Bách Việt Hùng Đồ

Quyển 2: Giáo

Chương 13: Hoàng Tuyền

Đăng: 04/10/2026 10:20 4,136 từ 7 lượt đọc

Ba ngày sau lời thề, không ai trong triều dám nói gì và Nam Kha biết vì sao. Ở Trịnh, lời thề của vua nặng hơn luật, vì luật còn sửa được nhưng lời thề thì không. Ai mở miệng can gián một lời thề trước toàn triều thì hoặc là nghĩa sĩ hoặc là kẻ chán sống. Trong triều đình Trang Công, ranh giới giữa hai thứ đó mỏng đến mức không ai muốn thử cả. Quần thần đi lại, ăn uống, họp bàn như bình thường, nhưng hai chữ "Hoàng Tuyền" treo lơ lửng trên đầu mọi người. Ai cũng biết nó ở đó nhưng ai cũng giả vờ không thấy, giống cái cách người thời hiện đại giả vờ không thấy camera an ninh trong phòng họp dù biết mình đang bị quay.

Nghĩa đến tìm Nam Kha buổi sáng ngày thứ tư. Mặt cậu trắng, mắt thâm quầng vì mấy đêm không ngủ. Rồi cậu hỏi với giọng run nhẹ, kiểu run của người mười sáu tuổi đang cố giấu sợ mà không giấu được:

"Cha ta sẽ can gián."

Không phải hỏi mà là nói. Nghĩa biết cha mình, biết rõ hơn Nam Kha, vì cậu sống với ông mười sáu năm. Mười sáu năm nhìn cha nghiến hàm mỗi khi thấy chuyện sai thì đủ để biết là ông sẽ không im.

"Tôi biết."

Nam Kha nói.

"Chúa công sẽ giết cha ta không?"

Nghĩa hỏi và câu hỏi ấy mới là câu thật, câu mà cậu đã giữ trong bụng mấy đêm rồi.

Nam Kha nhìn Nghĩa, nhìn cái mặt trẻ con ấy, nhìn cái sợ trong mắt cậu. Anh nghĩ rằng anh biết câu trả lời, biết Trang Công sẽ không giết Dĩnh Khảo Thúc, không phải vì Trang Công tốt mà vì Dĩnh Khảo Thúc đang cho ông thứ ông cần. Vua không giết người đang cho mình quà. Nhưng anh cũng biết rằng mười năm nữa, một mũi tên sẽ bay và Trang Công sẽ không trừng phạt kẻ bắn, vì lúc đó Khảo Dĩnh Thúc đã hết giá trị. Nguyên tắc từ xưa, giáo gãy thì lấy thanh khác.

"Không."

Nam Kha nói. Anh chỉ trả lời phần hôm nay, vì phần mười năm sau anh không có quyền nói.

"Chúa công không giết cha ngươi. Chúa công cần cha ngươi."

Vai Nghĩa hạ xuống từ từ như người vừa đặt xuống một thứ nặng mà không dám đặt nhanh vì sợ nó vỡ. Cậu gật đầu không nói thêm, rồi quay đi, bước nhanh, kiểu người muốn khóc mà không muốn ai thấy. Nam Kha nhìn theo, nhìn cái lưng mảnh ấy. Anh nghĩ rằng Nghĩa sợ mất cha, sợ bằng nỗi sợ trong veo của một đứa con. Cái sợ ấy ở bất cứ thời đại nào, ba nghìn năm trước hay ba nghìn năm sau, đều giống nhau đến mức anh phải quay mặt đi.

Dĩnh Khảo Thúc đi gặp Trang Công buổi chiều hôm ấy.

Nam Kha không có mặt, không ai có mặt ngoài Khảo Thúc và Trang Công. Vì Khảo Thúc chọn gặp riêng, không phải vì sợ mà vì ông hiểu rằng can gián trước triều đình thì dồn vua vào góc, mà vua bị dồn vào góc thì kẻ dồn chết trước. Can gián riêng thì cho vua đường lùi, mà vua có đường lùi thì kẻ can mới có đường sống.

