Chương 39: Nền Móng Luyện Thể
Phàm Nhân Quật Khởi
Mục lục
42 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 42/42 chương
Tiếng vang rền đầy phấn khích của Chu Mậu còn chưa dứt, từ dưới lớp cơ bụng săn chắc như đá tảng của gã bỗng phát ra một tràng sôi ùng ục rõ mồn một giữa tiếng suối chảy.
Cơn hưng phấn đầu tiên vừa lắng xuống, cảm giác đói cồn cào như có hàng trăm con kiến lửa đang cắn rứt trong dạ dày cùng sự mỏi nhừ dọc theo hai bả vai lập tức ập tới. Thế nhưng Chu Mậu đang trong lúc hăng máu nào có để tâm tới chuyện đó; gã chỉ cười khà một tiếng, quệt vội vệt mồ hôi trên trán rồi lại sải bước định cúi xuống ôm lấy phiến đá vôi hơn trăm cân kia nhấc lên vai lần nữa:
- Mới đứng một lượt mà xương cốt đã ấm lên thế này, để ta vác thêm vài lượt nữa cho gân mạch mở hẳn ra!
- Dừng lại ngay, Chu đại ca!
Lâm Uyên bước nhanh lên một bước, bàn tay phải đặt thẳng lên bả vai đang ửng đỏ hơi thuốc của Chu Mậu, dùng một luồng kình lực trầm ổn ấn nhẹ xuống không cho gã nhấc đá. Cùng lúc ấy, lão Mạnh đứng bên bếp thuốc cũng gõ mạnh cán muôi gỗ vào thành nồi đất, nghiêm giọng mắng:
- Ngươi tưởng thân thể là khối sắt muốn nện bao nhiêu búa một lúc cũng được đấy à? Mau ngồi xuống mặc áo vào!
Chu Mậu ngơ ngác thu tay lại, nhìn Lâm Uyên rồi lại nhìn lão Mạnh. Lâm Uyên chỉ vào những mạch máu nhỏ li ti đang nổi hồng lên dưới lớp da cánh tay của gã, ôn tồn giải thích:
- Pháp môn Luyện Thể này khác với đường lối của ta. Trong người ta có nội lực luân chuyển giữ mạch, còn huynh dùng sức nặng bên ngoài và hơi thở nén để ép máu tươi thấm thẳng qua màng xương. Mỗi một lượt đứng tấn như vừa rồi đã vắt đi không ít tinh lực và tân dịch trong tạng phủ. Nếu huynh tham nhanh mà tập liền tù tì khi bụng đã rỗng, huyết khí không kịp sinh sôi bù đắp sẽ quay sang rút ngược dịch tủy trong xương sống để chống đỡ. Đến lúc đó chưa kịp luyện thành mình đồng da sắt thì người đã suy kiệt như đám người luyện tà công dưới mỏ rồi!
Nghe tới hai chữ rút tủy, Chu Mậu bất giác rùng mình một cái, cái đầu đang nóng bừng lập tức tỉnh táo hẳn lại, vội vàng nghe lời khoác chiếc áo vải thô lên vai.
Lâm Uyên cùng lão Mạnh bàn bạc tại chỗ và đặt ra quy củ nghiêm ngặt cho việc rèn thân ở Đào Nguyên: khi chưa có nội lực bảo hộ bên trong, mỗi ngày Chu Mậu chỉ được phép tập đúng một canh giờ vào buổi sáng sau khi đã ăn no và uống thuốc dẫn, mỗi buổi tuyệt đối không quá ba lượt. Toàn bộ thời gian còn lại trong ngày phải để cho cơ thịt và màng xương tự hấp thu dược lực, hàn gắn những vết rạn nhỏ li ti từ bên trong.
Hai người phụ việc trẻ tuổi là A Hòa và Đinh Lục nãy giờ đứng bên cạnh phụ dội nước thuốc, nhìn cảnh Chu Mậu đấm một quyền tạo ra tiếng gió rít trầm đục thì hai mắt cứ sáng rực lên, muốn mở miệng xin học theo mà lại e dè vì biết mình sức vóc yếu ớt hơn Chu Mậu nhiều.
