Ngạo Thế Cuồng Tôn

Chương 310: Đường Thở Phụ Bị Bịt Trước Khi Trời Sáng

Đăng: 06/08/2026 15:51 3,085 từ 1 lượt đọc
Trước khi gà gáy canh năm, sân sau Hắc Tháp bỗng im đến mức nghe rõ tiếng nước rỉ trong khe đá.

Ngọn đèn gió treo bên cửa viện giặt lắc qua lắc lại, ánh vàng quệt lên mặt tường đen như vết dao cùn. Quan sai Tam ty vừa thay phiên ngủ gục được nửa khắc thì con chó già của nhà bếp tru lên một tiếng, rồi câm bặt. Không ai thấy bóng người vượt tường. Không ai nghe khóa động. Chỉ có cái chuông đồng nhỏ buộc trên ống thông hơi phụ phía bắc tháp rung nhẹ ba lần, tiếng mỏng, khô, như móng tay cào vào răng.

Người canh đầu tiên chạy tới, vừa cúi xuống đã bị một luồng khí hôi nóng phả vào mặt. Hắn lảo đảo ngã ngồi, ôm cổ ho, nước mắt trào ra. Bên miệng ống đá thấp ngang đầu gối, bùn mới bị trát kín một nửa, trên lớp bùn còn in dấu vải gai ép vội. Mùi ấy không phải mùi cống. Nó nồng vị lưu huỳnh, thêm chút tanh ngọt của thuốc mê bị đốt.

Dưới Hắc Tháp còn người sống.

Nếu đường thở phụ bị bịt hẳn trước khi cửa ngầm chính được mở, người dưới đá không cần bị giết bằng dao. Chỉ cần một canh giờ, sự thật sẽ nghẹt trong lồng ngực hắn.

Tiếng hô truyền qua sân. Dân phu bị gọi dậy từ lán ngủ, quan sai xách đèn lao tới, cấm quân lập tức dựng giáo chặn hai đầu ngõ. Phía Tây Tông cũng có người xuất hiện rất nhanh, áo xám chưa kịp buộc dây lưng, nhưng miệng đã niệm câu từ bi.

Lăng Tiếu được khiêng tới lúc trời còn tối xanh.

Hắn nằm nghiêng trên cáng, tóc buộc lỏng, áo khoác vắt lệch, mặt trắng bệch vì mấy ngày giả bệnh thật bệnh lẫn nhau. Một tay hắn còn cầm cái túi thơm son phấn, vừa đến đã nhăn mặt mắng:

“Đêm hôm khuya khoắt không cho bổn thiếu gia ngủ, các ngươi muốn ta chết vì mất sắc trước hay chết vì mùi thối trước?”

Không ai cười.

Viên chủ sự Tam ty họ Đỗ đứng bên miệng ống, mắt đỏ ngầu. Trên tay hắn cầm tờ lệnh đối chứng đã đóng dấu ban chiều. Giờ mở cửa ngầm chính được ghi rõ: sau khi mặt trời lên khỏi đầu mái Hắc Tháp, có đủ Tam ty, nội đình, Tây Tông, Lăng phủ và hai hàng nhân chứng dân gian. Trước giờ ấy, bất kỳ ai phá cửa đều bị coi là hủy hiện trường, lời khai bên dưới mất giá, mọi dấu vết có thể bị đổ cho Lăng phủ.

Đỗ chủ sự cắn răng nói: “Không thể mở cửa chính.”

Một tăng nhân Tây Tông lập tức tiếp lời: “Đã có định giờ, không nên vì một hơi thở chưa rõ mà làm loạn phép. Nếu bên dưới thật có người, trời thương sẽ giữ.”

Lăng Tiếu nghiêng mắt nhìn hắn: “Trời thương thì đại sư đứng đây làm gì? Nhường chỗ cho trời xuống ký giấy đi.”

Mặt tăng nhân sầm lại. “Lăng công tử nói năng nên giữ miệng. Đường thở phụ cũng thuộc thân tháp, tự tiện động vào là phá niêm.”

“Ta động vào niêm hay ngươi động vào mạng người?” Lăng Tiếu chống khuỷu tay ngồi dậy, ho một trận khan, rồi nhổ ra khăn lụa một vệt máu nhạt. “Các ngươi muốn hắn chết trước bình minh, sau đó nói Lăng phủ dựng chuyện. Ta quen trò này. Nhạt hơn nước cháo nhà bếp.”

