Chương 337: Kho Muối Quan Doanh Có Hai Loại Muối Không Bao Giờ Tan
Kho muối quan doanh ở bờ nam kênh Hậu Thủy sáng đèn suốt đêm.
Nó không cao như Hắc Tháp, không lạnh như nhà lao Tam ty, cũng chẳng có mùi son phấn chết người của nội đình, nhưng người trong kinh thành đều biết nơi này khó động hơn cả phủ vương hầu. Một đấu muối thiếu đi, ngoài chợ lập tức có người cãi nhau. Một xe muối chậm nửa ngày, trong bếp dân nghèo nồi canh đã nhạt. Quan lại có thể đổi áo, cấm quân có thể đổi phiên, nhưng kho muối mà loạn thì tiếng chửi từ đầu ngõ tới cuối phố sẽ đè chết cả nhà chủ sự.
Đêm nay, dưới nền kho ấy có tiếng gạch bị đẩy lệch.
Một bàn tay trắng bệch thò lên từ miệng cống cạn, đầu ngón tay dính bùn đen và rêu muối khô. Lăng Tiếu chui ra sau cùng, áo choàng xám phủ sát người, trên mặt còn dán một lớp da giả vàng vọt như kẻ bán củi mắc bệnh lâu ngày.
Hắn vừa đặt chân lên đất đã ho khan hai tiếng.
Hắc Thất vội đưa khăn.
Lăng Tiếu không nhận, chỉ liếc quanh một vòng.
Bên trong kho tối và rộng, những đống bao gai chất thành từng bức tường thấp. Hơi mặn bám vào cổ họng, nuốt một cái cũng thấy rát. Trên xà nhà treo đèn dầu, ánh lửa bị hơi muối ăn mòn thành màu xanh nhạt. Cạnh cửa đông có hai lính kho nằm dựa nhau ngủ gật, cổ tay bị dây vải buộc vào chân ghế, miệng nhét khăn, còn thở đều.
Hắc Thất thấp giọng nói:
“Không đổ máu. Thuốc mê chỉ đủ một canh giờ.”
Lăng Tiếu cười nhạt:
“Giỏi. Kho muối chết một người, ngày mai đám ngự sử sẽ khóc thương dân sinh đến rách cổ họng, sau đó nhét tội vào miệng Lăng gia. Ta còn chưa nghèo đến mức phải lấy mạng lính kho đổi vài hạt muối bẩn.”
A Mộc, kẻ chuyên mở khóa của Diêm La Điện, từ bóng tối đi tới, trong tay cầm một xấp sổ kho đã tháo chỉ.
“Chủ tử, sổ chính sạch quá. Mỗi xe vào ra đều có tên phường, cân lượng, ấn ký. Nhưng sổ phụ giấu sau ván cân lại ghi ba chữ: muối tĩnh cung. Mỗi mười ngày chuyển một lần, không qua cửa lớn.”
Lăng Tiếu nhận sổ, ngón tay lướt qua mấy dòng chữ nhỏ. Tên người nhận không phải nội đình, cũng không phải ngự thiện phòng. Chỉ có một dấu móc mực đen như móng quạ.
“Đẹp thật.” Hắn nói. “Đẹp đến mức giống mặt con rể mới về nhà vợ, ai nhìn cũng biết đã đánh phấn.”
Hắc Thất chỉ về phía cuối kho.
“Ba chấm đỏ trên bản đồ ứng với ba hàng bao kia. Nhưng trong kho có hơn hai ngàn bao, nếu lật hết sẽ để lại dấu. Ngoài kia còn hai đội tuần kênh, cứ nửa canh đi qua một lần.”
Lăng Tiếu gập sổ lại.
“Không lật hết. Không đốt. Không đổ nước. Không làm dân thành phố sáng mai phải tranh nhau từng vốc muối. Người đặt bẫy này rất hiểu tiếng chửi của dân có thể biến thành dao trong tay quan.”
A Mộc cắn răng:
“Vậy làm sao phân biệt?”
Lăng Tiếu không trả lời ngay. Hắn bước tới ba hàng bao cuối kho.
Bao gai ở đó không khác những bao khác, cũng buộc dây thừng thô, cũng đóng dấu đỏ của quan doanh. Nhưng Lăng Tiếu cúi xuống ngửi, rồi nhếch mép.
