Tranh Bá

Chương 37: Tâm Tính (Kết)

Đăng: 07/10/2026 22:38 2,777 từ 27 lượt đọc

Mực trong nghiên gờn gợn từng cơn sóng, óng ánh lấp lánh dưới nắng sáng đầu ngọn tre. Chữ trên giấy chưa khô mờ dần rồi biến mất hẳn,


Hoàng Tiên Xuân xua tay, khi ấy cây bút lông vẫn còn trên tay. Ông khẽ nói:


- Được rồi, lui xuống đi. Cảm tạ ngươi đã giúp ta thuyên giảm cơn đau vai gáy.


Huyền Hoa làm sao có thể nhận lời cảm ơn này, so với cơ duyên mà tiên sinh mang lại còn lớn hơn gấp ngàn lần, nàng cúi đầu sâu chắp tay:


- Tiểu nữ tử xin cảm tạ ân đức của tiền bối…


Nàng muốn nói tiếp nhưng lại cảm thấy bản thân thật sự bé nhỏ, chẳng thứ gì mà nàng có thể lấy ra để cảm. Chỉ đành lui xuống trong âm thầm.


Lão Chư nằm võng thấy việc đã xong, nhiều khay kháy, mắt nhay nháy nói vui vẻ:


- Bóp vai xong chưa? Bóp vai xong rồi thì đi về thoi. Nhà có nhiều người cần ngươi bốc thuốc chữa bệnh lắm.


Huyền Hoa quay đầu lại nhìn lão, rồi quay lại nhìn thầy Xuân. Xong rồi mới khẽ nói:


- Tiên sinh, tiểu nữ xin phép đi về cùng thầy lang ạ. Xin lỗi đã làm phiền tiên sinh.


Thầy Xuân khẽ gật đầu.


Lão Chư bật dậy, người hồ hởi, tinh thần rất sảng khoái đi đến gần thầy Xuân tay vẫy vẫy:


- Lão Xuân này, chỗ này của ông tuyệt vời đấy! Nằm đây mà thấy tinh thần sảng khoái hẳn, người nhẹ bâng. Đúng là chỗ nhiều chữ à.

Hê hê…


Thầy Xuân nói:


- Ông cứ nói đùa rồi.


- Hê hê… Đi về nhá. Nào rảnh lại đến chơi nhá! Tạm biệt nhá! Trà nhà ông ngon đấy.


Lão Chư đi dần ra ngoài, tay vẫy tạm biệt.


Hoàng Tiên Xuân cười nhẹ nhàng, cảm thấy có chút buồn cười. Buồn cười lão này ăn nói thiếu chủ ngữ, mà toàn vậy nên cũng kệ thôi.


Lý Hóa Sinh vẫn cứ đứng đó nhìn.


Thầy Xuân liếc mắt nhìn bóng nắng đổ, rồi lại tiếp tục luyện chữ. Ông không quên nói:


- Tiểu tử ngươi đến đây có việc gì?

Hắn đứng lặng như chôn chân, mặt đơ ra như hồn lìa khỏi xác, phải đến khi mà thầy Xuân nhắc mới bừng tỉnh rồi bước vội đến.


…


Thầy Xuân lười, chẳng màng rót trà cho tiểu tử này nữa, chỉ đánh mắt ra hiệu.


Hắn biết ý, liền tự động rót trà.


Khung cảnh lại im lặng như tờ. Chỉ có tiếng gió thổi lá, đá mùi hương hoa và chim chóc hót líu lo trên cành cây.


…


Phải rất lâu thầy Xuân nhìn hắn rồi nói nhẹ:


- Khách đến nhà rất đáng quý, thầy giáo nghèo như ta cũng chẳng có gì. Hay là ngươi ở lại ăn bữa cơm cùng với ta cho vui?


