Chương 33: Công Pháp
Phàm Nhân Quật Khởi
Mục lục
37 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 37/37 chương
Lật qua những trang da thú đầu tiên được viết bằng thứ mực đen đặc chế không phai trong ẩm ướt, ánh mắt của Lâm Uyên trầm xuống. Nửa đầu cuốn sổ ghi chép toàn văn một môn công pháp mang tên Huyết Sát Chân Giải, sau vài dòng giới thiệu đã cho biết đây không phải võ học phàm tục, mà là công pháp tu luyện chính thống dành cho đệ tử ngoại môn của Huyết Hà Tông, cũng chính là bản gốc mà từ đó đám tu sĩ Ma đạo đã cắt xén để tạo ra mười tầng Ngưng Huyết Công phát cho toàn bộ khoáng nô dưới giếng mỏ!
Chỉ cần đọc kỹ ba trang khẩu quyết đầu tiên dưới vệt sáng mờ, với kinh nghiệm của người đã tự mình dò dẫm từng đường mạch máu để cải biên thành Luyện Huyết, Lâm Uyên đã nhìn thấu toàn bộ chỗ hiểm độc của bản sách vải dưới mỏ. Trong bản Huyết Sát Chân Giải nguyên gốc này, đệ tử ngoại môn của Huyết Hà Tông bắt buộc phải dùng linh căn dẫn nạp linh khí thiên địa hòa vào huyết mạch, cứ sau mỗi một nhịp thúc ép máu nóng bùng phát để tăng thực lực thì tu sĩ đều phải lấy linh khí làm sợi dây dẫn đường để thực hiện hai nhịp “thu huyết quy tạng” và “dưỡng tủy khóa mạch”, giữ cho tinh huyết tuần hoàn ôn dưỡng tạng phủ mà không bị thất thoát ra ngoài.
Thế nhưng, phàm nhân và võ giả bị bắt xuống mỏ vốn không có linh căn để dẫn linh khí. Bởi vậy, khi soạn ra bản Ngưng Huyết Công, đám tu sĩ Huyết Hà Tông đã thẳng tay xóa bỏ toàn bộ phần dẫn linh khí thu huyết ấy, đồng thời ghép phần phụ lục ở nửa sau cuốn sổ vào, chính là pháp môn Luyện Chế Huyết Nô đi kèm theo bộ công pháp này!
Khi Lâm Uyên lật sang những trang da thú ở nửa sau cuốn sổ, từng dòng chữ ghi chú viết tay của chính gã đại quản sự mặt sẹo cùng hình vẽ hai chiếc móc sắt xuyên qua huyệt đạo ở xương bả vai làm cho Chu Mậu và lão Mạnh đứng bên cạnh phải rùng mình ớn lạnh.
Để những kẻ không có linh căn dưới đáy giếng vẫn có thể kích phát sức mạnh đào quặng, pháp môn phụ lục này dùng lối đứng tấn vặn xoắn gân cốt và nhịp thở nén áp lực từ bên ngoài để cưỡng bức ép máu nóng dồn thẳng lên cơ bắp và hộp sọ mà không cần kinh mạch thông suốt.
Trên mặt da thú ghi chép ngắn gọn và lạnh lùng như tính sổ gia súc: phàm những khoáng nô luyện bản cắt xén tới tầng bảy, toàn bộ tiềm lực trong tủy sống đã bị rút cạn ra tứ chi, thần trí bắt đầu đờ đẫn hôn mê thì lập tức đưa lên phòng đá để đóng móc đồng khóa huyệt và cho uống thuốc tẩy tủy, biến thành Huyết Nô giữ mỏ hoặc bán cho các đường khẩu làm bia đỡ đạn. Ngay ở trang gần cuối còn ghi rõ danh sách mười mấy cái tên đã bị luyện thành công trong nửa năm qua, mà cái tên nằm ở dòng dưới cùng, vừa được gạch chéo bằng mực đỏ cách đây hơn một tháng, chính là hai chữ “Hồ Liệt”!
- Quả nhiên... Quả nhiên là như vậy!