“Muối thường bị ẩm sẽ có mùi sắt cũ. Muối giả trộn đá có mùi bụi. Còn thứ này…”
Hắn đưa ngón tay quệt lên đường may, đầu ngón tay dính một lớp bột trắng cực mịn.
“…có mùi thuốc bị phơi nắng quá lâu.”
Hắc Thất lập tức mở túi vải, lấy ra ba chén đồng nhỏ và một bầu nước giếng mang theo từ miếu hoang. Hắn đổ nước vào từng chén, A Mộc dùng kim bạc rút một nhúm muối từ ba bao khác nhau, động tác nhẹ đến mức bao gai chỉ phồng lên rồi xẹp xuống như chưa từng bị chạm.
Muối rơi vào nước.
Chén thứ nhất nhanh chóng tan, nước đục rồi trong lại.
Chén thứ hai có một lớp hạt trắng lắng xuống đáy, khuấy thế nào cũng còn lổn nhổn.
Chén thứ ba càng lạ. Hạt muối không nổi không chìm, bám thành từng vòng nhỏ quanh thành chén, giống trứng côn trùng khô.
A Mộc cau mày:
“Hai loại không tan.”
Lăng Tiếu ngồi xổm xuống, nhìn ba chén đồng.
“Một loại là đá phấn nghiền, trộn vào để ăn bớt cân. Dân ăn lâu thì đau bụng, quan ăn đủ bạc thì béo. Loại còn lại không phải để bán cho dân.”
Hắc Thất nhìn chén thứ ba, sắc mặt khó coi.
“Độc?”
“Không giết ngay.” Lăng Tiếu nói. “Thứ giết ngay là thứ rẻ tiền. Thứ đắt tiền phải để người ta còn thở, còn nghe lời, còn bị lôi ra làm chứng đúng lúc.”
Nói xong, hắn tháo găng tay phải.
Hắc Thất biến sắc, đưa tay chặn lại.
“Chủ tử, hàn độc của người chưa yên. Lão Tôn dặn trong ba ngày không được dẫn lạnh vào mạch.”
“Lão Tôn còn dặn ta không được chọc nội đình.” Lăng Tiếu chậm rãi kéo tay áo lên, lộ cổ tay trắng lạnh. “Nếu nghe lời lão ấy, bây giờ ta nên nằm trong phủ, uống cháo kê, chờ người ta đem quan tài tới chọn màu.”
A Mộc khàn giọng:
“Dùng máu của thuộc hạ thử được không?”
“Không được.” Lăng Tiếu nhìn chén đồng thứ ba. “Thuốc này giấu bằng vỏ muối, gặp nước thường không lộ, gặp lửa thì cháy mất mùi. Nó chỉ phản ứng với mồ hôi của người mang hàn độc, vì người phối thuốc muốn khóa đúng một loại huyết mạch, không muốn cả kinh thành cùng ngã.”
Hắn cười khẽ, giọng vẫn lười biếng như đang chọn cá trong chợ.
“Các ngươi thấy chưa, ta quý giá lắm. Ngay cả bị độc cũng là độc có tên tuổi.”
Không ai cười.
Hắc Thất lấy một bình rượu thuốc nhỏ từ thắt lưng, đưa tới.
“Ép mồ hôi sẽ đau.”
“Đau thì mắng.” Lăng Tiếu cầm bình, uống một ngụm. “Mắng không hết thì ghi nợ.”
Rượu thuốc vừa xuống cổ, hai tai hắn đã đỏ lên bất thường. Nhưng da tay lại càng trắng, những đường gân xanh dưới cổ tay nổi rõ như dây mực ngâm băng. Lăng Tiếu đặt lòng bàn tay phải lên miệng chén thứ ba.
Ban đầu không có gì xảy ra.
Ngoài kho, tiếng mõ tuần kênh vọng tới một tiếng xa xa. Gió đêm lùa qua khe cửa, đèn dầu trên xà nhà rung nhẹ. Một giọt mồ hôi lạnh từ thái dương Lăng Tiếu rơi xuống cằm, rồi nhỏ vào chén.
Hạt muối bám quanh thành chén bỗng co lại.