Lý Hóa Sinh ngẩn người, chợt nhìn bóng nắng mới biết là sắp trưa. Hắn hiểu ngay ý trong câu hỏi của thầy Xuân liền cảm thấy ngại ngùng…


Mới đầu khi đến đây, bản thân tỏ vẻ hơn người ta đây bao nhiêu thì giờ lại khúm núm khép nép bấy nhiêu, hắn muốn ngẩng cao đầu để cái khí chất của bản thân bộc phát, hắn muốn vấn đáp học đạo, hắn muốn tỏ ra là…


Tất cả cũng chỉ là ý muốn…


Thầy Xuân là thầy giáo đời thường, giản dị, càng nhìn lại càng thấy giản dị, trông không thể nào giản dị hơn nữa. Nếu không phải biết danh xưng của ông ở Văn Miếu thì hắn đã nghĩ người trước mắt chỉ là thầy giáo bình thường dạy học chốn thôn quê. Vì lẽ ấy mà hắn không dám hỏi, không dám nói, bao nhiêu tính cách bên ngoài phải có cụm lại vào trong mà biến thành kẻ rụt rè.


Lý Hóa Sinh run rẩy thoáng lát, cơn ớn lạnh lan từ xuống toàn thân.


Hắn chầm chậm lấy trong vạt áo một túi lụa ấm nhỏ rồi đặt lên bàn.


Thầy Xuân đợi mãi chả thấy nói gì bèn cười nhè nhẹ hỏi lại:


- Ồ thứ gì đây?


Nghĩ rất lâu hắn mới dám nói:


- Tiên sinh của tiểu bối gửi ngài cái này.


Thầy Xuân nâng túi gấm lên ngắm nghía rất lâu, cũng rất kỹ càng, ánh mắt chợt đổi vẻ tươi cười:

- Ồ thì ra là một chiếc vòng đan tay cầu may mua ở gần cầu Thê Húc. Rất đẹp!


Trong đó rơi ra một mẩu chữ nhỏ.


Thầy Xuân nhặt nó lên đọc:


“Tâm Thân Bất Định Đạo Đức Bất Minh”.


Nói rồi ông chợt cười nhè nhẹ, mắt nhắm nghiền như nghĩ ngợi về một điều gì đó, chợt cảm thấy đầu óc cảm giác sảng khoái lạ kỳ, hôm nay đúng là ngày tốt khi gặp toàn chuyện hay, chuyện khiến ông thanh thản.


Hoàng Tiên Xuân đương nhiên rất vui. Ý định cũng rất hào phóng.


Ông rót cho hắn chén chè đặc, chén này rất đắng.


- Nói đi, ngươi muốn hỏi điều gì?


Lý Hóa Sinh cúi gằm mặt xuống đất, tay siết chặt vạt áo, nghĩ đến câu muốn hỏi thì mồ hôi lại chảy đầm đìa dù phía sau lưng là cơn gió mát lạnh, tạo cho hắn cảm giác vừa nóng vừa lạnh. Chính bản thân mình cũng không biết có nên hỏi câu này hay không nhưng thật lòng đây là điều hắn luôn canh cánh trong lòng, làm bản thân phải suy nghĩ hằng đêm…


Càng ngẫm nghĩ thì lòng quyết tâm lại một ngày dâng cao, hắn cắn môi sau lại cắn chặt hàm trên dưới, căng thẳng hơn bất cứ khi nào. Có thể nói là câu hỏi của hắn có phần thô thiển, không, đúng hơn là rất thô thiển. Tự nhiên dửng mỡ đi hỏi mấy câu vớ vẩn…


Người hỏi còn là…


Hắn nghĩ rất lâu, rồi ngẩng cao đầu hỏi dõng dạc, ánh mắt kiên định.


- Tiên sinh, trong sách thánh hiền có viết là ‘Dù học văn thì cũng phải dùng nắm đấm để nói chuyện’ nghĩa là sao?


Hoàng Tiên Xuân bật cười, thật sự rất lâu rồi mới có người dám hỏi ông câu đấy. Tự nhiên ông lại thấy tên này rất dễ mến, dễ mến hơn cả thằng nhóc Trần Dương kia. Ông thư thả uống nốt chén chè còn chút cặn trà bã, thấy tâm trạng ngày hôm nay đặc biệt tốt lành, hỏi này vui hơn mà phải giải đáp mấy câu khó hiểu như ban nãy.