Nam Kha biết chuyện xảy ra qua Dĩnh Khảo Thúc kể lại tối hôm đó ở lán. Hai người ngồi, một bát rượu chia đôi.

"Ta mang lễ vật đến."

Dĩnh Khảo Thúc kể với giọng đều, tay xoay bát rượu, mắt nhìn xuống mặt rượu lung linh ánh lửa.

"Chúa công tiếp, ban cho ta ăn cùng."

Ông dừng, nhấp rượu, gãi cằm.

"Ta ăn. Nhưng phần thịt, ta để riêng, không đụng đến."

"Vì sao?"

Nam Kha hỏi, dù anh biết vì sao. Biết rõ đến từng chữ vì thầy Hoàng đã giảng đoạn này hai lần trước cả lớp, gạch bằng phấn đỏ trên bảng, nói "chi tiết này sinh viên phải nhớ".

Dĩnh Khảo Thúc nhìn Nam Kha rồi nói chậm. Nam Kha nghe giọng ông mà đồng thời nghe giọng thầy Hoàng vọng lại từ phòng 302 tòa nhà C, hai giọng chồng lên nhau cách ba nghìn năm:

"Ta nói với chúa công: thần có mẹ già. Mẹ thần đã nếm hết mọi thức ăn thần mang về, nhưng chưa bao giờ nếm canh của chúa công. Xin cho thần mang phần này về cho bà."

Nam Kha im lặng trong tiếng lửa tí tách. Anh ch, vì anh biết câu tiếp theo, biết chính xác, biết vì mấy chữ Hán cổ ấy nằm trong vở ghi chép năm hai của anh, gạch chân bằng bút đỏ:

“Ngươi còn có mẹ để dâng biếu, riêng ta lại chẳng có!”

"Chúa công đặt đũa xuống."

Dĩnh Khảo Thúc kể tiếp, giọng nhẹ hơn, như đang kể phần mà ông cũng không ngờ.

"Rồi ông ấy nói với giọng run, lần đầu tiên ta nghe giọng ông ấy run: 'Ngươi có mẹ mà cho. Ta thì không có.'"

Nam Kha nghe câu ấy mà lưng anh lạnh, không phải vì câu nói mà vì anh vừa nghe bằng tai thứ mà anh chỉ từng đọc bằng mắt. Cảm giác ấy, cảm giác sách sử đang mở ra quanh mình thành không khí thành tiếng nói thành hơi thở người thật, nó không quen dù anh đã sống ở đây bao nhiêu tháng. Nó vẫn rùng mình mỗi lần, vì sách thì gấp lại được, còn ở đây thì không gấp được.

"Ông ấy kể."

Dĩnh Khảo Thúc nói tiếp.

"Kể về lời thề Hoàng Tuyền. Nói rằng ông hối hận."

Ông dừng lại, xoay bát rượu, rồi ngẩng lên, mắt sáng trong ánh lửa nhưng không phải sáng vui mà sáng kiểu người đang nhìn thẳng vào một thứ khó nhìn.

"Nhưng ta biết ông ấy hối chưa đủ. Hối vì nhớ mẹ thì có, nhưng cái nhớ ấy chưa mạnh bằng cái sợ mất mặt. Nên ta nói thêm."

"Nói gì?"

"Ta nói: thiên hạ không ai dám nói chúa công sai. Nhưng thiên hạ nghĩ."

"Ông ấy hỏi gì?"

"Ông ấy hỏi: nghĩ gì?"

Dĩnh Khảo Thúc đặt bát xuống, gãi cằm.

"Ta nói: thiên hạ nghĩ rằng chúa công thắng em nhưng thua mẹ."

Nam Kha hít vào. Câu đó sắc, sắc đến mức nguy hiểm, vì nó đánh thẳng vào thứ Trang Công sợ nhất: không phải mẹ buồn, không phải em chết, mà thiên hạ nói ông bất hiếu. Một ông vua bất hiếu ở thời Xuân Thu thì mất chính danh, mà mất chính danh thì mất nước và mất nước thì mọi thứ ông xây đều sụp đổ.