Một mùi tanh nhàn nhạt bốc lên, không giống máu, cũng không giống thuốc thối, mà giống áo bệnh nhân lâu ngày chưa giặt. Những hạt trắng chuyển sang màu tro xanh, dính vào da tay Lăng Tiếu như kiến cắn. Hắn vẫn không rút tay.
Hắc Thất quỳ một gối xuống.
“Đủ rồi.”
“Chưa đủ.”
Giọng Lăng Tiếu thấp hơn trước. Môi hắn đã mất màu, nhưng khóe miệng vẫn cong.
“Ta phải biết nó bám vào mạch nào. Nếu không, bắt được người cũng chỉ nghe hắn nói ba câu vô tội, năm câu phụng lệnh.”
Hạt muối tro xanh bắt đầu rã ra thành sợi mảnh, thấm qua lòng bàn tay. Cánh tay phải của Lăng Tiếu run lên rất nhẹ. Hắn cắn đầu lưỡi, mùi máu tràn trong miệng, mắt vẫn dán vào mặt nước.
Một đường vân xanh hiện dưới cổ tay hắn, chạy ngược lên gần khuỷu.
A Mộc không nhịn được nữa:
“Chủ tử!”
Lăng Tiếu rút tay.
Chén đồng nứt một đường mảnh.
Nước trong chén không đổ, nhưng lớp muối không tan đã biến thành mảng bùn xanh xám, kết thành hình như vảy cá úp. Lăng Tiếu nhìn nó một lát, rồi cười ra tiếng.
“Ức chế huyết mạch, lại kèm thuốc giữ tỉnh. Người ăn nó sẽ không chết, không điên, cũng không có sức phản kháng. Hay lắm. Nuôi một nhân chứng như nuôi chim trong lồng, muốn nó hót thì mở vải che, không muốn thì cho ăn thêm muối.”
Hắc Thất lập tức dùng vải đen bọc chén đồng.
“Đem đi?”
“Chỉ đem một phần.” Lăng Tiếu nói. “Lấy hết là báo cho đối phương biết chúng ta đã tới. Để lại quá sạch cũng là tự khai. Mỗi bao chỉ rút một nhúm, rồi vá bằng chỉ cũ. Ba bao độc giữ nguyên cân.”
A Mộc ngẩn ra.
“Giữ nguyên? Nếu nó vào bếp dân…”
“Nó không vào bếp dân.” Lăng Tiếu chỉ sổ phụ. “Đường này không đi chợ. Nhưng nếu chúng ta chặn ngay tại đây, người phía sau sẽ cắt đứt tuyến, đổi thuốc, đổi người, đổi cả cái miệng đang bị nuôi. Muốn tìm kẻ cho phép ai sống, phải để bát cơm kia tiếp tục được bưng đi.”
Hắc Thất im lặng một nhịp.
“Rủi ro vẫn có.”
“Ta biết.” Lăng Tiếu dùng tay trái kéo găng lại cho tay phải, nhưng ngón tay phải đã cứng đờ, không nghe lời. Hắn thử hai lần mới kéo được một nửa, cuối cùng bật cười. “Đêm nay tay này coi như phế. Các ngươi nhớ kỹ, nếu xe rẽ khỏi tuyến cung dụng, lập tức mua đứt, tráo hàng, hoặc lật xe xuống kênh. Không được để một hạt vào miệng dân thường.”
“Vâng.”
“Còn nếu vào cung?”
“Bám theo.”
“Không cướp người, không giết đầu bếp, không đốt bếp.” Lăng Tiếu quét mắt qua bọn họ. “Trong cung chết một con chuột cũng có thể biến thành chiếu thư. Diêm La Điện không làm dao cho kẻ khác cầm.”
Hắc Thất cúi đầu.
“Thuộc hạ hiểu.”
A Mộc lấy ra một ống trúc nhỏ, bên trong là bột màu vàng nhạt.
“Đánh dấu thế nào?”
“Không dùng mùi nồng.” Lăng Tiếu nói. “Chó của cấm quân không mù. Rắc bột vào đáy xe là tự tìm chết.”
A Mộc lập tức thu tay.
Lăng Tiếu ngồi xuống cạnh một bao muối, dùng tay trái rút từ cổ áo ra ba sợi chỉ đen mảnh.
