Ngạo Thế Cuồng Tôn

Chương 305: Giếng Bỏ Sau Viện Giặt Có Mùi Thuốc Ấm

Đăng: 06/08/2026 15:51 3,542 từ 1 lượt đọc
Sau viện giặt của Hắc Tháp có một cái giếng không còn soi được mặt trời.

Miệng giếng bị nửa tấm đá xanh đè lệch, cỏ dại mọc chen qua kẽ, rêu bám thành từng mảng như da bệnh. Từ xa nhìn lại, nơi ấy chỉ giống một chỗ bỏ hoang dùng để vứt chậu nứt, giẻ rách và tro bếp. Nhưng càng đến gần, mùi ẩm dưới giếng càng lẫn một hơi khác.

Không phải mùi xác chuột, không phải mùi nước tù.

Là mùi thuốc còn ấm.

Rất nhạt, như có người vừa sắc xong một thang thuốc, đổ bã xuống rồi lấy nước lạnh dập qua. Nếu đứng dưới gió ngược sẽ chẳng nhận ra, nhưng hôm nay gió lại từ chân tường thổi thẳng vào sân phụ, đem hơi ấy quấn lên mũi từng người.

Lăng Tiếu vẫn nằm trên cáng, áo khoác lông chồn phủ hờ ngang ngực. Sắc mặt hắn còn xấu hơn buổi sáng, trắng đến mức son phấn ngày thường cũng không cứu nổi. Nhưng khi mắt hắn quét qua miệng giếng, khóe môi lại nhếch lên.

“Ồ, Hắc Tháp nghèo đến mức giếng bỏ cũng biết nấu thuốc cho phạm nhân à?”

Một tăng nhân Tây Tông lập tức lạnh giọng:

“Lăng công tử, lời nói nên có chừng mực. Nơi này thuộc cấm địa, không phải tửu lâu để ngươi pha trò.”

“Đại sư nói đúng.” Lăng Tiếu nghiêng đầu, giọng lười biếng. “Tửu lâu của ta nếu có mùi thuốc lén dưới giếng, đầu bếp đã bị kéo ra đánh gãy chân. Cấm địa nhà các ngươi có mùi ấy, chẳng lẽ còn muốn ta khen hương thơm thanh tịnh?”

Viên quan Tam ty đi giữa hai bên, mặt gầy, mắt thâm vì hai đêm chưa ngủ. Hắn không để mặc hai phía cắn nhau lâu, lập tức giơ tay hạ lệnh:

“Kiểm giếng. Nhưng nghe rõ quy củ.”

Sai dịch kéo dây gai thành vòng thứ nhất. Cấm quân dựng giáo thành vòng thứ hai. Bên ngoài nữa là dân phố, quan lại nhỏ và mấy kẻ do các phủ phái tới nghe ngóng, người nào cũng rướn cổ như muốn thò đầu xuống giếng.

Viên quan Tam ty nói từng chữ:

“Không ai được xuống. Không thả người, không thả thú sống. Chỉ dùng dây đo độ sâu, khói màu dò đường gió, khăn ướt niêm dấu miệng khe. Mọi vật kéo lên từ giếng phải qua tay ba bên chứng kiến: Tam ty, nội đình và Tây Tông. Kẻ nào tự ý chạm trước, coi như phá chứng.”

Nữ quan nội đình đứng bên cạnh không đáp, chỉ lấy con dấu nhỏ bằng đồng ra đặt lên khay. Tăng nhân Tây Tông nhìn nhau, cuối cùng người lớn tuổi nhất gật đầu.

Lăng Tiếu cười nhạt:

“Quy củ nghe rất công bằng. Công bằng đến mức nếu trong giếng có con rắn bò ra cũng phải hỏi nó muốn đi qua tay ai trước.”

Không ai cười.

Sai dịch cạy tấm đá xanh. Mặt đá vừa xê ra, hơi lạnh dưới giếng phụt lên, kéo theo mùi bùn, mùi vải mục và mùi thuốc ấm rõ hơn một chút. Một gã sai dịch trẻ không nhịn được ho khan, lập tức bị cấp trên đá vào bắp chân.

“Lùi!”

