Ngạo Thế Cuồng Tôn

Chương 314: Miếu Kho Lương Cũ Cấm Đốt Đèn Sau Canh Ba

Đăng: 07/08/2026 17:03 2,599 từ 1 lượt đọc
Miếu kho lương cũ nằm sát bờ hào phía bắc, lưng dựa vào dãy tường đất đổ nửa đoạn, mặt nhìn ra con đường từng dùng kéo xe thóc vào thành.

Ngày thường nơi này vắng đến mức chim sẻ cũng lười đậu. Bên trong thờ một bài vị gỗ của thần giữ lương, dưới mái hiên còn treo mấy cái thúng rách để dân nghèo qua đường bỏ nắm gạo cúng. Nhưng đêm nay, ngoài sân miếu chật kín người.

Quan sai Tam ty đứng một bên.

Dân giữ miếu đứng một bên.

Người của Tây Tông, áo trắng tay dài, đứng dưới cây hòe, mặt nào cũng sạch sẽ như chưa từng hít bụi đời.

Ở giữa sân là một tấm bia đá thấp, trên đó khắc rõ quy củ cũ: sau canh ba không đốt đèn, không dùng hỏa khí trong miếu; kẻ vào điện phải bỏ vũ khí ngoài sân; đồ vật tìm thấy chỉ được nhận làm chứng nếu soi lại dưới ánh niêm của Tam ty.

Hoắc chủ sự đọc xong ba dòng ấy, mặt đã đen hơn đáy nồi.

“Lăng công tử,” hắn nghiến răng, “ngươi chọn chỗ này để chặn người, rốt cuộc là muốn tra án hay muốn chọc vào tổ ong?”

Lăng Tiếu ngồi xổm trước tấm bia, cây quạt hoa đã bị sai dịch thu để chung với đao kiếm ngoài sân. Hắn chỉ còn hai bàn tay sạch, dáng vẻ lười biếng như kẻ vừa đi chơi thanh lâu lạc đến pháp trường.

“Hoắc đại nhân, tổ ong thì còn có mật. Chỗ này chỉ có giấy thối và thuốc ấm, chọc ra được thứ gì hay thứ đó.”

Một tăng nhân Tây Tông chắp tay, giọng mềm nhưng gai trong lời rất sắc.

“Miếu thờ thần giữ lương, dân nghèo nhờ chút hương khói mà yên lòng. Lăng công tử đem mưu kế giang hồ vào đây, nếu làm bẩn nơi thờ, tội ấy không nhỏ.”

Lăng Tiếu liếc hắn, cười nhạt.

“Đại sư nói phải. Vậy lát nữa nếu bắt được con chuột trong áo sạch, phiền đại sư đừng niệm kinh tiễn nó chạy.”

Dân giữ miếu là một ông già họ Bành, tóc bạc, lưng còng, hai tay ôm bó hương mà run. Ông không sợ quan, cũng không sợ tông môn bằng sợ miếu bị đập nát. Cả đời ông trông chừng nơi này, quy củ sau canh ba không đốt đèn là do cha ông truyền xuống, bảo rằng lửa đêm dễ gọi cướp thóc, cũng dễ khiến người chết đói không yên.

Lăng Tiếu đứng dậy, đi đến trước mặt ông, cúi đầu rất thật.

“Bành lão, đêm nay ta mượn miếu bắt người. Nếu gạch bẩn, ta rửa. Nếu hương tắt, ta bồi. Nếu bài vị dính bụi, ta tự lau trước mặt dân phố. Nhưng nếu không bắt, ngày mai sổ người chết sẽ lại thêm tên, người sống dưới Hắc Tháp cũng bị bịt miệng.”

Bành lão nhìn hắn hồi lâu, cuối cùng đặt bó hương xuống.

“Không đèn.”

“Không đèn.”

“Không lửa.”

“Không lửa.”

“Không mang dao vào.”

Lăng Tiếu giơ hai tay lên.

“Ta chỉ mang cái miệng. Nếu cái này cũng tính vũ khí, Hoắc đại nhân đã chết mấy lần rồi.”

Đám sai dịch cố nén cười, Hoắc chủ sự tức đến ria mép giật giật.

Canh ba vừa điểm, cổng miếu khép lại.

Bóng tối trong điện dày như nước bùn. Ngoài sân còn có trăng mỏng, nhưng lọt qua cửa gỗ mục vào trong chỉ còn một vệt xám trên nền gạch. Không ai được châm đèn. Không ai được đánh lửa. Ngay cả đèn niêm của Tam ty cũng bị bọc vải dầu, đặt ngoài bậc thềm, chờ lúc chứng vật được đưa ra mới mở.