“Khâu vào nút buộc. Mỗi sợi cắt lệch một đoạn. Người ngoài nhìn là dây gai xơ, người của ta nhìn là hướng xe. Dưới đáy bao đóng thêm vết lõm bằng đầu kim, nửa vầng trăng. Đến nơi bốc xuống sẽ in lên nền bếp nếu nền còn ẩm.”
Hắc Thất nhận chỉ, hơi ngẩng đầu.
“Chủ tử đã đoán trước phải theo bao?”
Lăng Tiếu cười bẩn thỉu:
“Ta đoán trước đám thích dùng muối hại người thường keo kiệt. Keo kiệt thì tiếc đổi bao. Người thông minh đôi khi chết vì tiết kiệm mấy văn tiền, đáng yêu biết bao.”
Bọn Diêm La Điện lập tức tản ra. Không ai nói thêm. Kim đi qua đường may không phát ra tiếng. Sổ phụ được đặt lại sau ván cân, bụi trên mép ván cũng được vuốt về đúng hướng cũ. Hai lính kho còn ngủ, một người chảy nước miếng xuống cổ áo, hoàn toàn không biết vừa rồi dưới mũi mình có một đường dây đủ kéo rơi mấy cái đầu.
Nhưng lúc bọn họ chuẩn bị rời đi, ngoài cửa kho bỗng vang lên tiếng chìa khóa.
Hắc Thất nháy mắt rút dao ngắn.
Lăng Tiếu dùng tay trái đè cổ tay hắn.
“Cất.”
Cửa hé ra. Một lão chủ sự kho muối bụng phệ cầm đèn bước vào, phía sau còn có một gã sai vặt ôm áo bông. Lão vừa đi vừa chửi:
“Mẹ nó, đêm lạnh thế này còn bắt kiểm cân. Muối là cha ruột chúng nó hay sao mà sợ mất…”
Lời còn chưa hết, lão thấy hai lính kho bị trói cạnh cửa, mặt lập tức trắng như bột.
Lăng Tiếu đứng giữa hàng bao, quay đầu nhìn lão.
Hắn không tháo mặt nạ da vàng, cũng không giấu vẻ chán chường trên mặt. Tay phải buông thõng trong tay áo, tay trái cầm một nhúm muối giả, giọng kéo dài như công tử ăn no rỗi việc.
“Từ chủ sự, nửa đêm còn tới thăm cha ruột à?”
Lão chủ sự run lên.
“Ngươi… ngươi là ai?”
“Người mua muối.” Lăng Tiếu bước tới một bước. “Muốn mua loại ăn vào đau bụng, không muốn mua loại ăn vào ngoan như chó. Ngươi bán loại nào?”
Gã sai vặt sau lưng lão chủ sự định chạy. A Mộc từ bóng tối thò tay kéo hắn lại, một vải bịt miệng, một ngón tay ấn dưới gáy, người mềm xuống không tiếng động.
Lão chủ sự suýt quỳ.
“Đại gia tha mạng! Muối giả là do bên trên ép cân, tiểu nhân chỉ ghi sổ. Còn muối tĩnh cung tiểu nhân không biết, thật sự không biết! Mười ngày một xe, có bài đồng của Thái Y viện tới lấy, không qua tay tiểu nhân!”
Lăng Tiếu dừng lại.
“Thái Y viện?”
“Phải, phải! Không phải cửa chính. Là nhà bếp phụ phía tây viện, nói là nấu cháo thuốc cho bệnh nhân trọng yếu. Người tới lấy đều che mặt, nhưng có một lần tiểu nhân thấy trên thẻ cơm ghi tên…”
Lão nuốt nước bọt.
Lăng Tiếu cười càng hiền.
“Nói tiếp. Ta ghét nhất người kể chuyện đến đoạn hay lại đi tiểu.”
“Tần… Tần Ngọc Uyên.”
Trong kho muối, gió như ngừng lại.
Hắc Thất ngẩng phắt đầu. A Mộc siết tay, gã sai vặt bị đau đến co giật nhưng vẫn không kêu được.
Lăng Tiếu nhìn lão chủ sự một lúc lâu, ánh mắt nhạt đến mức không có sát khí, lại khiến lão mồ hôi tuôn đầy cổ.