Ông hất tay, khung cảnh đảo chuyển ngay tức khắc.


- Ta sẽ cho ngươi thấy một cảnh này rất thú vị.


Ông nói nhỏ.


Gió cuốn mây tan, sương mù trắng xóa lập tức xé rạ làm đôi. Trước mắt không còn là gian nhà trà thanh tịnh tĩnh mịch, mà là giữa đình làng ngập tràn tiếng trống, tiếng loa hô, tiếng bước chân thình thịch vội vã.


Nắng trưa gắt gỏng dội thẳng xuống sân gạch rêu phong. Trống đình đánh "Tùng! Tùng! Tùng!" dồn dập như thúc trận. Dân làng nơi nào đó giục giã kéo nhau chạy ra xóm dưới, guốc gỗ gõ lách cách, tiếng đòn gánh ken kẹt, người bế con, kẻ mang gậy, xô đẩy chen chúc đến nghẹt thở.


Giữa sân đình, lão già trưởng làng béo múp, mặt đỏ gay vì men rượu, tay lăm lăm cái quạt mo quạt lấy quạt để, miệng gào lên oan oát:


- Bắt lấy nó! Trói gập cánh khuỷu nó lại cho ta! Cai lệ đâu, dùng roi mây quật nát lưng nó ra! Chỗ này là đình làng tôn nghiêm, đâu đến lượt loại dốt nát nghèo hèn như mày giơ tay múa chân!


Người bị vây giữa dải roi mây xối xả lại là một gã trai làng, người đẫm mồ hôi, áo nâu sồng rách bươm để lộ từng dải bắp thịt cuồn cuộn chắc như gỗ nghiến. Dưới chân hắn, gã đồ gàn của làng - kẻ vừa ngâm nga mấy câu kinh nghĩa thánh hiền để bênh vực cho tên chánh tổng chiếm đoạt ba sào ruộng mật của dân nghèo - đang nằm sõng soài, mặt mũi sưng xỉa, nghiên mực đĩa đĩa vỡ tan tành, mực đen loang lổ khắp vạt áo dài.


Dân làng xì xào, tiếng bàn tán nổi lên như ong vỡ tổ:


- Ôi chao! Thằng kia nó đánh thầy đồ thật rồi!


- Đánh đúng lắm! Thầy đồ gì mà bẻ cong ngòi bút, nhận vài ba cái thúng nếp của chánh tổng rồi viết giấy bán ruộng giả, ép nhà góa phụ phải ra đê ở!


- Nhưng đánh người ở sân đình là tội chết! Chánh tổng với cai lệ không tha cho nó đâu!


Cai lệ chực lao vào, dây thừng dơ cao, năm sáu gã tuần đinh cầm gậy tre nhọn hoắt hò reo xông xáo. Mẫn chẳng chút sợ hãi. Hắn nhổ một bãi nước bọt lẫn máu, hất hàm, đôi mắt đỏ ngầu quắc lên dữ tợn như hổ xuống núi. Hắn bước một bước, đất dưới chân gạch vỡ nát. Hắn vặn người, tung một cú đấm xé gió. “Bốp!” - gã cai lệ đi đầu văng xa cả thước, chiếc nón dấu văng khỏi đầu, gậy tre gãy đôi tại chỗ.


Tiếng hò reo của dân chúng vỡ òa, xen lẫn tiếng la hét hoảng loạn của lũ chức dịch. Người trai tráng gầm lên, giọng vang như tiếng thiên lôi giữa trời quang:


- Thánh hiền dạy đạo làm người, dạy thương dân khốn khổ! Lũ các người miệng tụng kinh thư, tay cầm bút lông mà lại đi cướp từng bát cơm của con nít, cướp miếng ăn của người già! Văn chương của các ngươi không cứu nổi đứa trẻ đói, lời thánh hiền của các ngươi không đòi lại được ruộng đất!