Lâm Uyên nhìn thấu tâm tư của hai người, liền gọi cả hai bước ra bãi đá phẳng. Hắn chưa cho bọn họ chạm vào phiến đá nặng hay nín thở ép huyết, mà chỉ chỉnh lại cho từng người cách mở rộng hai bàn chân bằng vai, hơi chùng đầu gối, giữ thẳng các đốt sống lưng và hít thở sâu bằng bụng để làm quen với việc điều chỉnh khung xương chịu lực.
Dù chỉ là thế đứng nền tảng nhẹ nhàng nhất nhằm bồi đắp căn cơ trước khi chạm vào Luyện Thể thực thụ, cả A Hòa lẫn Đinh Lục đều mừng rỡ như bắt được vàng, chăm chú giữ từng góc đặt bàn chân không dám sai lệch nửa phân.
Đợi cho buổi tập sáng kết thúc và mọi người đã ngâm tay chân vào chậu nước sắc từ cành lá tỉa của gốc cổ thụ pha loãng với Cốt Toái Bổ để tản huyết ứ, lão Mạnh mới cẩn thận bưng ra một chiếc bát đá nhỏ. Bên trong lớp tro bếp ấm mịn là ba hạt giống màu đỏ sẫm, cứng và bóng như ngọc, được lão giữ lại từ những trái dưỡng huyết đầu mùa hôm trước.
Lão y công dẫn Lâm Uyên và Chu Mậu đi vòng ra góc đất bồi màu mỡ nằm sát nhánh suối ấm phía nam gò đất trung tâm, tự tay dùng dầm gỗ đào ba chiếc hố nhỏ sâu chừng một tấc, vùi từng hạt giống trộn tro ấm xuống rồi lấp đất tơi lên trên.
Nhìn những mầm cây thuốc vừa được cắm thêm làm hàng rào đánh dấu quanh chỗ gieo hạt, trong lòng cả năm người đều dâng lên một cảm giác vững chãi kỳ lạ: thung lũng ẩn mật này giờ đây không chỉ là cái hốc đá để bọn họ ẩn náu qua cơn truy sát, mà đã thực sự bắt đầu có gốc rễ sinh sôi cho những năm tháng về sau.
---
Quá trưa hôm ấy, khi nắng rừng đã hong khô hết sương mù trên các vách đá vôi, Lâm Uyên buộc chặt lại bao cổ tay, giắt thanh đoản kiếm vào bên hông rồi dặn dò Chu Mậu cùng lão Mạnh ở lại trông coi thung lũng.
Thương thế trên bả vai trái của hắn nay đã khép miệng hoàn toàn, lớp da non hồng hào không còn chút cảm giác căng tức nào khi vung tay, mà môn Luyện Huyết lấy nội lực thay linh khí dẫn đường cũng đã vận hành thuần thục qua ba mươi sáu khiếu huyệt. Tuy nhiên, muốn giữ cho Đào Nguyên được yên ổn lâu dài, hắn không thể cứ bịt tai nhắm mắt ngồi mãi trong lòng núi mà không biết tình hình bên ngoài ra sao.
Một mình chui qua đường hầm, Lâm Uyên nhẹ nhàng lách người qua khe đá đã được ngụy trang bằng dây leo xanh rì ở sườn núi phía nam rồi phóng mình lên một mỏm đá cao ẩn dưới tán cổ thụ rậm rạp để quan sát.
Hắn nhìn về hướng bắc trước tiên. Cách đó hơn mười dặm đường chim bay, khu mỏ nơi bọn họ từng bị giam cầm suốt nhiều tháng trời hiện ra lờ mờ giữa những sườn đồi trọc. Sau trận đánh nhau dữ dội giữa các tu sĩ vào mấy đêm trước, toàn bộ khu xưởng lọc quặng bên ngoài và hơn một nửa giàn tời gỗ đã bị lửa pháp thuật thiêu rụi thành những đống cột đen sì.