Lăng Tiếu đưa hai ngón tay lên che mũi, mí mắt rũ xuống. Hắn không dựa hoàn toàn vào khứu giác của người thường. Trong ký ức cũ, hắn từng nằm ba ngày trong ống cống để chờ một kẻ buôn vũ khí đi qua, phân biệt được khí độc nhẹ trong mùi rỉ sắt. Mùi dưới giếng này không giết ngay. Nó được pha rất khôn, đủ khiến người hít lâu mệt, đầu nặng, chân tay mềm, nhưng chưa đến mức làm người ta chết trước khi cần chết.

Một loại khí dùng để khóa sức.

Không phải để xử tử.

Tam ty thả dây đo xuống trước. Sợi dây gai đã ngâm nước phèn, mỗi thước buộc một mảnh vải trắng. Dây rơi mãi mới chạm đáy, tiếng chì dọi va vào vật gì đó vang lên một tiếng cộc khô, không giống đập nước.

“Không có nước?” nữ quan nội đình hỏi.

Sai dịch kéo dây lên một đoạn, nhìn đầu chì rồi đáp:

“Có bùn ẩm, nhưng không ngập. Dưới đáy lót đá.”

Tăng nhân Tây Tông lập tức nói:

“Giếng bỏ lót đá vốn là đường thoát nước cũ. Lăng phủ năm xưa từng có người giặt thuê vào Hắc Tháp, biết đường này không lạ. Nếu có kẻ tiếp tế dưới lòng tháp, chưa chắc không liên quan đến Lăng gia.”

Câu ấy ném xuống như một viên đá sắc.

Đám người ngoài vòng dây lập tức xôn xao. Lăng phủ đã bị lôi ra từ từ đường, sổ giam, giấy bệnh, giờ thêm một cái giếng thì lời đồn đủ đè chết nửa nhà.

Lăng Tiếu nghe xong, không giận. Hắn còn bật cười, cười đến ho ra một tiếng khàn.

“Hay. Đại sư cuối cùng cũng nói câu giống người làm việc.”

Lăng Uyên đứng phía sau cáng, mắt tối xuống. Một người của Diêm La Điện lẫn trong nhóm gia đinh cúi nhẹ ngón tay, chờ lệnh. Lăng Tiếu không quay đầu, chỉ gõ móng tay lên thành cáng một cái.

Tín hiệu rất nhỏ.

Không ai động.

Kỷ luật của Diêm La Điện là không vì một câu bẩn mà rút đao. Đao rút ra phải có xác đáng để chém, nếu không chỉ là đưa cổ cho kẻ khác buộc dây.

Lăng Tiếu nhìn viên quan Tam ty:

“Muốn buộc Lăng phủ tiếp tế, trước hết phải chứng minh đường này dùng lâu. Giếng bỏ không biết nói, nhưng rêu, dây, khói và bùn biết nói. Đại nhân dám nghe không?”

Viên quan Tam ty cau mày:

“Ngươi định làm gì?”

“Cho khói xuống trước. Nhưng dùng hai màu.”

Tây Tông lập tức phản đối:

“Khói màu do ai chuẩn bị?”

“Không dùng của ta.” Lăng Tiếu hất cằm về phía Tam ty. “Trong nha các ngươi có bột son khoáng dùng đánh dấu hiện trường, có than tán, có lá khô. Trộn ngay tại đây. Một ống khói đỏ thả sâu, một ống khói xanh giữ trên miệng giếng. Nếu dưới giếng thông với cửa ngầm, đỏ sẽ đi. Nếu chỉ là gió lùa mặt đất, xanh mới loạn.”

Nữ quan nội đình nhìn hắn một cái rất nhanh. Cách này không phức tạp, nhưng ép mọi người phải nhìn bằng mắt, không thể chỉ dựa miệng cãi.

Tam ty đồng ý.

Bột màu được mang tới. Sai dịch trộn trước mặt mọi người, đổ vào hai ống đất nhỏ, dùng than vụn làm mồi. Trước khi châm, viên quan còn cho Tây Tông kiểm một lượt. Tăng nhân áo xám không tìm được cớ, chỉ lạnh mặt đứng sang bên.

Ống khói đỏ được buộc dây thả xuống. Khi dây dừng ở nửa sâu, một làn đỏ nhạt bắt đầu cuộn lên rồi lại bị hút xuống như có cái miệng vô hình nuốt mất.

