Chương 46: Người Mua Thuốc
Vạn Cổ Quy Khư
Mục lục
48 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 48/48 chương
Trần Dực nói xong câu ấy thì ho. Tiếng ho bị giữ trong cổ họng, khô đến mức Lâm Uyên tưởng hắn không còn sức đẩy nó ra. Viện chủ Tế Sinh Viện đặt hai ngón tay lên mạch hắn, đưa mắt ra hiệu cho người bên cạnh hạ tấm rèm. Trên vai trái, lớp sương quanh chiếc kim bạc tan đi rồi tụ lại. Nửa gói Xích Tủy Tán đã kéo hàn khí lùi được một đoạn, nhưng vệt xám dưới da vẫn chạm tới xương quai xanh.
“Góc tây nam,” Lâm Uyên nhắc lại, chủ ý để viện chủ nghe rõ. “Hắn nói Tả tiên sinh từng dùng loại linh thạch ấy.”
Viện chủ không rời tay khỏi mạch Trần Dực. “Ta nghe rồi. Nếu ngươi muốn hắn nói thêm, đợi đến sáng.”
“Đến sáng còn có thể hỏi không?”
“Đó là việc ta đang cố giữ cho ngươi.”
Ông rút kim, đặt vào đĩa đồng. Một chấp sự mang ba bản chép biên nhận tới gần đèn. Cả ba hiệu thuốc đều ghi số gói đã bán, giờ giao hàng và khoản tiền thu được. Chỗ tên người mua chỉ có một dấu mực tròn của người nhận hàng thay chữ ký. Bản chép thứ ba bị nhòe ở mép vì mưa; không tờ nào nói thuốc đang ở đâu.
Lâm Uyên định cầm lên thì tay phải đau nhói. Hắn đổi sang tay trái. Viện chủ thấy động tác ấy, đẩy đĩa kim ra xa để hắn có thêm chỗ đặt giấy.
“Ta là người ký Dược Khế,” Lâm Uyên nói. “Cho ta xem bản gốc.”
“Bản gốc ở các quầy. Ba tờ này do người của ta chép lại để mua thuốc, không phải để làm án.”
Lời ấy khiến Lâm Uyên dừng lại. Trên một bản, giờ giao hàng viết là cuối giờ Thân; bản khác ghi đầu giờ Dậu. Nếu đem ba dòng chữ này tới Tông Sảnh rồi gọi chúng là chứng cứ, một người chỉ cần chỉ ra nét mực chép sai là đủ khiến cả việc truy thuốc bị chậm thêm. Hắn hỏi người được phái đi đã nhìn thấy người bán hay chưa. Viện chủ cho biết cả ba đã nói chuyện với chủ quầy, nhưng không ai thấy khách mua. Người ấy cho ba người chạy việc tới, trả linh thạch và mang thuốc đi trong những hòm gỗ riêng.
Ngoài sân, tiếng giày dẫm trên nền ướt mỗi lúc một gần. Tô Trạch tới cùng hai chấp sự của Tông Sảnh. Lão không bước thẳng vào gian bệnh, đứng dưới mái hiên chờ viện chủ gật đầu. Hai cổ tay lão vẫn quấn vải; khi tháo áo choàng ướt, lão phải kẹp một vạt vào khuỷu tay mới kéo được xuống.
Viện chủ nói ngắn gọn về ba hiệu thuốc. Tô Trạch nhìn Lâm Uyên. “Ngươi muốn ra thành?”
“Ta muốn biết thuốc đi đâu.”
“Ngươi không có giấy rời nội viện. Ta cũng không còn quyền dẫn người qua cổng.”
Lâm Uyên nghe thấy hai chấp sự phía sau lão đổi tư thế. Tô Trạch cố ý nói trước mặt họ. Việc lão tới đây có thể được ghi vào sổ, nhưng nếu hai người cùng biến mất khỏi Tô gia trong đêm, bản ghi ấy sẽ biến thành một thứ khác.
“Vậy nhờ người có quyền đi,” hắn đáp.
Tô Trạch lấy một tờ giấy từ tay áo, đặt lên bàn viện chủ. Đó là lệnh đối chiếu giao dịch của ba hiệu thuốc, có dấu Tông Sảnh và chỗ trống dành cho tên người được phái. “Ta xin được tờ này trước khi biết ngươi định nói gì. Chỉ đủ để hỏi và sao lại sổ, không đủ lục kho nhà người ta.”
