn, tưới nước cho cái cây mà ông biết mình sẽ chặt. Vì cây càng lớn thì khi đổ tiếng càng vang và tiếng vang ấy chính là thứ Trang Công cần. Vì khi cây đổ mà cả nước nghe thấy thì không ai dám trồng cây tiếp.

Anh nghĩ đến Đoạn và bụng anh quặn nhẹ. Không phải vì thương Đoạn mà vì thương cái phần con người trong Đoạn mà lịch sử không buồn chép. Sử chép Đoạn phản, Đoạn thua, Đoạn chạy, bốn chữ gọn ghẽ "Khắc Đoạn vu Yên". Nhưng sử không chép rằng Đoạn lớn lên được mẹ bế trên tay, được mẹ gọi bằng tên cưng, được mẹ nói "con xứng đáng hơn anh con". Và cái "xứng đáng" ấy, do mẹ nói, do đứa trẻ tin, nó thành máu thành xương thành lý do để cậu lớn lên nghĩ rằng mình đúng. Sau cùng, cái đúng ấy dẫn cậu thẳng vào cái túi.

Và anh nghĩ đến Dĩnh Khảo Thúc. Người sẽ cầm giáo đánh trận cho Trang Công. Người tin rằng nghĩa khí có giá trị bất kể ai dùng. Người ngồi dưới gốc cây nói với anh bằng giọng bình thản rằng biết bị dùng nhưng vẫn làm vì đúng. Và Trang Công, vị vua nuôi em để giết, sẽ dùng nghĩa khí của Dĩnh Khảo Thúc như dùng một thanh giáo. Rồi khi giáo gãy thì lấy thanh khác, vì vua không thiếu giáo bao giờ.

Câu Cao Cát vừa nói vang lại trong đầu anh chậm và nặng: Người ra trận vì dân, xưa nay vẫn chỉ là thanh giáo trong tay kẻ ra trận vì quyền. Và anh nghĩ rằng câu ấy không chỉ đúng ở Xuân Thu. Nó đúng ở mọi thời đại anh từng đọc, mọi cuộc chiến anh từng học, mọi lần người tốt cầm giáo ra trận và người giỏi ngồi trong phòng kín tính nước cờ. Kết quả là người tốt chết còn người giỏi viết sử.

Đăng đến tìm anh lúc trời gần tối. Ông ta đứng ở đầu lán và nhìn Nam Kha ngồi trước bản đồ trên đất,. Đăng không hỏi mà chỉ đứng đó vì ông không bao giờ hỏi khi câu trả lời đã nằm trên mặt người trước mặt.

"Đăng."

Nam Kha nói, không ngẩng lên.

"Đoạn sẽ phản. Mình sẽ đánh."

"Biết rồi."

Đăng đáp gọn.

"Trang Công nuôi Đoạn phản."

Đăng Im lặng, rồi ông bước đến ngồi xuống cạnh Nam Kha. Ông nhìn bản đồ trên đất, nhìn ba mũi tên và ông ta không nói gì trong một lúc lâu, mắt lướt qua từng đường vạch. Sau đó ông ta đưa chân gạt nhẹ xuống mặt đất, vạch thêm một đường từ phía nam, chỉ vào đoạn sông hẹp mà Cao Cát đã vẽ. Rồi Đăng vạch tiếp một mũi tên ngược từ bờ bên kia chỉ vào vùng đất Đoạn chiếm.

"Sông cạn."

Đăng nói.

"Mùa khô lội qua được. Không phải đường thoát mà thêm một mặt đánh."

Nam Kha nhìn mũi tên Đăng vừa vạch và nhận ra ông ta đúng. Đúng ở chỗ Cao Cát không vẽ vì Cao Cát tính bằng hậu cần, nhưng Đăng đã đi qua đủ rừng đủ sông để biết sông nào lội được sông nào không. Cái biết ấy không đến từ sách hay thẻ tre mà đến từ bàn chân đã dẫm đủ bùn. Bây giờ là bốn mũi tên chứ không phải ba. Cái túi chặt hơn một mặt.

"Đánh thì đánh."

Đăng nói tiếp với giọng phẳng và cái phẳng ấy không phải vô cảm mà là đã chấp nhận, kiểu người đã nhìn thấy lửa cháy và không hỏi vì sao mà hỏi cháy ở đâu để biết đứng chỗ nào.

"Ai nuôi ai giết không quan trọng. Quan trọng là mình đứng ở đâu khi nó bùng lên."

Nam Kha nhìn Đăng. Trong khoảnh khắc ấy, anh ghen tị với cái đơn giản của Đăng, ghen tị thật sự, vì Đăng không biết lịch sử, không biết ai thắng ai thua, không biết Dĩnh Khảo Thúc sẽ chết. Đăng chỉ biết giáo trong tay, người bên cạnh, trận trước mặt. Cái biết ấy sạch và gọn, không có tầng nào phía dưới để đào, không có nỗi đau nào của người biết trước mà không nói được. Anh ghen tị và cái ghen tị ấy cay, vì anh biết rằng mình sẽ không bao giờ có được cái đơn giản ấy. Không bao giờ vì một khi đã biết thì không thể quên và cái biết ấy là cái giá anh trả cho việc xuyên không, cái giá mà không ai nói trước và không ai chia được.

"Đăng."

"Gì?"

"Nếu tôi nói tôi biết trước chuyện gì đó sẽ xảy ra, anh có tin không?"

Đăng nhìn Nam Kha lâu, mắt không đổi, rồi nói:

"Biết trước hay không không quan trọng. Quan trọng là ngươi có làm gì với cái biết ấy không."