Đỗ chủ sự hạ giọng: “Lăng công tử, luật đã chặn. Cửa ngầm chính không được mở. Người không được xuống. Thuốc, nước, dây móc đều không được đưa vào. Ta có thể cho thông đường thở phụ, nhưng phải dùng ống tre niêm dấu từng đoạn, quan sai kiểm trước, Tây Tông nhìn, dân phu làm. Không được chạm sâu quá ba thước nếu không có biên ghi.”

“Đủ.”

Lăng Tiếu đáp nhanh đến mức Đỗ chủ sự khựng lại.

Hắn vén chăn mỏng, để lộ bàn tay gầy đi rõ rệt. “Ta cần tre khô rỗng ruột, vải lọc, nước vôi loãng, than củi, sáp niêm của Tam ty. Và mười hai dân phu tay chắc, nhưng không ai được là người của Hắc Tháp.”

Tăng nhân áo xám lạnh lùng hỏi: “Vì sao loại người Hắc Tháp?”

Lăng Tiếu cười khẩy: “Vì chó nhà bếp vừa tru xong đã câm. Hoặc nó bị độc, hoặc nó thấy người quen. Đại sư thích chọn đáp án nào?”

Câu ấy đâm vào giữa sân. Đám sai dịch nhìn nhau, không ai dám nói.

Đỗ chủ sự ra lệnh ngay. Tre được kéo từ kho sửa mái, chẻ bỏ mắt, khoan thông. Mỗi đoạn dài một cánh tay, đầu nối quấn vải lọc tẩm nước vôi, ngoài bọc sáp rồi đóng dấu Tam ty. Cứ nối một đoạn, thư lại lại ghi vào biên: giờ nào, ai cầm, ai kiểm, dài bao nhiêu. Tây Tông cử hai người đứng nhìn sát bên, mắt không chớp. Dân chúng bị chặn ngoài dây gai, nhưng tiếng xì xào đã nổi lên như ổ ong.

Miệng ống thở phụ nằm sát chân tường phía bắc, bình thường bị rêu phủ, quanh năm không ai để ý. Sau khi gạt bùn mới ra, người ta thấy bên trong còn nhét đá vụn, tóc rối và một miếng vải đen bị tẩm dầu. Dấu tay trên bùn rất lạ: bốn ngón rõ, ngón cái mờ, như người bị thương ở bàn tay hoặc cố ý bóp lệch.

Lăng Tiếu không cho ai bốc bằng tay.

“Gắp ra. Đặt riêng từng món. Ai làm rơi, ta cho hắn ngửi ống đến sáng.”

Một sai dịch trẻ mặt tái mét, vội dùng kẹp sắt gắp từng mảnh. Miếng vải đen vừa ra khỏi miệng ống, mùi thuốc cháy nồng hơn. Con chó già nằm chết cạnh góc bếp, lưỡi tím, mắt mở trừng trừng. Lăng Tiếu liếc qua rồi quay mặt đi, giọng bỗng nhẹ hơn:

“Chôn nó sau. Ghi vào biên. Đêm nay nó làm nhân chứng tốt hơn vài vị ăn chay.”

Tăng nhân Tây Tông siết tràng hạt, nhưng không phản bác.

Ống tre đầu tiên được đưa vào. Khí bên trong phun ra từng đợt ngắt quãng, như có cái phổi khổng lồ đang thở dốc dưới lòng đất. Vải lọc chuyển màu vàng xám rất nhanh. Dân phu cầm ống ho sặc, mắt đỏ. Đỗ chủ sự muốn đổi người, Lăng Tiếu lắc đầu.

“Không đổi lung tung. Mỗi người một đoạn, lui ra rửa mắt, ghi tên. Kẻ bịt ống có thể trà trộn chờ đổi tay để nhét thêm thứ khác.”

“Ngươi nghi trong sân này còn có người của hắn?” Đỗ chủ sự hỏi.

“Ta nghi tất cả, kể cả ta.” Lăng Tiếu nhếch môi. “Nhưng ta đẹp hơn các ngươi, nên đáng tin hơn một chút.”

Trong lúc mọi người bị câu nói bẩn thỉu ấy làm nghẹn, hắn búng nhẹ ngón tay xuống mép cáng.