Lâm Uyên nhìn lão. Tô Trạch không nhận ánh nhìn ấy. Lão hỏi viện chủ còn bao lâu trước khi phải dùng nửa gói thuốc cuối. Viện chủ nói nửa đêm. Nếu dùng cả phần còn lại, Trần Dực có thể qua một đêm; ngày mai hàn khí sẽ lại lan. Nếu chia nhỏ, hắn có thêm thời gian chờ thuốc, nhưng cánh tay trái có thể mất cảm giác vĩnh viễn. Ông không hứa cách nào chắc hơn.
Tô Trạch điền tên hai chấp sự. Lão bảo họ tới các quầy lấy bản gốc, hỏi người giao hòm đã qua lối nào và để người bán tự ghi câu trả lời. Trước lúc đi, một người hỏi có cần hỏi về Tả tiên sinh. Tô Trạch lắc đầu. “Các ngươi đi tìm thuốc.”
Đêm xuống nhanh sau trận mưa. Tế Sinh Viện thắp thêm đèn, nhưng không khí trong gian bệnh vẫn có mùi than ẩm và thuốc cháy. Ở gian ngoài, Tô Tín tỉnh một lần. Hắn định chống khuỷu tay ngồi dậy, chân vừa động đã đau đến tái mặt. Khi được dặn nằm yên, hắn hỏi có đưa Tô Lạc về chưa. Chấp sự bên giường không trả lời ngay. Lâm Uyên đứng sau tấm bình phong, nghe tiếng người kia gấp tấm khăn lau lại làm đôi.
“Chưa,” chấp sự nói. “Đường xuống bị sập. Tông Sảnh đang bàn người mở lối.”
Tô Tín nhìn lên mái nhà một lát. “Hắn ghét chỗ tối.”
Không ai trong gian ngoài biết nên đáp thế nào. Tô Tín nhắm mắt, nhưng bàn tay tróc da của hắn vẫn giữ mép chăn, như từng giữ đầu dây dưới giếng. Lâm Uyên trở lại giường Trần Dực. Những người còn sống chưa thể thay nhau chịu phần đau của người khác; họ chỉ có thể đừng để một cái tên bị gạch khỏi câu chuyện vì thiếu thuốc hay thiếu người ký giấy.
Một chấp sự áo xanh từ phòng trực viện bước vào, mang theo phong thư dán sáp trắng. Bên ngoài ghi Tế Sinh Viện, không ghi tên người gửi. Người đưa là một tiểu đồng ở cổng phía tây; nó nhận thư từ một phu xe đợi ngoài đường rồi không còn thấy xe khi quay lại.
Viện chủ mở thư trước mặt Tô Trạch và Lâm Uyên. Bên trong là một mảnh giấy và một ít bột đỏ được gói trong giấy dầu. Ông ngửi bột, vê giữa hai ngón tay rồi lấy một giọt nước thử trên đĩa. Mùi thuốc bốc lên đúng thứ mùi còn đọng trên kim bạc của Trần Dực.
“Tựa Xích Tủy Tán,” ông nói. “Chưa đủ để cho người bệnh dùng. Ta phải thử lại.”
Trên mảnh giấy chỉ có hai dòng:
Một gói trước canh ba. Một bản chép lời khai của người từ Hắc Phong Sơn trở về, đặt tại quầy giao hàng Nam Phố.
Không có chữ ký, cũng không nói bản chép lời khai của ai. Lâm Uyên đọc lần nữa. Người viết biết Tế Sinh Viện thiếu thuốc. Họ muốn một bản chép, không đòi lấy bản gốc; như vậy dấu phong của Tông Sảnh vẫn có thể nguyên vẹn khi chuyện bị phát hiện. Nếu có thuốc thật, người gửi vẫn giữ phần còn lại. Nếu bột là giả, họ chỉ mất một nhúm dược liệu.
Tô Trạch hỏi viện chủ: “Thứ này có thể điều chế ở nơi khác rồi giả làm thuốc của các hiệu trong thành không?”
“Có thể. Ta không biết nó từ hòm nào. Người bệnh cũng không thể làm phép thử thay chúng ta.”
Lâm Uyên gấp thư. “Họ cần biết Trần Dực nói gì.”
“Có thể,” Tô Trạch đáp. “Hoặc cần biết chúng ta đã nghe được bao nhiêu.”