Đôi bàn tay chai sần của Chu Mậu nắm chặt thành nắm đấm đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, giọng nói run lên vì căm phẫn và cả nỗi sợ hãi muộn màng:
- Thảo nào lúc Hồ Liệt lên tới tầng bảy được gọi lên mặt đất, tên quản sự mặt sẹo lại cười nói vui vẻ bảo là cho lên làm đội trưởng tuần tra và chờ trưởng lão điểm hóa linh căn! Hóa ra từ đầu tới cuối, cả cái giếng mỏ mấy trăm mạng người chúng ta chỉ là một cái chuồng nuôi người lấy máu của bọn chúng! Nếu không nhờ Lâm Uyên sớm nhìn ra chỗ bất thường và cản ta từ dưới hầm, có khi chính những huynh đệ còn sống dưới đó đến lúc chết vẫn tưởng mình đang được bước chân vào tiên môn!
Lão Mạnh cũng thở dài một tiếng run rẩy, lắc đầu nhìn cuốn sổ da thú:
- Thảo nào mấy năm nay, chưa từng có một ai được gọi lên mặt đất nhận thưởng mà quay xuống thăm đồng tù lấy một lần. Tất cả đều đã biến thành thứ quái vật không biết đau, không biết nhận người quen như Hồ Liệt cả rồi!
Lâm Uyên không lên tiếng, ánh mắt hắn lặng lẽ quét qua những trang khẩu quyết dẫn linh khí ở nửa đầu rồi lại dừng ở những đồ hình vặn gân ép huyết của thuật luyện Huyết Nô ở nửa sau.
Đối với người khác, cuốn sổ da thú này vừa là thứ công pháp Tiên gia không thể tu luyện nếu thiếu linh căn, vừa là bản án tử hình đầy tà độc; nhưng trong đầu Lâm Uyên lúc này lại đồng thời sáng lên hai con đường rõ rệt.
Thứ nhất là con đường của chính hắn. Hắn không có linh căn để hút linh khí thiên địa như đệ tử ngoại môn Huyết Hà Tông, nhưng trong mười hai đường kinh mạch của hắn lại có sẵn luồng nội lực Tiên Thiên tinh thuần chảy thông suốt.
Trước kia dưới đáy mỏ, hắn chỉ mới mò mẫm dùng nội lực chặn giữ từng tia huyết khí nhỏ lẻ; giờ đã có toàn văn đường vận hành của Huyết Sát Chân Giải trong tay, chỉ cần đợi vết thương ổn định rồi đem đối chiếu qua viên đá màu xám tro trong ngực, hắn hoàn toàn có thể suy diễn ra cách dùng nội lực Tiên Thiên thay thế hoàn toàn linh khí để dẫn huyết tu luyện!
Thứ hai, cũng là điều làm tim hắn đập mạnh hơn cả, nằm ngay ở phần phụ lục luyện Huyết Nô kia. Lâm Uyên ngước mắt nhìn sang Chu Mậu, kẻ này một người thợ mỏ chỉ luyện được chút ngạnh công thô thiển ngoài da, kinh mạch trong người đặc kín chưa từng thông suốt, hoàn toàn không có nội lực Tiên Thiên để dẫn dắt máu huyết từ bên trong.
Sở dĩ tà thuật Huyết Nô có thể biến những phàm nhân kinh mạch tắc nghẽn thành những cỗ máy lực lớn vô cùng là bởi nó bỏ qua việc dẫn khí trong kinh mạch, trực tiếp dùng tư thế chịu tải của khung xương, độ căng của thớ thịt và hơi thở nén từ bên ngoài để ép khí huyết thấm thẳng vào gân cốt.
Chỗ độc của nó chỉ nằm ở đoạn cuối rút cạn tủy não làm hỏng thần trí. Nếu hắn có thể dùng viên đá xám lọc bỏ hoàn toàn phần bức ép tủy sống, rồi kết hợp cách chịu lực của thuật Huyết Nô với nhịp dưỡng tủy trong chân công, chẳng phải sẽ mở ra một pháp môn rèn luyện nhục thân dành riêng cho những người phàm không có linh căn, cũng chẳng có nội lực như Chu Mậu hay sao?