Ống xanh đặt sát miệng giếng thì bay tản trên mặt sân, bị gió thổi về phía tường rêu.

Mọi người nín thở.

Một khắc sau, từ khe niêm trên cửa ngầm ở sân phụ bên kia, một sợi khói đỏ mảnh như chỉ rỉ ra. Nó không nhiều, nhưng màu đỏ ấy bám lên mép sáp, nổi bật đến chói mắt.

Tiếng ồ bật lên ngoài vòng dây.

Viên quan Tam ty quay ngoắt lại. Cấm quân bên cửa ngầm cũng thấy, vội hô:

“Có khói! Từ khe dưới niêm đi ra!”

Tây Tông im lặng trong một hơi. Rồi tăng nhân lớn tuổi nói ngay:

“Thông khí không chứng minh thời điểm sử dụng. Đường thở cũ có thể bị Lăng phủ biết từ trước.”

Lăng Tiếu chép miệng:

“Đại sư đúng là không thấy quan tài không rụng lông mày. Vậy xem rêu đi.”

Hắn chỉ xuống thành giếng.

Sai dịch soi đèn. Phần trên thành giếng phủ rêu dày, xanh đen, bám liền thành mảng. Nhưng từ miệng xuống khoảng bốn thước có hai vệt cọ mới, rêu bị mài rách, lộ đá xám bên trong. Hai vệt ấy song song, vừa bằng khoảng cách một chiếc gàu treo hai dây. Trên mép đá còn dính sợi gai tưa màu vàng mới.

Lăng Tiếu nói:

“Rêu bị cọ chưa quá mười ngày. Nhưng vệt nước đọng trên đá chỉ khô được ba lớp. Ba đêm gần nhất có sương nặng, mỗi đêm để lại một viền muối trắng rất mỏng. Nếu dùng từ nửa tháng trước, viền không thể sạch như vậy.”

Tăng nhân Tây Tông cười lạnh:

“Ngươi nằm trên cáng mà nhìn rõ cả viền muối?”

“Ta mắt kém nên mới làm bại gia son phấn, đâu có sáng như mắt Phật của đại sư.” Lăng Tiếu lười nhác đáp. “Vậy mời Tam ty dùng khăn ướt lau từng đoạn, chỗ nào muối trắng tan trước, chỗ nào bùn mới nhão, ghi lại hết. Ta nói sai, ta cho các ngươi mắng thêm ba ngày.”

Viên quan Tam ty không để ai thay. Hắn tự chọn ba khăn vải, nhúng nước sạch, vắt trước mặt mọi người. Mỗi khăn đóng dấu sáp trên góc, giao lần lượt cho sai dịch, nữ quan, rồi một tăng nhân cùng nhìn. Khăn lau xuống thành giếng được kéo lên bằng kẹp tre.

Khăn thứ nhất lau rêu cũ, nước xanh đen, mùi mốc nặng.

Khăn thứ hai lau vệt cọ mới, dính bùn xám và sợi gai tươi.

Khăn thứ ba lau sâu hơn nửa thước, xuất hiện một lớp bột trắng rất mịn, gặp nước lập tức tan thành viền đục.

Viên quan Tam ty ngửi rồi hỏi chủ bạ:

“Ghi. Vệt dây mới, bùn chưa mục, có muối ẩm.”

Chủ bạ run tay viết.

Lăng Tiếu không dừng. Hắn nhìn chằm chằm miệng giếng, giọng bỗng thấp xuống:

“Dưới đó có khí khóa mạch. Không nặng. Nhưng người yếu hít nhiều sẽ ngất. Nếu các ngươi muốn biết có phải thuốc ấm hay hàn độc, cần thử máu.”

Lăng Uyên lập tức bước lên:

“Không được!”

Giọng hắn nặng như đao chém xuống thớt.

Lăng Tiếu liếc qua:

“Cha, con chỉ bệnh, chưa chết. Một giọt máu đổi một cái miệng của Tây Tông, lời lắm.”

Tăng nhân áo xám cười khẩy:

“Lăng công tử lại diễn khổ nhục?”