“Tên này ngươi đã nói với ai?”
“Không ai! Tiểu nhân thề! Tiểu nhân chỉ muốn sống, chỉ muốn tham chút bạc…”
“Tham bạc không đáng chết ngay.” Lăng Tiếu nói. “Nhưng tham bạc mà để dân ăn đá phấn thì đáng bị treo ngoài chợ cho các bà bán cá nhổ nước bọt ba ngày.”
Lão chủ sự dập đầu xuống nền.
“Đại gia tha…”
Lăng Tiếu phất tay.
A Mộc đánh ngất lão.
Hắc Thất thấp giọng:
“Giết không?”
“Không.” Lăng Tiếu quay người, hơi lảo đảo, nhưng tự đứng vững. “Hắn sống mới có ích. Sáng mai hắn tỉnh lại sẽ tưởng gặp cướp kho, nhưng không mất muối, không mất sổ, chỉ mất nửa đoạn trí nhớ vì thuốc mê. Nếu hắn chết, người tới lấy muối sẽ đổi đường.”
Hắn nhìn bàn tay phải trong tay áo. Cảm giác từ đầu ngón đến vai đã biến mất, như cánh tay bị đóng vào một khối băng.
“Đỡ ta ra ngoài.”
Hắc Thất lập tức tiến lên.
Lăng Tiếu liếc hắn.
“Đừng làm như ta sắp chết. Ta mà chết ở kho muối, mai ngoài chợ có kẻ bịa ta vì ăn mặn quá mà vong. Mất mặt.”
Hắc Thất cứng họng, chỉ có thể dìu hắn bằng một tay.
Bọn họ rút xuống miệng cống trước khi đội tuần kênh đi qua lần thứ hai. Gạch được đẩy về chỗ cũ, rêu muối phủ lên khe hở. Trong kho, đèn dầu vẫn cháy, bao muối vẫn xếp ngay ngắn, hai lính kho vẫn ngủ như heo.
Một canh giờ sau, cửa hông kho muối mở.
Một xe nhỏ phủ vải xám lăn ra, bánh xe không đi về chợ sáng mà men theo bờ kênh, vòng qua hai ngõ vắng, hướng thẳng về tường tây Thái Y viện. Trên nút buộc bao sau cùng có một sợi chỉ đen ngắn hơn hai sợi còn lại, lẫn trong dây gai như một sợi tóc rụng.
Trên mái nhà đối diện, người của Diêm La Điện nằm ép trong sương lạnh, mắt không chớp.
Dưới cống khô, Lăng Tiếu tựa lưng vào tường đá, tay phải đặt trên đầu gối mà không còn cảm giác. Hàn khí bò từ xương ra da, mỗi hơi thở đều như nuốt mảnh băng vụn. Hắn cắn một miếng vải, không để tiếng rên lọt ra ngoài.
Hắc Thất quỳ bên cạnh, giọng khàn đi:
“Xe vào Thái Y viện. Nhà bếp phụ.”
Lăng Tiếu nhả miếng vải, môi dính máu.
“Tần Ngọc Uyên còn sống.”
“Cứu không?”
Lăng Tiếu nhắm mắt một nhịp, rồi mở ra. Trong mắt hắn không có vui mừng, chỉ có một lớp lạnh mỏng hơn đao.
“Không vội. Người sống trong tay bọn họ không nhất định là người được cứu ngay. Hôm nay bát cháo của hắn có muối, ngày mai có thể có độc khác. Kẻ đáng tìm không phải đầu bếp bưng bát, mà là người gật đầu cho hắn được sống thêm một ngày.”
Hắc Thất cúi đầu nhận lệnh.
Ngoài kia, trời còn chưa sáng. Kinh thành vẫn ngủ trong lệnh cấm cửa, Lăng phủ vẫn bị lính tuần canh giữ, dân chúng chưa biết muối sáng mai có mặn hay không.
Còn trong bóng tối, một xe muối độc đã đi tới nơi nó phải tới.
Lăng Tiếu nhìn bàn tay phải bất động của mình, khẽ cười.
“Được. Đêm nay ta bỏ một cánh tay. Đổi lại, xem thử ai đang nuôi cái miệng của người chết.”
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.