Ghi nhớ kỹ từng chữ trên mặt da thú vào đầu, Lâm Uyên gấp cuốn sổ lại, bọc vào túi giấy dầu rồi cất sâu vào trong ngực áo. Dù hai hướng đi vừa mở ra trước mắt là nền móng vô giá cho chặng đường phía trước, nhưng hắn thừa tỉnh táo để biết rằng: ngay lúc này bả vai trái của hắn còn đang rách toạc, khí huyết trong người hao hụt quá nửa sau trận tử chiến, tuyệt đối không phải là lúc đem viên đá xám ra hao tổn tâm thần hay mạo hiểm thử nghiệm công pháp mới.
Nghỉ ngơi bên hốc nước ngầm được hơn một canh giờ, cơn khát đã dịu đi nhưng cái đói cồn cào lại bắt đầu cấu xé dạ dày của cả năm người. Từ phía ngoài cửa hầm bị đá lấp, thỉnh thoảng vẫn còn vọng vào tiếng tù và xa xăm của các đội tuần sơn đang lùng sục khắp các sườn núi quanh mỏ.
- Cứ ngồi mãi ở đoạn đầu hầm này không ổn đâu.
Chu Mậu đứng dậy, cầm thanh đoản kiếm thép đi dọc theo vách hầm thăm dò cổ thêm mười mấy bước về phía trong rồi quay lại nói với Lâm Uyên và lão Mạnh:
- Chúng ta tuy có nước uống cầm hơi, nhưng trong túi không có lấy một hạt lương thực nào. Nếu đội tuần sơn của Huyết Hà Tông cứ đóng chốt dưới chân núi thêm ba bốn ngày nữa, chúng ta chưa bị chúng bắt được thì cũng đã mất mạng vì đói trong cái hang đá lạnh này rồi.
- Nhưng bên ngoài đang có chó săn và tu sĩ lùng sục, giờ mà thò đầu ra khỏi cửa hầm đi hái quả rừng thì khác nào tự chui vào rọ?
A Hòa lo lắng hỏi lại.
- Ý ta không phải là quay ra ngoài cửa hầm cũ, mà là đi sâu vào phía trong lòng núi này!
Chu Mậu chỉ mũi kiếm vào khoảng tối hun hút phía cuối đường hầm thăm dò, đôi mắt của người thợ mỏ lâu năm ánh lên vẻ suy xét cẩn trọng:
- Lúc nãy khi ngồi canh ở gần hốc nước, ta đã để ý kỹ luồng gió và dòng nước rỉ trong hang này rồi. Các ngươi thử cảm nhận mà xem: nếu phía trong kia chỉ là một cái túi đá ngầm bịt kín như lời đồn lúc bỏ mỏ, thì gió thổi ra phải lạnh buốt và sặc mùi khí đá ẩm mốc lâu ngày. Nhưng đằng này, luồng gió thổi từ sâu trong lòng hầm ra phía cửa hang lại có hơi ấm rất nhẹ, hơn nữa càng vào sâu không khí lại càng thoáng đãng chứ không hề ngộp thở!
Nghe Chu Mậu nói vậy, lão Mạnh vội vàng vịn vách đá đứng dậy, bước lên vài bước về phía trong hầm rồi nhắm mắt hít sâu một hơi dài qua cánh mũi.
Chỉ một thoáng sau, lão y công già bỗng giật mình mở choàng mắt, cúi thấp người xuống nhặt một vật nhỏ đang mắc lại ở kẽ đá ẩm dưới chân lên đưa ra trước vệt sáng mờ:
- Chu Mậu nói đúng đấy! Các ngươi nhìn xem, trong kẽ đá có gió thổi qua này lại có một chiếc lá rụng bị gió cuốn tới đây!
Lâm Uyên bước lại gần nhìn xuống lòng bàn tay run rẩy của lão Mạnh. Nằm trên tay lão không phải là một chiếc lá rừng thông thường, mà là một phiến lá dày và dẻo, mặt lá xanh thẫm nổi rõ những đường gân màu đỏ sẫm chẳng khác nào mạch máu đang đập.
Kỳ lạ hơn cả là dù đã rời cành, phiến lá ấy vẫn tỏa ra một mùi hương thảo mộc trầm ấm, ngọt dịu vô cùng đặc biệt, chỉ vừa hít nhẹ một hơi vào lồng ngực, cảm giác lạnh lẽo và mỏi mệt do mất máu suốt đêm qua trong người Lâm Uyên đã dịu đi thấy rõ, dòng khí huyết đang khô cạn dưới lớp da thịt cũng khẽ ấm lên một nhịp!