Lăng Tiếu đứng ở góc tường phía tây, lưng dựa vào cột. Trước khi vào, hắn đã để toàn bộ người của mình lại ngoài sân, chỉ cho hai ám vệ đóng giả phu quét rác lẩn trong đám dân giữ miếu. Diêm La Điện có luật riêng của Diêm La Điện: vào đất cấm không rút dao, chưa thấy tay giao nhận không bắt bừa, chưa định được đường lui không ham công.

Một tiếng mõ vang lên từ hậu điện.

Cốc.

Rồi im.

Hoắc chủ sự lập tức quay đầu, nhưng trong tối không thấy gì ngoài đường nét mờ của bàn thờ. Tăng nhân Tây Tông cũng ngẩng mặt, hơi thở khẽ thay đổi.

Lăng Tiếu cười trong bóng đêm.

“Đừng căng. Mõ cũ bị mọt, gió thổi cũng biết tu hành.”

Hoắc chủ sự hạ giọng.

“Nếu ngươi giở trò, bản quan sẽ ghi vào án.”

“Ghi đẹp một chút. Chữ của ngươi xấu, quỷ đọc cũng chê.”

Một lúc sau, tiếng mõ thứ hai vang lên, lần này từ phía vách bắc.

Cốc.

Ngay sau âm thanh ấy, bên ngoài tường có tiếng bước chân rất nhẹ. Không phải bước của dân nghèo đi dép rơm, cũng không phải bước của quan sai mang giày cứng. Người kia đặt chân theo nhịp ngắn, gót không chạm đất, quen đi trong đêm và quen né tai người.

Cửa hông phía sau khẽ mở.

Một bóng người lách vào, áo xám, vai hơi gù, tay cầm rổ tre đựng tro cúng. Trông như phu miếu thức dậy dọn tàn hương. Nhưng Bành lão đang ở ngoài sân, hai gã giúp việc của ông cũng bị giữ lại trước cổng. Sau canh ba, trong miếu không còn người dọn hương.

Bóng áo xám dừng lại trước bàn thờ, đưa tay sờ dưới chân hương án.

Không có gì.

Hắn khựng nửa hơi.

Tiếng mõ thứ ba vang lên, không ở hậu điện, cũng không ở vách bắc, mà ngay dưới nền gạch bên phải hương án.

Cốc.

Kẻ áo xám lập tức xoay người, đi về phía một viên gạch nứt. Hắn cúi xuống, dùng hai ngón tay cạy khe gạch. Một ống trúc mỏng nằm sẵn bên dưới, miệng bị bọc sáp đen.

Ngay khi tay hắn chạm vào lớp sáp, trong tối bỗng lóe lên một màu xanh nhợt.

Không phải lửa.

Không có khói, không có tiếng cháy, chỉ là thứ ánh lạnh bám trên đầu ngón tay như vảy cá mục dưới trăng. Kẻ áo xám giật mình rụt tay, nhưng đã muộn. Năm đầu ngón của hắn sáng lên từng vệt, in rõ đường xoáy da.

Hoắc chủ sự bật kêu.

“Đó là gì?”

Lăng Tiếu đã lao tới.

Hắn không dùng dao, không dùng chưởng kình rầm rộ. Thân hình lướt thấp sát đất, một tay đẩy khuỷu đối phương, một tay chặn cổ tay. Kẻ kia phản ứng cực nhanh, từ trong búi tóc rút ra một cây kim đen nhỏ như gai bồ kết, đâm thẳng vào cổ họng Lăng Tiếu.

Ngoài sân, quan sai đồng loạt xôn xao.

Lăng Tiếu nghiêng đầu tránh nửa tấc, để mũi kim sượt qua da. Hắn cười lạnh.

“Bỏ vũ khí ngoài sân, vậy mà ngươi cài kim trên đầu. Tóc ngươi quý hơn quy củ à?”

Đầu gối hắn thúc vào bắp chân kẻ áo xám. Người kia khuỵu xuống nhưng vẫn cố chà tay lên nền gạch để xóa ánh xanh. Từ góc tối, một phu quét rác nhào tới, dùng khăn vải dày quấn chặt bàn tay ấy.

Xèo một tiếng rất khẽ.

Mùi thịt cháy thoáng bốc lên.

Phu quét rác cắn răng không kêu, vai run bần bật. Lân tinh lạnh khi gặp mồ hôi và bị miết mạnh liền ăn vào da. Hắn biết, nhưng vẫn ép chặt khăn để giữ nguyên dấu tay vừa dính trên sáp. Nếu buông ra, chứng cứ mất. Nếu giữ, bàn tay hắn sẽ bỏng sâu.