“Diễn cho dân xem cũng tốt hơn các ngươi diễn người sạch.” Lăng Tiếu nhấc tay ra khỏi chăn. “Kim bạc.”

Không ai đưa ngay. Viên quan Tam ty cũng do dự. Một công tử Lăng phủ đang trong giấy bệnh, nếu chết trước mặt hắn thì Tam ty phải gánh nửa cái kinh thành.

Lăng Tiếu bực bội:

“Sợ cái gì? Ta chết thì Lăng phủ đốt giấy cho ta, các ngươi còn được nghỉ thẩm. Đâm.”

Cuối cùng, nữ quan nội đình lấy kim từ hộp y dụng, hơ qua lửa, đặt vào tay Lăng Uyên.

Lăng Uyên nhìn con trai. Trong mắt hắn có giận, có đau, nhưng sau cùng vẫn kẹp lấy đầu ngón tay Lăng Tiếu, chích một đường cực nhỏ.

Máu chảy ra không đỏ tươi, mà sẫm hơn bình thường. Một giọt rơi vào chén sứ có đặt bột thử độc của Tam ty. Sai dịch đem khí dưới giếng dẫn lên bằng ống tre bọc vải ướt, chỉ mở nửa nhịp thở rồi đậy lại. Khi hơi ấy chạm vào máu, viền máu không đông cứng như gặp hàn độc, trái lại nổi bọt li ti, tỏa mùi thuốc gừng và một thứ đắng ấm.

Mặt viên quan Tam ty biến sắc.

“Hàn độc không phản ứng như vậy.”

Lăng Tiếu rút tay về, đầu ngón tay run rất nhẹ. Hắn giấu vào trong chăn, nhưng Lăng Uyên vẫn thấy vệt máu thấm qua vải. Mất thêm một chút đối với người thường không đáng kể, với tình cảnh hiện tại của hắn lại giống rút lửa khỏi lò sắp tắt.

Hắn cắn răng nuốt cơn choáng, ngoài miệng vẫn độc:

“Thấy chưa? Người dưới đá không chỉ được giữ thở, còn được cho thuốc ấm để chống lạnh. Tây Tông từ bi thật, giam người cũng sợ người ta rét.”

Tăng nhân lớn tuổi lạnh giọng:

“Có thể là Lăng phủ đưa thuốc vào.”

“Lại Lăng phủ.” Lăng Tiếu bật cười, lần này cười khô đến rách cổ. “Đại sư thèm Lăng phủ đến vậy, hay ta treo bảng trước cửa ghi: chó và Tây Tông đều muốn cắn?”

Viên quan Tam ty quát:

“Lăng Tiếu!”

“Được, ta nói chứng.” Hắn khép mắt một hơi rồi mở ra. “Gọi người kéo gàu.”

Giếng bỏ không còn gàu, Tam ty phải dùng lưới tre buộc chì, thả xuống đáy. Quy củ ba bên vẫn giữ. Dây qua tay sai dịch Tam ty, nữ quan nhìn dấu buộc, tăng nhân kiểm nút. Kéo lên từng tấc, bùn dưới đáy rơi lộp bộp vào thau đồng.

Mẻ đầu chỉ có vải mục, đá vụn và xác côn trùng khô.

Mẻ thứ hai có một mẩu than chưa cháy hết, bề mặt còn vân dầu.

Mẻ thứ ba, khi lưới tre vừa nhô khỏi miệng giếng, mùi thuốc ấm lập tức rõ hơn.

Trong đám bùn xám có một sợi tóc bạc.

Rất dài.

Nó quấn quanh một mảnh vải nhỏ màu nâu, bên cạnh là bã thuốc đã bị ép thành cục. Chủ bạ Tam ty muốn cúi xuống nhặt, viên quan lập tức quát dừng.

“Ba tay.”

Theo quy củ đã định, sai dịch dùng kẹp tre gắp sợi tóc đặt lên đĩa sứ. Nữ quan nội đình nghiêng đĩa kiểm dấu bùn. Tăng nhân Tây Tông buộc phải nhìn thật gần, dù sắc mặt hắn đã khó coi đến mức quai hàm nổi gân.