Hắn lại sải bước, bắp tay cuồn cuộn vung lên. Một đấm hạ gục gã tuần đinh. Hai đấm làm gã chánh tổng mặt cắt không còn một giọt máu phải thụt cổ chui tót xuống gầm bàn cúng.


- Nếu sách vở của các ngươi chỉ dùng để bóp cổ dân lành, thì ngày hôm nay, cái nắm đấm của một kẻ phàm phu tục tử này sẽ thay trời đòi lại lý lẽ!


Người làng như được tiếp thêm động lực, liền làm phản.


Thầy Xuân lơ lửng trong không trung cùng với Lý Hóa Sinh.


Ông nói nhỏ nhẹ:


- Đấy là kẻ học văn làm ác, chuyện dưới nhân gian. Chẳng khác biệt mấy, âu cũng là lẽ thường tình. Mà ngươi cũng chẳng phải là người thường, xem cho vui thôi.


Ông kéo vai hắn lại một lần nữa chuyển cảnh.


Cảnh đảo chuyển, gió lốc thốc ngược từ vực sâu hun hút.


Sương mù đỏ quạch như máu loang chảy qua từng khe đá. Hoàng Tiên Xuân phất gạt vạt áo, kéo Lý Hóa Sinh giáng thẳng xuống giữa trận sinh tử đồng đao.


Không còn là chốn làng quê thanh bình. Trước mắt là Huyết Sương Cốc - ranh giới sinh tử của nghìn năm oán khí.


Trời tối sầm. Trống trận rền rĩ, tiếng gào hú của quỷ ma lẫn trong tiếng gươm đao va nhau chát chúa. Dưới lòng vực, hàng trăm sĩ tử mình khoác áo dài xám, tay lăm lăm cuốn tre, miệng lẩm nhẩm chú thuật thánh hiền. Họ căng ngực dùng văn khí dựng lên một lớp màng sáng mỏng dảnh để chống lại hàng vạn bóng ma cùng binh đoàn thiết giáp của quan quân triều đình bạo ngược.


Giữa trận, một học sĩ trẻ tuổi đứng đó, đầu tóc rối bù, khóe miệng trào máu tươi, tu vi thực lực cả đời đang tiêu tán, một Nho Tu Thập Tam cảnh trung tinh đã rớt xuống Thập Nhất cảnh sau khi thủ hộ nơi này. Hắn vừa ho khạc ra từng hụm máu đậm, vừa dốc hết tàn lực gầm lên:


- “Phong Xuân Bất Tính, Thanh Tẩy Yêu Nghiệt!”


Mỗi câu kinh nghĩa thánh hiền cất lên, một dòng chữ vàng rực lại bay ra khỏi miệng hắn, hóa thành những cái khiên ánh sáng che chắn cho đám dân lành phía sau. Hắn tin vào văn đạo. Hắn tin lời thánh hiền có thể thanh tẩy, đẩy lùi lũ tà ma ngoại đạo.


Nhưng đáp lại lời hắn chỉ là tiếng cười ồ nham hiểm.


Một gã tướng ma mình mặc giáp sắt gỉ sét, tay cầm đại đao vung lên. “Soạt!” - dòng chữ vàng rực mỏng manh nát vụn như thủy tinh vỡ. Lưỡi đao sắc bén quét qua, ba vạt áo dài sĩ tử đứt đôi, máu phun xối xả lên mặt Doãn. Máu bắn vào mắt hắn, cay xè, đỏ ngầu.


- Văn chương rẻ rúm của mày đâu rồi? Lời dạy thánh hiền của mày đâu rồi? - Lão yêu tướng gầm lên, bước tới một bước, chân đạp nát vụn cuốn sách tre mà người học sĩ từng thức trắng hàng trăm đêm để chép.