Lăng Tiếu nhìn qua, ánh mắt trầm xuống chỉ trong một nhịp.

“Quạ Ba, đủ rồi.”

Người kia khàn giọng.

“Chưa đủ nét, điện chủ.”

“Ta nói đủ.”

Quạ Ba lúc này mới buông một góc khăn. Da bàn tay hắn đỏ phồng, vài chỗ trắng bệch. Hai sai dịch Tam ty vội xông vào áp chế kẻ áo xám, còn Hoắc chủ sự chửi um lên, vừa sợ vừa tức.

“Không đốt đèn! Ngươi dùng thứ quỷ quái này là phạm quy!”

Lăng Tiếu nhặt ống trúc bằng mép áo, giọng lười nhác trở lại.

“Bia đá cấm đèn, cấm lửa. Bột lân tinh nghiền từ đá biển, tự phát quang khi gặp ẩm, không có tim đèn, không có hỏa khí. Hoắc đại nhân nếu xem cái gì sáng cũng là lửa, về nhà nhớ dập luôn mắt mèo.”

Tăng nhân Tây Tông lập tức bước lên.

“Ánh xanh trong điện thờ, làm bỏng người, không phải tà thuật thì là gì? Lăng Tiếu, ngươi dùng tà vật dẫn dụ, chứng cứ này không sạch.”

Lăng Tiếu quay sang, nụ cười mỏng như lưỡi dao.

“Đại sư nói ‘dẫn dụ’ hay thật. Ta đặt một ống trúc giả dưới gạch, không viết tên ai, không bắt ai lấy. Con chuột tự thò tay vào bẫy, đại sư lại trách bẫy không thơm mùi kinh. Công bằng của Tây Tông các ngươi làm bằng đậu phụ à, ai bóp cũng nát?”

“Ngươi!”

“Đừng vội giận. Giận quá mặt đỏ, lát nữa dân chúng tưởng đại sư cũng dính lân tinh.”

Ngoài sân vang lên vài tiếng hít khí. Dân giữ miếu không dám cười lớn, nhưng mắt đã sáng rực. Quan sai Tam ty đưa kẻ áo xám ra bậc thềm. Theo đúng quy củ, chứng vật không được kết luận trong điện. Đèn niêm của Tam ty được mở vải dầu, ánh lạnh trắng xanh rọi xuống khăn vải, ống trúc và bàn tay bị quấn.

Vệt ngón tay hiện lên rõ ràng.

Một thư lại già của Tam ty run rẩy lấy sổ đăng dịch ra. Mỗi người làm việc trong kho án đều từng điểm chỉ vào sổ để phòng tráo hồ sơ. Hai dấu được đặt cạnh nhau dưới ánh niêm.

Ngón cái lệch nửa vòng.

Ngón trỏ có một vết gãy ngang.

Ngón áp út thiếu một đoạn xoáy.

Không cần đợi ai nói, Hoắc chủ sự đã trắng mặt.

Lăng Tiếu nhìn hắn.

“Hoắc đại nhân, người nhà ngươi à?”

Hoắc chủ sự quát.

“Cởi khăn che mặt!”

Sai dịch giật mạnh khăn vải trên mặt kẻ áo xám. Dưới lớp tro bôi lem luốc là một gương mặt gầy, môi mỏng, mắt nhỏ. Người này thường đứng sau bàn chép án của Tam ty, ngày ngày cúi đầu mài mực, đưa sổ, nhận lệnh, không gây chú ý đến mức như một cái ghế cũ.

Thư lại Triệu Tồn.

Không khí ngoài sân đông cứng.

Triệu Tồn run môi, chưa kịp mở miệng, Lăng Tiếu đã bóp cằm hắn, nhìn vào răng.

“Đừng cắn. Thuốc giấu trong răng của đám các ngươi mùi tệ lắm, chết rồi còn làm bẩn sân.”

Một sai dịch vội cạy miệng Triệu Tồn, quả nhiên lấy ra một viên sáp nhỏ giấu sát hàm. Hoắc chủ sự lùi nửa bước như bị tát trước đám đông.

Lăng Tiếu buông tay, phủi phủi áo.

“Điện kho giấy mất hoạn quan. Hắc Tháp có sổ người chết bị sửa. Am Thanh Đăng đốt sổ. Bây giờ đến thư lại Tam ty nửa đêm tới miếu kho lương cũ nhận ống trúc. Hoắc đại nhân, cái lưới này đan trong nhà ngươi cũng khéo quá. Mùa đông khỏi cần chăn.”

Hoắc chủ sự gằn từng chữ.

“Bản quan không biết hắn làm việc này.”