"Ông ấy giận không?"

Nam Kha hỏi.

Dĩnh Khảo Thúc cười ngắn và khô.

"Không giận. Im lặng, im rất lâu."

Rồi ông nhìn lên, mắt sáng trong ánh lửa. Nam Kha thấy trong mắt ông không phải kiêu hãnh mà gần như nhẹ nhõm, kiểu người vừa qua khỏi một đoạn đường mà mình biết có thể chết bất cứ lúc nào nhưng vẫn đi.

"Rồi ông ấy hỏi vậy phải làm sao?"

"Và ông đưa ra kế Hoàng Tuyền."

Dĩnh Khảo Thúc gật.

"Ta nói: chúa công thề không đến Hoàng Tuyền thì không gặp mẫu thân. Hoàng Tuyền là dưới đất. Nếu đào hầm đủ sâu, thấy nước ngầm, đó là Hoàng Tuyền. Chúa công xuống đó gặp mẫu thân, không vi phạm lời thề."

Nam Kha nghe mà trong đầu anh chạy song song hai dòng suy nghĩ. Một dòng là giọng Dĩnh Khảo Thúc kể ấm và đều, chất giọng của người kể chuyện bên lửa. Dòng kia là giọng thầy Hoàng năm hai đại học, giảng đúng đoạn này, nói "đây là cách lách luật thiên tài nhất Tả Truyện, sinh viên chú ý". Hai giọng chồng lên nhau, một từ quá khứ anh đang sống, một từ tương lai và anh không biết giọng nào thật hơn.

"Ông ấy gật đầu không?"

Nam Kha hỏi dù biết câu trả lời.

"Gật."

Dĩnh Khảo Thúc nói.

"Nhưng không gật ngay."

Ông dừng lại, xoay bát rượu thêm một vòng, rồi nói tiếp chậm hơn. Nam Kha nghe ra rằng phần này Dĩnh Khảo Thúc đang cân nhắc có nên kể không:

"Ông ấy nhìn ta rất lâu. Rồi ông ấy hỏi: ngươi nghĩ ra hay ai dạy ngươi?"

Nam Kha nhíu mày. Câu hỏi ấy có hai tầng nghĩa, mặt nổi là tò mò, mặt chìm là kiểm tra xem Dĩnh Khảo Thúc can gián vì nghĩa hay vì ai đó đứng sau giật dây. Trang Công ngay cả khi nhận quà vẫn kiểm tra xem quà có thuốc không.

"Ông trả lời sao?"

Dĩnh Khảo Thúc cười, lần này cười thật, rộng hơn đến mắt.

"Ta nói ta là tướng, không phải mưu sĩ. Nghĩ ra thì nghĩ chứ ai dạy. Dạy ta thì ta đâu chịu nghe."

Nam Kha bất giác bật cười, vì câu đó đúng Dĩnh Khảo Thúc đến mức không cần giải thích. Ông là kiểu người mà dạy thì không nghe, nhưng tự nghĩ ra thì khư khư giữ. Và tất nhiên Trang Công hiểu ông đủ sâu để biết câu trả lời ấy thật.

Hầm đào mất hai ngày. Binh lính ấp Dĩnh đào vì đây là đất của Dĩnh Khảo Thúc. Họ đào bằng cuốc đồng, bằng tay, bằng xẻng gỗ, đất phù sa mềm nhưng sâu thì ẩm. Dĩnh Khảo Thúc không đứng nhìn. Ông xuống hầm, xắn tay áo, cầm cuốc đào cùng binh lính. Đất bắn lên mặt ông, lên râu ông và ông không lau. Ông chỉ tiếp tục đào, kiểu người đã cầm cuốc trước khi cầm giáo và không quên cầm cuốc dù đã thành tướng quân.

Nghĩa xuống theo dù không ai gọi. Cậu tự xuống, cầm xẻng đào cạnh cha. Hai cha con đào bên nhau mà không nói, không nhìn nhau. Cái không nói ấy là cách họ nói, là cách một ông bố ít lời dạy con rằng muốn người ta làm gì thì mình làm trước. Cái bài học ấy không cần giảng vì nó nằm trong bùn dưới móng tay.