Bã thuốc được tách ra. Có lát gừng khô, rễ ngải, vỏ quế, thêm một thứ lá đắng dùng giữ hơi nóng trong phổi. Toàn là thuốc ấm. Hoàn toàn trái với cách áp hàn độc vào thân thể.

Nữ quan nội đình chậm rãi nói:

“Nếu người dưới đá mang hàn độc, thuốc này dùng để kéo mạng, không phải để giết.”

Dân ngoài vòng dây nghe thấy, tiếng xì xào lập tức nổ ra. Mấy ngày qua ai cũng nghĩ kẻ dưới Hắc Tháp là ma cũ, oán khí, hoặc xác sống bị bỏ quên. Bây giờ một sợi tóc bạc và bã thuốc ấm nói rõ một chuyện khác: có người biết hắn còn sống, biết hắn lạnh, biết hắn cần thở, còn lén cho hắn thuốc.

Giữ sống có chủ ý đáng sợ hơn giết chết.

Vì người bị giữ lại chắc chắn còn có giá.

Tây Tông không thể để thế cờ trôi mất. Tăng nhân lớn tuổi chắp tay:

“Lăng công tử đã nhiều lần nhắc Lăng phủ không liên can. Vậy xin giao danh sách người giặt cũ từng ra vào Hắc Tháp. Nếu trong đó có người của Lăng gia, Tam ty tra sẽ rõ.”

Lăng Uyên quay phắt sang nhìn Lăng Tiếu.

Đây mới là cái móc.

Danh sách ấy không chỉ có người giặt thuê. Trong nhiều năm, Lăng phủ dùng các đường tạp dịch để cắm mắt, mua tin, đổi thuốc, cứu người trong âm thầm. Không phải ai cũng thuộc Diêm La Điện, nhưng chỉ cần Tam ty nắm được tên, một vòng thẩm tra sẽ lôi ra cả đám người vô tội lẫn người có ích.

Lăng Tiếu im lặng một nhịp.

Gió sau viện giặt thổi qua, làm mặt hắn lạnh hơn. Hắn biết cái giá này phải trả. Muốn chứng minh đường giếng mới dùng lại ba đêm, hắn phải tỏ ra không sợ tra chuyện cũ. Nếu giữ danh sách, Tây Tông sẽ cắn chặt câu “Lăng phủ che người”.

Hắn mở mắt, nụ cười lại trở về, bạc bẽo như lưỡi dao mỏng.

“Đưa giấy.”

Lăng Uyên thấp giọng:

“Tiếu nhi.”

“Cha, mấy bà giặt áo năm xưa nếu biết hôm nay con vì giữ mặt mũi mà để Tây Tông úp chậu phân lên đầu họ, chắc sẽ cầm chày đập chết con trước.”

Hắn nói như đùa, nhưng ngón tay vừa bị chích máu đã tê đi. Chủ bạ dâng giấy. Lăng Tiếu không ngồi dậy được, chỉ để người kê ván lên cáng. Hắn đọc từng cái tên, năm nào vào, năm nào rời, ai chết, ai về quê, ai từng nhận tiền công từ Lăng phủ. Có vài tên khiến Lăng Uyên nhíu mày, nhưng hắn không cắt ngang.

Viên quan Tam ty càng nghe càng kinh hãi. Danh sách quá rõ. Rõ đến mức nếu bịa tại chỗ không thể nhớ từng vết sẹo, từng khoản tiền, từng lần đổi người.

Viết xong, Lăng Tiếu ấn ngón tay còn rướm máu xuống cuối giấy.

“Tra thì tra. Nhưng ghi thêm một câu: trước khi có chứng cứ, không được dùng hình nặng, không được bắt người nhà của họ thay cung, không được để Tây Tông hỏi riêng. Ai phá câu này, Lăng phủ không nhận kết quả.”

Tăng nhân áo xám lập tức nói:

“Ngươi ra điều kiện với Tam ty?”

Lăng Tiếu liếc hắn:

“Không. Ta đang giữ mạng cho chứng nhân của Tam ty. Đại sư thích người sống khai thật, hay thích xác chết khai theo mõ của các ngươi?”

Viên quan Tam ty nhìn dấu máu trên giấy, lại nhìn sợi tóc bạc trong đĩa sứ. Cuối cùng hắn cắn răng đóng ấn.