Một người phu gánh nước đứng ngoài vòng thứ hai khom lưng, làm như buộc lại dép rơm. Chỉ một nhịp ấy, mắt hắn quét qua mái viện giặt, cửa bếp, góc tường có rêu xanh. Đó là người của Diêm La Điện, lẩn trong đám thuê mướn từ hai ngày trước. Không nhận lệnh cứu bừa, không được giết ai, chỉ nhìn đường rút của kẻ ra tay.

Kỷ luật ấy do Lăng Tiếu đặt ra bằng máu.

Diêm La Điện có thể lén vào nơi người khác không ngờ, nhưng một khi hắn đã kéo mọi thứ ra trước mắt Tam ty, bóng tối cũng phải biết cúi đầu trước giấy bút. Cứu một người mà biến thành cái cớ để triều đình đóng tội, vậy không phải nghĩa khí, là ngu.

Đoạn ống thứ tư nối vào thì bên dưới vang lên tiếng gõ.

Cộc.

Rất nhỏ.

Cả sân nín thở. Đỗ chủ sự cúi sát, thư lại run tay làm rơi giọt mực xuống biên. Lăng Tiếu dựng hai ngón tay, không cho ai nói. Một lát sau lại có tiếng:

Cộc. Cộc.

Hai tiếng cách nhau đều.

“Còn sống!” dân phu bật thốt.

Tăng nhân Tây Tông lập tức quát: “Chưa chắc là người. Đá rỗng cũng có âm.”

Lăng Tiếu cười lạnh: “Đá nhà đại sư biết xin thở à? Mang về chùa thờ đi, khỏi cần ăn cơm.”

Đỗ chủ sự cố nén khóe miệng, rồi ra lệnh nối tiếp.

Nhưng đến đoạn thứ sáu, luồng khí độc đột nhiên mạnh hẳn. Vải lọc đen lại, mép sáp mềm ra. Dân phu cầm đầu ống ngã khuỵu, miệng sùi bọt trắng. Quan sai muốn rút ống, Lăng Tiếu chộp lấy cổ tay hắn.

“Không rút! Rút là bùn sập vào lại.”

“Nhưng khí độc quá nặng!”

“Dùng ống kiểm.”

Đỗ chủ sự biến sắc: “Không được. Ống kiểm cần người hút thử để biết khí đã thông hay chưa. Chuyện này để y quan làm.”

“Y quan của ngươi chưa tới. Còn đợi nữa, người dưới đá thành thịt nguội.”

Lăng Tiếu giật lấy đoạn tre nhỏ đã bọc ba lớp vải ướt. Hắn nhìn Đỗ chủ sự, cười lười biếng như vẫn là tên hoàn khố tiêu tiền mua vui ở lầu son.

“Ghi rõ. Ta tự nguyện. Nếu chết, đừng bắt Lăng phủ đền quan tài, ta thích loại gỗ tốt, các ngươi nghèo.”

Đỗ chủ sự gầm thấp: “Lăng Tiếu!”

“Đỗ đại nhân, ngươi muốn giữ luật hay giữ mạng? Hôm nay hai thứ chỉ cách nhau một hơi của ta.”

Không ai kịp ngăn.

Hắn ngậm đầu ống kiểm, hít một hơi rất ngắn, lập tức nhả ra, nhưng mặt đã tái xanh như giấy ngâm nước. Khí độc xộc vào phổi, cay đến mức lồng ngực tưởng bị cào rách. Ký ức sát thủ đời trước giúp hắn biết cách khóa cổ họng, ép hơi độc không tràn sâu, nhưng thân xác này mấy ngày qua vốn bị thuốc và mệt mỏi giày vò, chịu không nổi cú đánh ấy. Hắn cúi gập người, nôn ra toàn nước chua lẫn máu.

Đám người hoảng loạn.

Tỳ nữ Lăng phủ muốn lao tới, bị Lăng Tiếu giơ tay chặn lại. Hắn run rẩy chỉ vào ống tre, giọng khàn đặc: “Thông... nửa đường. Bị chặn bằng vải dầu ở khúc cong. Đẩy móc ba răng, không quá hai tấc. Xoay ngược. Đừng kéo thẳng.”

Đỗ chủ sự không còn do dự. Ông tự đóng dấu lên móc sắt nhỏ, buộc dây đo, giao cho dân phu già tay vững nhất. Móc luồn vào trong ống, cạ vào đá phát ra tiếng ken két. Một tấc. Hai tấc. Xoay. Kéo nghiêng.