Nam Kha nhìn hai cha con đào khi đứng trên miệng hầm. Rồi anh nhảy xuống cầm xẻng đào phía đối diện. Dĩnh Khảo Thúc liếc anh và không nói gì, ông chỉ gật đầu nhẹ mà Nam Kha đã bắt đầu hiểu là cách ông nói "tốt". Đăng đến sau, nhìn xuống hầm thấy ba người đang đào. Ông không hỏi mà nhảy xuống cầm cuốc đào, và cái cuốc trong tay Đăng bổ xuống đất nặng gấp đôi người thường. Đất văng tung tóe, lính đào cạnh phải lùi ra một bước. Dĩnh Khảo Thúc nhìn Đăng đào mà góc miệng ông nhếch lên rất nhẹ, kiểu người đang xem một con ngựa chiến kéo cày.

Hầm không rộng, vừa hai người đi cúi, sâu khoảng bốn thước, đáy lầy nước. Khi nước ngầm bắt đầu đọng ở đáy hầm, Dĩnh Khảo Thúc đứng trong lòng đất, bùn đến đầu gối, nhìn nước rỉ lên và gật đầu.

"Hoàng Tuyền."

Ông nói với giọng phẳng. Hai chữ ấy ở miệng ông không phải thơ mà là công trình, là bùn dưới móng tay, là hai ngày lính đào, là cách một người biến nghĩa đen thành nghĩa bóng rồi lại biến nghĩa bóng thành nghĩa đen. Đảo ngược và lách qua, giữ được mặt cho vua mà không bẻ cong được sự thật.

Nam Kha đứng bên miệng hầm nhìn xuống, mùi đất ẩm bốc lên, mùi nước ngầm tanh nhẹ. Anh nghĩ rằng đây là Hoàng Tuyền, là Suối vàng, là thế giới người chết. Trong sách, nó là ẩn dụ. Ở đây, nó là một cái hầm đào trong đất sâu bốn thước, đáy có nước. Và sẽ có mẹ con một ông vua sẽ gặp nhau ở dưới đó, ôm nhau khóc ở dưới đó. Rồi thiên hạ sẽ gọi đó là hiếu, là nghĩa, là cảm động. Trong khi thật ra đó là chính trị, là lách thề, là một ông vua cần cái thang và một ông tướng đã vác thang đến.

Nhưng rồi anh nghĩ tiếp. Phần này mới là phần khiến anh dừng lại: có lẽ cả hai đều thật. Có lẽ Trang Công thật sự muốn gặp mẹ, thật sự nhớ mẹ, thật sự đau vì giam mẹ. Đồng thời ông thật sự tận dụng cái đau ấy, thật sự cần cái thang, thật sự biết Dĩnh Khảo Thúc sẽ đến. Và hai thứ đó, ở một con người như Trang Công thì không mâu thuẫn. Ông vừa yêu mẹ vừa dùng mẹ, vừa thương em vừa giết em. Vì ở đỉnh quyền lực, cảm xúc không biến mất, nó chỉ bị nén vào trong một cái khuôn và cái khuôn ấy có hình dạng của nước cờ.

Trang Công đến ấp Dĩnh chiều hôm sau. Không phải đến một mình mà có quần thần, có lính hộ tống, có Tử Đô đi bên cạnh, có Tế Túc đi phía sau. Nam Kha nhìn đoàn người ấy đi trên con đường đất từ xa mà nghĩ rằng đây là một buổi đoàn tụ hay một buổi diễn? Và anh tự trả lời: cả hai, như mọi thứ Trang Công làm.

Khương thị đã được đưa ra từ phủ, bà đứng ở miệng hầm. Tóc bà bạc, lưng còng nhẹ, mắt đỏ. Nam Kha nhìn bà mà nghĩ rằng đây là người mẹ thiên vị em, ghét anh, giúp em phản anh. Đồng thời đây cũng là một bà già đang sợ, đang buồn, đang nhớ con. Hai thứ đó ở bà cũng không mâu thuẫn, vì con người không bao giờ chỉ là một thứ duy nhất.