Đôi mắt vốn đục mờ của lão Mạnh sáng rực lên trong bóng tối, giọng nói lạc đi vì xúc động:
- Mùi hương trầm ấm thấm thẳng vào khí huyết thế này... Cả đời ta làm ở khu dược thảo của mỏ cũng chưa từng thấy qua cây thuốc nào giữ được sinh khí mạnh đến vậy! Phía bên kia đường hầm thăm dò cổ này chắc chắn thông ra một thung lũng hoặc hố sụt lộ thiên nằm lọt giữa lòng núi, hơn nữa trong đó nhất định đang có một loại dược vật có thể bòi bổ khí huyết đang sinh trưởng!
Một tia hy vọng bừng lên trên gương mặt mệt mỏi của cả năm người.
- Đi! Chúng ta vào cuối hầm kiểm tra xem sao. Chu đại ca đi trước dò nền đá, mọi người giữ cự ly sát nhau, nếu thấy đường bị ngập nước sâu hoặc vòm đá có dấu hiệu nứt gãy thì lùi lại ngay!
Lâm Uyên đón lấy thanh đoản đao từ tay A Hòa cầm bên tay phải để phòng bất trắc, cùng cả nhóm men theo luồng gió ấm mang hương lá lạ tiến sâu vào lòng đường hầm thăm dò cổ.
Đường hầm do đám khoáng nô đời đầu đục vào vách đá vôi kéo dài chừng gần một trăm trượng thì bắt đầu thu hẹp lại và dốc thoai thoải xuống dưới. Đi tới khúc quanh cuối cùng, bước chân của Chu Mậu ở phía trước dừng hẳn lại.
Chắn ngang trước mặt cả nhóm là một đống đá vôi sạt lở từ trên vòm hang đổ xuống tự bao giờ, bịt kín gần hết lối đi, có lẽ chính vụ sạt vòm năm xưa này đã khiến đám giám công tưởng rằng phía trước hết đường và quyết định bỏ phế con hầm thăm dò. Thế nhưng, ngay ở góc trên bên phải của đống đá sạt ấy, một khe hở rộng chừng hai gang tay vẫn đang để lọt qua một luồng ánh sáng ban ngày trắng dịu, kèm theo làn gió ấm mang đậm hương thơm nồng hậu vừa ngửi thấy lúc nãy và tiếng chim rừng hót lảnh lót từ phía bên kia vọng lại!
- Có ánh sáng thật rồi! Phía sau đống đá đổ này là ngoài trời!
Đinh Lục và A Hòa mừng đến suýt nữa reo lên thành tiếng, vội vàng lao tới bên đống đá sạt, ghé mắt nhìn qua khe hở.
- Đừng đứng nhìn nữa, mấy tảng đá chắn ở giữa chỉ là đá tảng rơi chồng lên nhau thôi, chưa bị đất bít chặt đâu! Mau hợp sức nạy tảng đá chèn ở dưới chân ra là mở được lối chui qua đấy!
Chu Mậu gõ mũi kiếm vào tảng đá vôi lớn nhất đang chèn ngang khe hở, nhìn ra điểm chịu lực rồi nhặt một thanh sắt tròn gỉ sét của thợ mỏ bỏ quên dưới nền đất chọc sâu vào khe đá.
A Hòa và Đinh Lục nhanh chóng lao vào nắm lấy đầu thanh sắt cùng với Chu Mậu, lão Mạnh cũng dùng hai tay đẩy phụ vào sườn tảng đá bên cạnh. Lâm Uyên bước lên sát bên phải Chu Mậu; hắn nhớ lời dặn của lão Mạnh nên hoàn toàn thả lỏng bả vai trái đang quấn băng, chỉ chùng gối hạ trọng tâm, vận một phần lực Luyện Huyết cùng nội lực trong mức cơ thể chịu đựng được dồn vào vai phải và hai đùi, tì chặt vào góc tảng đá chèn:
- Đẩy!
“Răng rắc... Ầm!”