“Ta tin.” Lăng Tiếu gật đầu rất nghiêm túc. “Ngươi mà biết, chắc đã bảo hắn đeo găng. Ngu cũng phải có giới hạn, nếu không quan phục mặc lên phí vải.”

Mặt Hoắc chủ sự tím lại, nhưng không phản bác được. Dưới ánh niêm, khăn vải cháy xém, dấu tay, ống trúc và sổ đăng dịch đặt thành một hàng. Dân chúng ngoài cổng nhìn thấy hết. Tây Tông muốn ép xuống cũng đã muộn.

Bành lão đi vào sân, nhìn nền gạch trong miếu bị vệt lân tinh làm bẩn, lại nhìn bàn tay bỏng của Quạ Ba, môi mấp máy không biết nói gì.

Lăng Tiếu bỗng xoay người, trước mặt tất cả, cúi đầu với ông lão.

“Bành lão, hôm nay ta làm bẩn miếu. Lời đã nói thì giữ. Sáng mai Lăng phủ đưa người đến rửa gạch, thay chiếu, bồi hương, bồi gạo. Ta tự tay lau bài vị trước khi mặt trời lên cao. Phần thuốc trị bỏng của người bị thương, Diêm La Điện tự chịu, không lấy một đồng hương hỏa.”

Bành lão sững sờ. Dân giữ miếu phía sau cũng ngẩn ra.

Một công tử hoàn khố dám mắng quan, dám chọc Tây Tông, nhưng lại cúi đầu xin lỗi một ông già giữ miếu. Cái cúi ấy không làm hắn thấp đi, trái lại khiến vài ánh mắt trong đám đông đổi khác.

Tăng nhân Tây Tông lạnh giọng.

“Xin lỗi là xong sao? Dùng ánh quỷ trong nơi thờ, làm dân kinh hãi, Tây Tông sẽ dâng cáo trạng.”

Lăng Tiếu quay lại, nụ cười đã tắt.

“Cứ dâng. Nhớ viết rõ, Tây Tông không lo thư lại Tam ty thông đồng sửa án, chỉ lo Lăng Tiếu dùng bột phát sáng bắt chuột. Viết cho hay vào, ta còn treo ngoài cửa Lăng phủ cho dân học chữ.”

Triệu Tồn bị kéo quỳ xuống. Hắn cúi gằm mặt, mồ hôi chảy qua lớp tro, để lộ làn da trắng của kẻ quanh năm ngồi trong phòng giấy. Trong ống trúc có một mảnh giấy cuộn thật chặt, bên trên chỉ ghi ba chữ số và một dấu son nhỏ, mùi thuốc ấm bám rõ ở mép sáp.

Lăng Tiếu không mở ngay.

Hắn nhìn Hoắc chủ sự.

“Án này từ giờ không chỉ là nội đình, không chỉ là Tây Tông. Tam ty của ngươi cũng có chân trong bùn. Muốn rửa sạch thì tự chặt tay thối. Muốn che lại, ta sẽ đào cả sân nhà ngươi lên.”

Hoắc chủ sự siết chặt nắm tay, móng đâm vào thịt. Danh dự nhiều năm của hắn bị một thư lại nhỏ kéo xuống bùn ngay trước dân phố. Nhưng hắn càng hiểu, nếu đêm nay không theo Lăng Tiếu, cái bùn ấy sẽ ngập đến cổ hắn.

“Áp Triệu Tồn về nha. Niêm phong sổ đăng dịch, đổi toàn bộ người giữ kho án trong đêm.”

Lăng Tiếu cười nhạt.

“Cuối cùng cũng nói được một câu giống quan.”

Quạ Ba được dìu ra ngoài, bàn tay quấn vải run không ngừng. Lăng Tiếu đi ngang qua hắn, thấp giọng chỉ đủ người Diêm La Điện nghe thấy.

“Tiền thuốc gấp ba. Một tháng không ra tay. Ai bảo ngươi cãi lệnh lần nữa, ta đánh gãy chân lành.”

Quạ Ba cúi đầu, khóe miệng nhếch lên vì đau.

“Thuộc hạ nhớ.”

Đêm ở miếu kho lương cũ vẫn tối, nhưng bóng tối đã không còn sạch như trước. Nó bị một bàn tay của Tam ty xé rách, để lộ đường ngầm nối từ giấy sổ, thuốc ấm, Hắc Tháp đến tận nơi xét án.

Xa xa, tiếng mõ thật của phường canh vang lên.

Lăng Tiếu ngẩng đầu nhìn mái miếu loang lổ, trong mắt không có chút vui mừng.

Bắt được một thư lại không phải kết thúc.

Đó chỉ là dấu răng đầu tiên của con cá lớn cắn vào chính cái lưới hắn vừa thả.
0