Trang Công bước xuống hầm trước. Quần thần đứng trên nhìn xuống và im lặng. Nam Kha đứng xa, ở rìa đám đông, cạnh Dĩnh Khảo Thúc, cạnh Đăng, cạnh Nghĩa. Anh nhìn cái bóng Trang Công mờ dần trong lòng đất, nghe tiếng bước chân ông vang trên nền đất ẩm, nghe tiếng nước ngầm chảy rì rầm ở đâu đó trong thành hầm.

Khương thị xuống theo. Rồi im lặng và sau đó có tiếng khóc. Tiếng khóc vọng lên từ lòng đất, vọng qua miệng hầm, vọng ra khoảng sân đất nơi quần thần đứng. Nam Kha nghe rõ, nghe từng tiếng nấc, và anh không biết đó là tiếng khóc của ai, của mẹ hay của con. Vì tiếng khóc trong hầm vang đọng khác đi, méo đi, trộn vào nhau, thành một thứ âm thanh ẩm ướt, gần như không phải tiếng người mà tiếng đất đang khóc.

Quần thần rơi lệ. Tế Túc đứng thẳng, mắt ướt nhưng mặt không đổi. Tử Đô đứng cạnh, mắt khô, nhìn xuống hầm, rồi quay sang nhìn Dĩnh Khảo Thúc. Nam Kha bắt được cái nhìn nhanh ấy. Tử Đô không nhìn hầm mà nhìn người đào hầm, không nghe tiếng khóc mà đang đếm xem Dĩnh Khảo Thúc vừa được thêm bao nhiêu tiếng tốt.

Nghĩa đứng bên phải Khảo Thúc. Mắt cậu đỏ, tay nắm chặt, bùn vẫn còn dính ở khuỷu tay từ hôm đào hầm mà cậu chưa rửa hoặc không buồn rửa. Cậu nhìn cha mình bằng ánh mắt mà Nam Kha đã thấy ở nhiều đứa trẻ mười sáu tuổi: nửa phục nửa sợ. Phục vì cha dám làm điều không ai dám, sợ vì cha dám làm điều không ai dám. Khi tiếng khóc vọng lên từ hầm, Nghĩa cắn môi, cúi đầu. Vai cậu run một cái ngắn rồi thẳng lại, vì cậu là con Dĩnh Khảo Thúc. Và con Khảo Thúc không được run trước mặt dinh lính, dù cậu chỉ mười sáu tuổi, dù cậu muốn khóc.

Dĩnh Khảo Thúc đứng đó, tay chắp sau lưng, mặt bình thản. Ông không nhìn hầm mà nhìn trời. Nam Kha nhìn ông mà nghĩ rằng ông đã đào Hoàng Tuyền cho vua, đã cho vua cái thang, đã làm đúng. Ông biết mình đúng và ông biết mình bị dùng. Ông chấp nhận vì dưới hầm kia, dù là kịch hay thật thì một bà mẹ đang ôm con và cái ôm ấy, dù bị bao nhiêu tầng chính trị bọc quanh vẫn là một cái ôm.

Rồi tiếng từ dưới hầm vọng lên, giọng Trang Công run và nặng. Nam Kha nghe rõ từng chữ qua miệng hầm:

"Đại toại chi trung, kỳ lạc dã dung dung." (Tạm dịch: niềm vui sum họp, tình mẹ con được hàn gắn)

Trong đường hầm lớn, niềm vui tràn trề.