Những lá cờ đen thêu vệt máu của Huyết Hà Tông trên các chòi canh ngoại vi đã bị thu hồi hết, đám đệ tử và lính gác còn sống sót dường như đã rút cả về các tuyến mỏ lớn sâu trong nội địa, tuyệt nhiên không còn bóng dáng đội tuần tra hay đàn chó săn nào lùng sục vào dãy núi đá sạt phía nam này nữa.
Trút bỏ được mối lo lớn nhất về đường truy sát trực diện, Lâm Uyên thu tầm mắt lại, xoay người men theo triền rừng rậm rạp đi về phía tây nam chừng mười lăm dặm.
Ở nơi chân núi đá vôi hạ thấp dần thành những triền đồi đất đỏ thoai thoải, một con đường mòn lầy lội vết bánh xe hiện ra, nối liền giữa một xóm dân cư nhỏ bên bờ suối cạn với một trạm thu gom vật tư đóng cọc gỗ nằm ở ngã ba đường dẫn về phía thị trấn.
Lâm Uyên thu nhẹ hơi thở, ẩn mình sau một gò đá phủ đầy cỏ tranh trên sườn đồi cách bến nước đầu làng chưa đầy trăm bước chân, lặng lẽ quan sát thế giới bên ngoài hầm mỏ của Xích Châu.
Dưới ánh nắng chiều oi ả, nơi đầu làng là một chiếc bàn gỗ cũ kỹ đặt ngay trước lối xuống bến nước duy nhất đã bị rào kín bằng cọc tre gai. Phía sau bàn là một gã trạm trưởng mặc áo lụa thô màu xám tro, tay cầm chiếc bàn tính gỗ và một cuốn sổ bìa da dày cộp; đứng kè hai bên là sáu tên tuần đinh mặc giáp da cũ, hông đeo đao sắt của thương hội vận tải địa phương.
Quanh bãi đất trống trước bến nước, hơn hai chục hộ dân gầy gò, quần áo nhuộm một màu bùn đất đỏ quạch đang xếp hàng nộp những bó củi khô và các bao tải lương thực nhỏ lẻ. Tiếng gã trạm trưởng gõ chiếc dùi đồng lên mặt bàn vang lên lanh lảnh giữa không gian tĩnh lặng:
- Tuyến đường vận quặng phía bắc vừa bị sạt lở vì giặc cướp phá hoại, trên phủ đã có lệnh xuống cho trạm Hắc Thổ: từ tháng này, mỗi hộ trong xóm phải nộp thêm hai tạ củi khô vào khoản đóng góp phòng vệ, đồng thời cử một đinh tráng ra công trường đắp lại nền đường năm ngày không tính công! Nhà nào thiếu người thiếu củi thì cứ việc lấy thóc hoặc đồ sắt trong nhà ra khấu trừ theo giá quy định của thương hội!
Đám dân làng đứng dưới nắng cúi gằm mặt không ai dám thở mạnh. Ngay trước bàn kiểm kê, một người phụ nữ ngoài ba mươi tuổi mặc chiếc áo vải vá chằng chịt đang quỳ sụp trên nền đất đỏ, một tay đỡ lấy ông lão tóc bạc trắng đang ho khụ khụ, tay kia nắm chặt vạt áo gã trạm trưởng, giọng khản đặc như sắp khóc:
- Bẩm trạm trưởng... Phu quân dân phụ là Trương Đại bị gọi đi làm phu khuân đá ở khu mỏ từ đầu mùa mưa, mấy hôm trước nghe người chạy về báo là hầm mỏ bên đó bị sập, tới nay sống chết thế nào cũng không có lấy một mảnh tin... Giờ trong nhà chỉ còn người già yếu với đứa nhỏ mới lên bảy, gạo phát theo suất đi phu của nhà ta tháng này trạm đã gạch tên cắt mất rồi, sao phần sưu dịch với thuế hộ vẫn tính nguyên như lúc còn người?