Phụt một tiếng, một cuộn vải dầu cháy dở bị lôi ra, theo sau là khói vàng xám cuộn lên. Mọi người lùi mạnh. Vải lọc mới lập tức được thay. Ống tre nối tiếp, từng đoạn tiến sâu vào đường thở phụ như một con rắn khô bò xuống lòng tháp.

Lăng Tiếu nằm lại trên cáng, môi tím, mồ hôi túa đầy trán. Hắn nghe tiếng người rất xa, nhưng mắt vẫn mở. Trong tầm nhìn chao đảo, hắn thấy tên phu gánh nước của Diêm La Điện khẽ đưa vai sang trái.

Tín hiệu: góc bếp có kẻ nhìn quá lâu.

Lăng Tiếu không quay đầu. Hắn chỉ cười một tiếng khàn, gọi bừa: “Đỗ đại nhân, trong sân có người thương chó quá, nhìn xác chó còn nhiều hơn nhìn đường thở. Tấm lòng từ bi ấy đáng ghi vào biên.”

Đỗ chủ sự lập tức hiểu. Hai sai dịch lặng lẽ vòng qua. Một gã phụ bếp mặt rỗ bị đè xuống ngay cạnh chum nước. Trong tay áo hắn không có dao, không có độc, chỉ có một mảnh vải gai dính bùn và ít sáp đỏ đã bóp nát.

Tăng nhân Tây Tông lập tức nói: “Một phụ bếp không chứng minh được gì. Có thể hắn nhặt được.”

Lăng Tiếu thở dốc, mắt lim dim: “Đúng, có thể hắn nhặt được. Cũng có thể đại sư nhặt được cái lưỡi ở chợ nên nói mãi không biết xấu hổ. Đều ghi lại, sáng xét.”

Đỗ chủ sự phất tay. “Khóa riêng. Không đánh. Không hỏi khi chưa có người chứng.”

Câu ấy khiến vài ánh mắt trong sân đổi sắc. Không đánh, nghĩa là không cho ai diệt khẩu bằng một trận tra tấn giả vờ quá tay. Không hỏi, nghĩa là lời khai không thể bị Tây Tông dẫn hướng trước bình minh.

Đường thở cuối cùng cũng thông.

Không khí lạnh từ sân bị hút xuống, ngọn đèn gần miệng ống nghiêng hẳn về một phía. Bên dưới vang lên tiếng ho rất yếu, rồi tiếng gõ dồn dập hơn. Đỗ chủ sự quỳ một gối, áp tai lên thân ống.

“Người bên dưới nghe được thì gõ ba tiếng.”

Cộc. Cộc. Cộc.

Dân phu bật khóc. Một sai dịch già quay mặt lau mắt. Ngay cả những kẻ đứng xem ngoài dây gai cũng im lặng, vì họ hiểu vừa rồi chỉ cần chậm thêm một chút, cái miệng dưới đá sẽ không bao giờ nói được nữa.

Nhưng Lăng Tiếu không vui.

Tiếng gõ tiếp theo không trả lời Tam ty. Nó chậm lại, tách thành nhịp lạ: một, hai, ngừng; một; rồi ba tiếng rất nhẹ như sợ người ngoài nghe không ra.

Người phu gánh nước ngoài vòng dây cúi đầu thật thấp, vai cứng đờ.

Đó là ký hiệu cũ của Diêm La Điện.

Không phải loại dùng ngoài đường. Không phải dấu truyền tin cho thuộc hạ mới. Đó là nhịp gọi cửa thời Diêm La Điện còn chưa có tên, khi vài người đầu tiên đi theo Lăng Tiếu trong những đêm không ai thắp đèn. Người biết nó đếm trên đầu ngón tay. Có kẻ đã chết. Có kẻ đang ở xa. Có kẻ tuyệt đối không nên nằm dưới Hắc Tháp.

Lăng Tiếu cụp mi thật sâu. Khi ngẩng lên, ánh mắt hắn đã lạnh sạch vẻ hoàn khố.

Bẫy.

Hoặc người của hắn thật sự bị nhốt dưới đó.

Cả hai đáp án đều đòi máu.

Đỗ chủ sự không biết ý nghĩa nhịp gõ, nhưng thấy sắc mặt Lăng Tiếu thì lập tức hỏi: “Có vấn đề?”

Lăng Tiếu lại ho, lần này máu thấm đỏ khăn. Hắn ép giọng trở về vẻ cợt nhả: “Có. Người dưới đó gõ dở quá, nghe như kỹ nữ mới học đàn. Sáng mở cửa, ta phải mắng hắn.”