Người học sĩ ngơ ngác. Hắn nhìn quanh. Đồng môn của hắn, những kẻ cả đời chỉ biết ôm nghiên mực, giờ đây gục xuống từng người một. Kẻ nát đầu, kẻ đứt tay, thân xác thịt nát xương tan dưới gót sắt và nanh nanh yêu ma. Văn khí nghìn năm tu tập, trước lưỡi đao thô bạo, chẳng qua chỉ là tờ giấy bồi gặp nước lửa!


Một gã tuần đinh cầm giáo sắt lao thẳng tới ngực hắn. Thời gian như ngưng đọng. Trong khoảnh khắc sinh tử cận kề, chiếc cọ lông trên tay Doãn gãy đôi.


Sự bất lực dâng lên thành ngọn lửa giận dữ xé nát tâm can. Hắn nhận ra rồi!


Lý lẽ không thông được với kẻ cầm đao! Đạo lý không cứu được người đang hấp hối! Giữa chốn nhân gian yêu ma này, văn từ chỉ là thứ tơ tơ mỏng manh, kẻ nắm đấm to mới là kẻ nắm giữ sinh tử!


“Rắc!”


Doãn ném phăng nửa thân cọ gãy. Hắn gầm lên một tiếng xé toạc cả vòm trời, mắt hóa đỏ quạch.


Hắn thét gào:


- Nếu đạo lý đã không thể thanh tẩy yêu ma, hôm nay ta sẽ biến nó thành vũ khí sắc bén nhất để giết yêu!!!


- Giết ta??? Lời ngươi nói mới buồn cười làm sao!!! Thứ đạo lý răn dạy nói giết gà dọa khỉ nhưng cũng chẳng dạy con người ta giết khỉ! Là tiếng vang lọt qua tai, từ tai này qua tai khác rồi tan biến. Há há há!!!


Thư sinh gầm thét:


- Hạo Nhiên Chính Khí! Thác Tự Ba Ngàn Văn! Khởi.


Sau lưng học sĩ là ba ngàn chữ vàng lấp lánh lơ lửng, theo hiệu lệnh mà đâm xuống như thác đổ…


Cảnh chiến đấu mãnh liệt…bi ai…bi tráng…


Người học sĩ không thể thắng. Cả thân mình tan rã thành từng dòng chữ nhỏ…


Thầy Xuân thở dài lắc đầu nói:


- Đến cuối đời mới hiểu tại sao phải dùng nắm đấm để nói chuyện.


Ông vỗ vai hắn. Khung cảnh trở lại như ban đầu.


Lý Hóa Sinh khi ấy trong lòng trào dâng một cảm xúc mãnh liệt, hắn muốn cứu giúp nhận ra rằng đó chỉ là hình ảnh trong quá khứ…


Muốn hỏi tại sao tiên sinh không cứu nhưng cái lẽ đó còn chẳng thể nói…


Thầy Xuân đứng trên hiên đình hỏi hắn:


- Rốt cuộc ngươi đã hiểu bao nhiêu phần?


Hắn cúi đầu hành lễ cảm tạ:


- Tiểu bối hiếu cũng ít nhất sáu phần.


Điều này khiến ông ngạc nhiên, tự yên mà phải ngợi khen:


- Sáu phần là nhiều rồi! Rất tốt rồi!


…


Lý Hóa Sinh tạm biệt rồi đi về.


Khoảng thời gian trước đó cũng khá lâu…


Trần Dương đi về đến gần làng rồi. Trên tay hắn đang cầm một quả lắc bằng bạc khá nhỏ nhắn, cũng chẳng có chi khác vì đây là đồ mà thằng nhóc kia đưa cho.


Hắn nhớ lại bức thư ấy, trong thư ghi rằng:


“Tiết Đông Chí ta lại một mình. Ngồi nhớ nàng trong màn sương đêm - Nguyễn Nguyệt Thanh.”


Trần Dương tất nhiên là không biết người phụ nữ này là ai, tất nhiên là cũng không biết bức thư ấy có ý nghĩa gì…


Điều khác lạ là thằng nhóc An Lý Đào kia, cứ như vừa tìm được kho vàng vậy!


Tạm gác lại, hắn chỉ nhớ đến lễ hội cầu mưa.


0