Gã trạm trưởng chẳng buồn cúi xuống nhìn người phụ nữ, ngón tay để móng dài lật xoẹt qua hai trang giấy chi chít những dòng chữ mực đen và vết gạch đỏ mà đám dân đen không biết chữ chẳng bao giờ tự kiểm chứng được:
- Trương Đại nhà ngươi ký giấy nhận ba đấu gạo ứng trước để đi làm phu mười hai tháng, mới làm được chín tháng đã tự ý mất tích trong lúc hỗn loạn, tính ra còn nợ trạm đúng ba tháng ngày công chưa hoàn thành. Sổ sách của thương hội và tiên môn ghi rõ ràng từng chữ, người mất tích thì cắt khẩu phần ăn, nhưng nợ ngày công của hộ tịch thì người ở lại phải gánh tiếp! Không có trai tráng đi đắp đường thay thì nộp năm đấu thóc ra đây xóa nợ!
- Xin đại nhân minh giám, năm đấu thóc là cả phần thóc giống cho vụ tới của nhà ta rồi...
Người phụ nữ vừa kêu lên một tiếng tuyệt vọng, gã trạm trưởng đã lạnh lùng phất tay. Hai tên tuần đinh đứng bên cạnh lập tức sải bước đi thẳng vào khoảng sân đất nện của căn nhà tranh sát bờ suối. Trước mặt bao người hàng xóm đang đứng chết lặng, hai tên tuần đinh thản nhiên tháo luôn chiếc xe đẩy tay một bánh bằng gỗ nẹp sắt cùng hai lưỡi cuốc đã mòn vẹt treo dưới hiên nhà, quẳng thẳng lên xe bò của trạm.
Ông lão tóc bạc run rẩy định lao tới giữ lại chiếc xe đẩy kiếm cơm duy nhất của gia đình, nhưng một gã đàn ông mặc áo tuần đinh có gương mặt sạm nắng và giọng nói đặc sệt âm sắc dân bản địa vùng đồi đã đưa cán đao ra chặn ngang ngực ông lão, hạ giọng nói khẽ như phân trần:
- Lão Trương, ông đừng làm khó huynh đệ chúng ta. Cấp trên khoán xuống trạm này chiều nay phải gom đủ ba mươi suất phu và hai xe đồ sắt đem lên sửa đường cho kịp chuyến quặng tuần tới của các vị tiên sư. Chúng ta mà giao thiếu một cân sắt hay trễ một khắc, tối nay về trạm không những bị đòn roi mà phần gạo phát cho thê nhi ở nhà cũng bị cắt sạch, chúng ta để lại thóc là đã nể tình rồi . Ông giữ cái mạng già lại mà nuôi cháu đi!
Ông lão nghe vậy thì cả người cứng đờ, bàn tay gầy guộc buông thõng xuống bên sườn, trơ mắt nhìn chiếc xe đẩy và đôi nông cụ bị kéo đi lọc cọc trên mặt đường đá sỏi.
Cách đó vài căn nhà, dưới hiên một túp lều tranh thấp lè tè cuối xóm, một đứa bé gái gầy trơ xương đang ngồi canh nồi đất trên bếp củi; vừa nghe tiếng lục lạc đồng trên cổ ngựa của toán tuần đinh tiến về phía cuối làng, đứa trẻ chẳng đợi ai bảo đã lập tức vớ lấy chiếc gáo dừa, thuần thục xúc một vốc tro nguội hất thẳng vào ngọn lửa nhỏ rồi kéo tấm phản tre đậy kín miệng nồi cháo rau rừng trộn cám lại, đôi mắt đen láy nép sau vách đất nhìn ra ngoài đường với vẻ cảnh giác đã ăn sâu vào máu thịt.
Trên sườn đồi phủ đầy bóng cây, Lâm Uyên lặng lẽ đứng nhìn toán tuần đinh áp giải đoàn dân phu gánh củi và chiếc xe bò chở đầy nông cụ tịch thu khuất dần sau khúc cua đất đỏ, bàn tay đang đặt trên chuôi kiếm của hắn bất giác siết chặt đến mức các đốt ngón tay trắng bệch.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.