Nam Kha đứng nghe câu ấy mà toàn thân anh rùng mình. Không phải vì câu hay mà vì anh đã đọc câu này trong sách, đã chép câu này vào vở, đã gạch chân bằng bút đỏ. Bây giờ anh nghe nó bằng tai, nghe từ miệng người đã nói nó, nghe nó vọng lên từ lòng đất, từ Hoàng Tuyền. Câu nói ấy ở trong sách, là mấy chữ Hán cổ đẹp đẽ, là ví dụ cho bài thi. Nhưng ở đây, ở cái hầm này, nó là tiếng một ông vua đang khóc với mẹ dưới đất. Anh không biết ông ta khóc thật hay khóc giả, chỉ biết tiếng khóc vọng lên từ lòng đất nghe giống nhau dù thật hay giả, vì đất không phân biệt được.

Trang Công và Khương thị lên khỏi hầm, mắt đều đỏ, quần thần quỳ. Cảnh tượng ấy đẹp, đẹp đến mức Nam Kha hiểu vì sao sử chép, vì sao thầy giáo giảng, vì sao sinh viên gạch bút đỏ. Vì nó đẹp thật, cảm động thật và cái đẹp ấy không giả dù nó được dàn dựng. Vì đôi khi thứ được dàn dựng cũng chứa thật ở trong, giống như một bộ phim hay không phải vì nó không có kịch bản mà vì cảm xúc trong kịch bản là thật.

Trang Công đi ngang Dĩnh Khảo Thúc và dừng lại nhìn ông mà không nói gì. Trang Công chỉ gật đầu một cái nhẹ rồi đi tiếp, lên xe, quần thần theo sau. Nam Kha nhìn cái gật ấy mà hiểu rằng vua không cảm ơn bằng lời. Cái gật là tất cả Dĩnh Khảo Thúc sẽ nhận được cho việc đào Hoàng Tuyền, cho việc vác thang, cho việc đánh đúng chỗ Trang Công sợ mà không bị giết. Một cái gật đầu và không thêm gì.

Cao Cát đứng cạnh Nam Kha khi đoàn xe khuất ở cuối đường. Mắt ông nhìn theo và ông nói với giọng khô đều, kiểu người đọc xong một quyển sách và đang tóm tắt cho người chưa đọc:

"Chúa công cần Khảo Thúc can gián."

Nam Kha không ngạc nhiên. Anh đã biết từ buổi chiều hôm ấy, khi hai người ngồi ở góc doanh trại phân tích lời thề Hoàng Tuyền, nhưng nghe Cao Cát nói lại sau khi mọi thứ đã xảy ra đúng như dự đoán thì khác. Nó không phải xác nhận nữa mà gần như phán quyết, kiểu quan tòa đọc bản án mà bị cáo đã nhận tội.

"Nếu không có ai can."

Cao Cát nói tiếp.

"Chúa công sẽ bị mang tiếng bất hiếu. Bất hiếu thì mất chính danh, mất chính danh thì các nước chư hầu có cớ khinh. Khảo Thúc cho ông cái thang xuống mà giữ được mặt trước thiên hạ."

"Khảo Thúc biết."

Nam Kha nói.

"Biết."

Cao Cát đáp. Rồi ông im lặng một lúc, mắt nhìn về phía hầm, nơi nước ngầm vẫn rỉ lên ở đáy. Khi ông nói tiếp, giọng ông nhẹ hơn, nhẹ hiếm thấy, kiểu nhẹ chỉ xuất hiện khi Cao Cát nói về người ông kính trọng:

"Nhưng ông ấy làm vì đúng, không vì được dùng. Đó là khác biệt."

Nam Kha nghe câu ấy mà nhớ đến gốc cây đêm đầy sao, nhớ Khảo Thúc nói "nghĩa khí không cần người xứng đáng dùng nó". Anh nhận ra Cao Cát và Khảo Thúc, hai người khác nhau ở mọi thứ, một người tính bằng số một người đánh bằng giáo, nhưng cả hai đều hiểu cùng một điều, hiểu rằng bị dùng mà vẫn làm vì đúng thì khác bị dùng mà không biết. Cái "khác" ấy mỏng thôi, nhỏ thôi, nhưng đủ để một con người giữ được lưng thẳng.