Dưới sức hợp lực của cả năm con người, tảng đá vôi nặng hàng trăm cân đang khóa ở chân đống sạt lở từ từ dịch chuyển rồi lăn ầm một tiếng sang hốc trũng bên cạnh, kéo theo một loạt đá vụn phía trên đổ rào rào xuống nền hầm. Bụi đá trắng xóa vừa lắng xuống, khe hở vốn chỉ rộng hai gang tay đã mở rộng thành một lối vòm đủ cho một người trưởng thành khom lưng bước qua.
Lâm Uyên cùng Chu Mậu bước qua khe đá trước tiên.
Ngay khi vừa lách mình ra khỏi bóng tối ẩm lạnh của đường hầm cổ, đôi mắt vốn đã quen với màu đen của đáy giếng mỏ và màu đất đỏ cằn cỗi của khu mỏ bỗng chốc bị choáng ngợp bởi khung cảnh hiện ra trước mặt.
Trước mắt họ không phải là sườn núi dốc hiểm trở bên ngoài, mà là một thung lũng khép kín rộng chừng vài chục mẫu nằm lọt thỏm dưới đáy bốn bức vách núi đá vôi cao vút dựng đứng như miệng giếng trời khổng lồ. Nhờ địa thế bốn bề đá cao chắn hết gió độc và sương lạnh từ bên ngoài, lòng thung lũng tràn ngập ánh nắng ban mai ấm áp, cỏ cây xanh tốt vây quanh hai nhánh suối nhỏ trong vắt chảy ra từ khe núi phía bắc.
Thế nhưng, thứ thu hút toàn bộ ánh nhìn của cả năm người ngay từ khoảnh khắc đầu tiên lại nằm ở gò đất cao chính giữa lòng thung lũng, nơi hai dòng suối ngầm ấm áp giao nhau.
Sừng sững trên gò đất đỏ ấy là một gốc cổ thụ thân gỗ thấp nhưng bộ rễ nổi gân guốc như rồng cuộn, cắm sâu vào tầng đá mẹ bên dưới, dù một góc đất quanh rễ đang bị nước mưa xói lở và vài nhánh dây leo dại đang quấn chặt lấy cành bên.
Thân cây mang một màu nâu đỏ sẫm như sắc máu khô đã kết tinh qua hàng trăm năm, tán lá xòe rộng phủ kín cả gò đất bằng những phiến lá dày có đường gân đỏ thẫm giống hệt chiếc lá trong hầm. Và bên dưới vòm lá ấy, hơn chục trái cây màu đỏ thẫm căng mọng như ngọc huyết đang đung đưa trong nắng sớm, tỏa ra thứ hương thơm trầm ấm, thuần hậu nuôi dưỡng sinh cơ cho toàn bộ các loài thảo dược mọc quanh thung lũng!
- Trời đất ơi... Đây là... đây….!
Lão Mạnh bước tập tễnh qua khe đá, vừa nhìn thấy gốc cổ thụ cùng những trái đỏ trên gò đất trung tâm thì cả người run bắn lên, giọng nói nghẹn đặc trong cổ họng, dù không biết đây là loài cây gì nhưng từ những gì nó thể hiện qua đã cho thấy giá trị liên thành của nó, ngoài ra xung quanh thung lũng cũng mọc đầy những dược liệu quý báu mà lão chỉ có thể biết qua hình vẽ trong sách.
Còn Lâm Uyên đứng lặng bên bờ suối ấm, bàn tay phải vô thức đặt lên cuốn sổ da thú giấu trước ngực. Hơi nước ấm áp mang theo mùi hương thảo mộc trầm hậu phả vào mặt khiến tinh thần đang căng như dây đàn suốt đêm qua của hắn dịu đi đôi chút, dù vết chém sâu trên bả vai trái vẫn nhức buốt theo từng nhịp đập của mạch máu.
Nhìn gốc cổ thụ kỳ dị giữa lòng thung lũng kín, ánh mắt hắn trầm xuống: nếu nơi này thực sự biệt lập với tai mắt của Huyết Hà Tông, còn lá của gốc cây kia quả thực có dược tính bồi bổ khí huyết như lời lão Mạnh nói, thì đây không chỉ là chốn dung thân giúp cả nhóm giữ mạng, mà còn là nơi hắn có đủ thời gian và thuốc thang để đối chiếu cuốn sổ trong ngực áo, tìm cách gỡ bỏ những nút thắt nguy hiểm còn sót lại trong lối dẫn huyết của mình.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.