Đỗ chủ sự nhìn hắn rất lâu, không vạch trần.

Trời phía đông bắt đầu bạc. Biên bản thông đường thở phụ được đọc ngay tại sân: không mở cửa chính trước giờ đã định, không đưa thuốc hay người xuống, chỉ dùng ống tre niêm dấu để giữ hơi. Mỗi đoạn tre, mỗi mảnh vải dầu, mỗi dấu tay bùn đều được ghi tên người chạm vào. Tam ty thu luôn bản vẽ đường thở mà Lăng Tiếu buộc phải vẽ bổ sung để chỉ khúc cong bị chặn.

Khi Đỗ chủ sự cất bản vẽ vào hộp niêm, người của Diêm La Điện trong đám dân phu khẽ siết quai gánh.

Một điểm ẩn nấp ở phía bắc Hắc Tháp từ nay coi như mất. Con đường mà họ từng dùng để nghe động tĩnh dưới tháp đã nằm trong tay quan phủ. Sau đêm nay, mọi lối đi quanh đó sẽ bị đo lại, đóng dấu, canh phòng. Một con mắt của Diêm La Điện bị tự tay Lăng Tiếu móc ra đặt lên bàn sáng.

Đó là giá cứu một hơi thở.

Chưa hết.

Y quan cuối cùng cũng tới, bắt mạch cho Lăng Tiếu xong thì mặt xám như tro. Khí độc đã vào phổi, tuy không đủ giết hắn ngay, nhưng nếu còn ra gió, nói nhiều, vận khí mạnh, vết thương sẽ trở nặng. Đỗ chủ sự thay y quan nói thành văn:

“Trong ba ngày, Lăng công tử không được xuất hiện công khai trước đám đông. Mọi lời cần chuyển qua văn thư có chứng. Nếu cố ra mặt, Tam ty sẽ ghi là tự hủy thân thể để gây loạn phiên tra.”

Lăng Tiếu nằm im một lát, rồi bật cười yếu ớt: “Hay lắm. Ta cứu người xong bị nhốt miệng ba ngày. Đỗ đại nhân, ngươi càng ngày càng có tiền đồ làm quan xấu.”

Đỗ chủ sự đáp khô khốc: “Quan xấu còn hơn người chết.”

Tăng nhân Tây Tông chắp tay: “Lăng công tử nên tĩnh dưỡng. Việc sáng nay, người có mặt đều thấy, công tử không cần can dự thêm.”

Lăng Tiếu nghiêng đầu nhìn hắn, nụ cười nhạt như dao mỏng.

“Đại sư vui sớm rồi. Ta không ra mặt, không có nghĩa ta không nhìn. Ba ngày này, ai thò tay vào Hắc Tháp, nhớ rửa sạch móng. Ta ghét bẩn, nhưng ta thích chặt tay bẩn.”

Tăng nhân im lặng.

Khi cáng được khiêng rời sân, mặt trời vừa chạm mái tháp. Phía sau, ống tre niêm dấu vẫn cắm vào đường thở phụ, thở phì phò trong gió sớm như cổ họng của một người bị bóp suốt đêm cuối cùng được buông ra. Dân chúng ngoài dây gai nhìn theo Lăng Tiếu, lần đầu không còn chỉ thấy một tên bại gia son phấn. Có người cúi đầu. Có người thì thầm tên hắn rất nhỏ.

Còn Lăng Tiếu nhìn lên bầu trời nhạt màu, đầu ngón tay giấu trong chăn gõ nhẹ ba nhịp.

Một, hai, ngừng; một; ba.

Ở góc ngõ, người phu gánh nước nhận lệnh, lẫn vào dòng dân phu rời tháp. Từ giờ đến lúc cửa chính mở, Diêm La Điện không được cướp người, không được bịt miệng ai, không được để lộ thêm một bóng. Chỉ có thể tìm trong số những kẻ cũ xem ai đáng lẽ không thể biết ký hiệu ấy.

Dưới đá, người kia còn sống tới bình minh.

Nhưng bình minh cũng mang theo một câu hỏi lạnh hơn độc khí: nếu tiếng gõ ấy là thật, Diêm La Điện đã mất một người từ lúc nào; nếu là giả, kẻ bày bẫy đã nhìn vào tận trái tim của Lăng Tiếu.
0