Câu đó đơn giản đến mức Nam Kha muốn cười vì nó đúng, đúng theo cách mà triết học ngàn trang không nói được gọn hơn. Đăng nói ra bằng giọng của người cầm giáo chứ không phải người đọc sách. Cái đúng ấy cắt thẳng vào chỗ Nam Kha đang đau nhất: anh biết nhưng anh đã làm gì?

Chưa, anh chưa làm gì.

Đăng đi được một lúc thì Nghĩa xuất hiện ở đầu lán. Cậu đứng ngoài nhìn vào, mắt lướt qua bản đồ trên đất rồi lướt qua mặt Nam Kha. Cậu đứng đó một nhịp, kiểu người muốn hỏi nhưng nhận ra đây không phải lúc hỏi. Rồi Nghĩa nói nhẹ.

"Anh Kha, cha bảo về ăn cơm."

Nam Kha nhìn Nghĩa. Trong câu nhẹ nhàng ấy anh nghe thấy thứ gì đó quen, quen vì đây là lần thứ hai bát cơm của Dĩnh Khảo Thúc vọng đến anh qua miệng người khác. Lần nào nó cũng đến vào lúc anh đang nghĩ về những thứ nặng hơn cơm rất nhiều, nhưng cơm thì vẫn phải ăn, vì người sống thì phải ăn. Và người sống mới có thể làm gì đó với những thứ mình biết.

"Anh ra sau."

Nam Kha nói.

Nghĩa gật và không hỏi thêm. Cậu quay người đi, bước chân nhẹ. Nam Kha nhìn theo lưng cậu, mười sáu mười bảy tuổi, con trai của một người cha sẽ bị dùng và một vị vua sẽ dùng. Cậu chưa biết gì, chỉ biết cha kêu về ăn cơm.

Đêm đó, Nam Kha quay lại bản đồ trên đất, ngồi một mình trong bóng tối, ánh trăng lọt qua kẽ mái lán chiếu vào bốn mũi tên đã mờ dưới đất, ba của Cao Cát và một của Đăng. Anh nhìn chúng, nhìn cái túi Trang Công may cho Đoạn, nhìn mười lăm làng ba ấp nhỏ nằm gọn trong đó. Anh nghĩ đến những con người sống trong mười lăm làng ấy, những người nông dân đang ngủ trong nhà tranh lúc này, không biết rằng đất họ đang sống là đất bẫy. Khi quân Trịnh kéo đến thì họ sẽ là người đầu tiên phải chạy, phải bỏ nhà, bỏ ruộng, bỏ mùa vụ đang chín. Họ vô danh, vô hình, giống hệt những hàng quân Nam Kha đã nhìn ở sân tập ấp Dĩnh mà sách sử gói gọn trong một dòng.

Và anh nghĩ đến Dĩnh Khảo Thúc, người sẽ cầm giáo đánh trận cho Trang Công, người là một mắt xích trong cỗ máy mà vị vua nuôi rắn ấy vận hành. Nếu anh rút Khảo Thúc ra khỏi cỗ máy thì cỗ máy có dừng không, hay Trang Công sẽ thay bằng mắt xích khác, và mắt xích khác ấy sẽ là ai? Lịch sử chỉ chép một phiên bản, phiên bản Dĩnh Khảo Thúc sống, Dĩnh Khảo Thúc đánh trận, Dĩnh Khảo Thúc can gián, rồi Dĩnh Khảo Thúc chết vì Tử Đô bắn lén. Anh đang ngồi trong phiên bản ấy với khả năng mà không ai có: biết trước. Nhưng biết trước mà không có bản đồ của các phiên bản khác thì biết trước chỉ là thêm một cách đau, thêm một cách nhìn người mình quý đi vào chỗ chết mà không la lên được.

Anh ngồi đó cho đến khi trăng lên cao, ánh sáng trắng tràn vào lán, bốn mũi tên trên đất bây giờ chỉ còn là vệt mờ. Rồi anh đưa tay xoa mặt vì mệt, kiểu mệt không phải vì thiếu ngủ mà vì nghĩ quá nhiều. Cái nghĩ ấy không dẫn đến đâu, nó cứ xoay vòng, cứ quay, cứ hỏi cùng một câu hỏi mà không có câu trả lời.

Gió đêm thổi qua, lạnh hơn bình thường. Ở đâu đó trong doanh trại, tiếng A Sơn hát vọng lại từ khu nhóm Việt. Giai điệu Lạc Việt cổ chậm rãi, quen thuộc. Nam Kha nhắm mắt nghe, để giai điệu ấy lấp vào khoảng trống trong đầu anh. Ít nhất cho đến sáng mai, ít nhất cho đến khi anh phải mở mắt ra và đối mặt với cái thế giới mà ông vua nuôi em để giết, tướng biết bị dùng mà vẫn đánh. Còn anh, chàng sinh viên năm tư ngồi trước bản đồ vẽ trên đất mà không biết phải làm gì với tất cả những thứ mình biết.

Nhưng Đăng đã nói rồi. Biết trước hay không không quan trọng. Quan trọng là có làm gì với cái biết ấy không.

Lần đầu tiên kể từ khi xuyên không, Nam Kha quyết định rằng anh sẽ làm nhưng chưa biết làm gì. Chưa biết bằng cách nào nhưng sẽ làm. Vì nếu không làm thì cái biết ấy chỉ là thêm một cách nhìn người chết và anh đã nhìn đủ rồi.

0