“Ghi.”

Một chữ ấy rơi xuống, thế cục đổi hẳn.

Tây Tông có được danh sách để cắn Lăng phủ, nhưng cũng bị trói vào quy củ thẩm tra công khai. Lăng Tiếu mất một mảng tai mắt cũ, mất thêm máu, còn tự đưa người nhà mình vào vòng nghi ngờ. Đổi lại, trước mặt dân, trước mặt nội đình và Tam ty, cái giếng bỏ đã không còn là lời đồn.

Nó là đường thở.

Là đường đưa thuốc.

Là dấu tay của kẻ muốn người dưới Hắc Tháp sống đến hôm nay.

Đúng lúc ấy, sai dịch bên cửa ngầm chạy về, trong tay cầm khăn ướt vừa niêm từ khe sáp. Trên khăn có một vệt đỏ mờ của khói màu, bên cạnh bám chút bột trắng giống hệt ở thành giếng.

Viên quan Tam ty nhận khăn qua ba tay, sắc mặt nặng như đeo đá.

“Khói thông. Dấu muối khớp. Ghi vào án.”

Lăng Tiếu nằm trên cáng, mí mắt rũ xuống như sắp ngủ. Nhưng khóe miệng hắn vẫn cong, giọng thấp mà đủ cho người gần đó nghe thấy:

“Ba đêm. Không sớm hơn.”

Nữ quan nội đình hỏi:

“Vì sao chắc là ba?”

Lăng Tiếu không mở mắt.

“Vì kẻ đó sợ người dưới đá chết đúng lúc bản vẽ thiếu góc lộ ra. Hắn phải kéo mạng, nhưng không dám kéo lâu. Ba đêm là đủ để chờ ta đến, đủ để gài Lăng phủ, cũng đủ để đổi một người sống thành một cái cớ.”

Tăng nhân Tây Tông nhìn hắn chằm chằm:

“Ngươi quá tự tin.”

Lăng Tiếu cười khàn:

“Không. Ta chỉ hiểu loại người thích đào hố. Hố càng sâu, hắn càng sợ người khác không nhảy đúng chỗ.”

Gió dưới giếng lại thổi lên.

Mùi thuốc ấm quẩn quanh sân giặt cũ, không nồng, nhưng bám dai dẳng vào cổ họng từng người. Dân phố ngoài kia bắt đầu truyền miệng: dưới Hắc Tháp không phải ma, là người sống tóc bạc; người ấy được cho thuốc, được giữ hơi, được giấu bằng giếng bỏ.

Mỗi câu truyền đi đều như một viên đá ném vào mặt hồ kinh thành.

Lăng Tiếu biết đêm nay sẽ có người mất ngủ. Tây Tông mất ngủ, nội đình mất ngủ, Tam ty mất ngủ, cả kẻ đã mở lại đường giếng ba đêm trước cũng sẽ mất ngủ.

Còn hắn, hắn phải trả nốt phần giá của mình.

Khi cáng được khiêng rời khỏi viện giặt, máu ở đầu ngón tay hắn đã thấm qua hai lớp vải. Lăng Uyên cúi xuống muốn băng lại, Lăng Tiếu lại khẽ nói:

“Cha, bảo người của ta rút khỏi ba tuyến giặt cũ trước giờ tý. Ai không rút kịp thì tự cắt liên hệ, không được cứu bừa.”

Lăng Uyên nhìn hắn rất lâu.

“Con vừa tự tay đưa họ vào lưới.”

“Con cũng vừa buộc lưới phải treo ngoài nắng.” Lăng Tiếu nhắm mắt. “Trong bóng tối, người của ta chết không ai biết. Ngoài nắng, ai động dao trước, con chặt tay kẻ đó.”

Cáng đi qua tường rêu. Phía sau, cái giếng bỏ bị dán niêm đỏ, dây gai quấn ba vòng. Sợi tóc bạc nằm trong hộp chứng của Tam ty, bã thuốc ấm được tách riêng, khăn khói màu đặt dưới con dấu nội đình.

Không ai còn có thể giả vờ nơi ấy chỉ là một miệng giếng hoang.

Và dưới nền Hắc Tháp, có một người sống đã được cả kinh thành bắt đầu nhớ tới.
0