Dĩnh Khảo Thúc nhìn xe vua rời đi. Tay ông chắp sau lưng rồi ông gãi cằm và quay sang Nam Kha nói:

"Cơm rượu cho mẹ con ông ấy, ta vác, ta đào. Ngày mai thiên hạ khen chúa công hiếu, không ai nhớ ai đào hầm."

Nam Kha nhìn Dĩnh Khảo Thúc, nhìn khuôn mặt ông trong nắng chiều, nhìn cái gãi cằm quen thuộc, nhìn đôi mắt không buồn không vui chỉ bình thản kiểu người đã sống đúng với mình và không cần ai xác nhận. Anh nói nhẹ bằng Nhã ngữ nhưng mang theo trọng lượng của cả hai thời đại anh đã sống:

"Tôi nhớ."

Dĩnh Khảo Thúc nhìn anh và im lặng. Rồi ông vỗ vai Nam Kha, kiểu vỗ vai mà ông chỉ dành cho Nghĩa và bây giờ dành thêm cho một người nữa.

"Thế thì ăn bát cơm nữa đi."

Ông nói.

Nam Kha cười, mắt nóng. Anh nghĩ đến bát cơm Dĩnh Khảo Thúc xới cho anh, bát cơm không hỏi không nói mà chỉ đặt xuống trước mặt. Bây giờ lại một bát nữa, lần này có lời, vì hai người đã qua trận chiến, đã qua máu, đã qua Hoàng Tuyền. Khoảng cách giữa "không nói" và "nói ra" ở đây là khoảng cách của tín nhiệm, của một con người vốn ít lời bắt đầu mở miệng vì thấy người trước mặt xứng đáng nghe.

Nghĩa chạy đến, mang cơm gồm ba bát, một cho cha, một cho Nam Kha, một cho mình. Sau đó, ba người ngồi ở miệng hầm, trời chiều đỏ ở phía tây, mùi đất ẩm từ hầm bốc lên trộn với mùi cơm nóng. Nghĩa nhai xong miếng đầu tiên, nhìn xuống bát, nói nhỏ:

"Cơm bà Cả nấu ngon hơn cơm doanh trại."

Dĩnh Khảo Thúc liếc con:

"Ngươi ăn được là tốt rồi, kén gì."

Nhưng ông gắp thêm một miếng rau vào bát Nghĩa dù không nhìn, tự nhiên như thở. Nghĩa cũng không nhìn, cũng tự nhiên như thở, vì đó là cách hai cha con này nói thương mà không ai nói chữ thương.

Nam Kha nghĩ rằng đây có lẽ là khoảnh khắc gần nhất anh có với gia đình kể từ khi rời khỏi thế kỷ 21, ngồi ăn cơm với một ông bố và con trai ông ấy, ở miệng một cái hầm tên Hoàng Tuyền trong nắng chiều. Cái ấm áp ấy dù mong manh, dù anh biết nó sẽ không kéo dài, vẫn ấm.

Tay anh vô thức sờ vào túi, chạm dây thun đỏ và lần này anh không buồn. Anh chỉ nhớ, nhớ mà không đau, vì đau đã thành quen và quen không phải là hết đau mà là biết sống chung với nó.

Ở xa, ngoài cổng ấp, Tử Đô ngồi trên ngựa trong đoàn hộ tống Trang Công, quay đầu nhìn lại phía ấp Dĩnh, nhìn về phía hầm, nhìn ba cái bóng ngồi ăn cơm bên miệng đất. Nam Kha không thấy cái nhìn ấy, nhưng nếu thấy, anh sẽ nhận ra. Tử Đô không nhìn hầm, không nhìn cơm, hắn nhìn Dĩnh Khảo Thúc, nhìn cái vỗ vai, nhìn cái gật của Trang Công. Hắn đang đếm xem khoảng cách giữa mình và Dĩnh Khảo Thúc hôm nay so với hôm qua đã xa thêm bao nhiêu. Cán cân ấy mỗi ngày nghiêng thêm một chút, sẽ nghiêng cho đến khi đổ. Còn Nam Kha đã biết từ sách giáo khoa rằng nó đã đổ rồi, chỉ chưa đổ hôm nay.

0