Viện chủ lấy tờ giấy khỏi tay Lâm Uyên, đặt lên khay để cách xa thuốc. “Muốn đoán ý người gửi thì ra ngoài. Muốn cứu bệnh nhân, để ta làm việc.”
Lời nói không lớn, nhưng cả hai đều im. Lâm Uyên ra mái hiên. Trong sân, nước mưa từ đầu lá trúc rơi vào chum đá, mỗi giọt tách khỏi tiếng người đi lại. Hắn nhìn về phía cổng nội viện. Chỉ cần giao một bản chép, có thể đổi được một gói thuốc. Nhưng những lời khai kia không thuộc về riêng hắn. Tô Lạc đã chết để đưa người lên; Tô Tín còn nằm sau bình phong; Tô Thanh Ly bị giữ trong phòng vì một trang giấy biến mất. Một tờ khác rời Tông Sảnh trong đêm sẽ đi đến đâu, hắn không thể quyết định thay họ.
“Tờ của ta thì sao?” hắn hỏi Tô Trạch. “Nếu ta chép đúng phần mình đã thấy?”
“Trong án này, ngươi đã khai trước hội đồng. Người ta có thể lấy bản viết tay của ngươi đối chiếu với lời chính thức, rồi chọn chỗ hai câu khác nhau.” Lão nhìn bàn tay trái đang giữ phong thư của hắn. “Kẻ đặt giá không đưa thuốc trước. Hắn muốn ngươi bước vào việc này bằng một lần phá quy củ.”
Lâm Uyên nhét thư vào tay áo. “Vậy ta dùng quy củ của họ.”
“Quy củ nào?”
“Người sống là án chứng. Có người đưa thuốc đến cổng để đổi lời khai của án chứng. Thứ họ mang là vật có thể cứu hắn, cũng là dấu vết của người đang cản việc cứu hắn.”
Tô Trạch không nói ngay. Một chấp sự gác hành lang đã nghe được phần cuối; hắn đứng thẳng hơn, như biết mình sắp phải ghi thêm một câu khó chịu vào sổ trực. Tô Trạch quay sang hắn, bảo chuyển thư tới Tông Sảnh dưới dấu niêm của viện chủ, đồng thời xin lệnh kiểm tra quầy giao hàng Nam Phố. Lệnh cũ chỉ cho hỏi sổ. Muốn giữ thuốc và người giao, phải có chữ ký mới.
“Đại trưởng lão sẽ ký?” Lâm Uyên hỏi.
“Ta chưa biết.” Tô Trạch khép vạt áo choàng. “Nếu ký, sáng mai cả thành sẽ biết Tô gia còn một nhân chứng sống từ Hắc Phong Sơn. Người bán thuốc, người đốt Tàng Thư Các và người chưa từng nghe tên ngọn núi ấy đều có thể tìm tới.”
“Đêm nay hắn phải sống đã.”
Tô Trạch nhìn qua rèm cửa. Trần Dực nằm yên, một nửa vai dưới chăn như thấp hơn bên còn lại. Lão gật đầu, gọi chấp sự mang thư đi.
Gần cuối giờ Tuất, hai người được phái ra thành trở về. Trên giày họ có bùn của con phố phía nam và mùi dầu đèn từ hiệu thuốc. Họ mang bản sao có dấu của ba chủ quầy. Người bán thứ nhất nhớ một người trẻ không lộ mặt, cầm phiếu mua bằng tay trái. Người bán thứ hai khẳng định khách trả tiền là một phụ nữ lớn tuổi. Chủ hiệu thứ ba không thấy khách, chỉ thấy phu xe tới lấy hòm. Ba lời tả không khớp; không ai chứng minh họ cùng gặp một người.
Chỉ có một chỗ giống nhau: mỗi gói thuốc được đặt trong một hòm gỗ nhỏ, cả ba hòm hẹn giao tại quầy Nam Phố, nơi có người nhận hàng thay mặt khách. Hôm ấy quầy đã đóng sổ trước giờ Dậu, nhưng một xe hàng vẫn ra cổng nam khi trời sắp tối. Người gác cổng ghi trên thẻ xe là dược liệu khô, không mở hòm vì bên ngoài có dấu kiểm của ba hiệu.
“Dấu kiểm thật,” một chấp sự nói. “Các chủ quầy nhận.”
Tô Trạch lật từng bản sao. “Họ gộp hàng trước khi ra cổng. Xe đi đâu?”
“Trên thẻ ghi kho tạm ngoài thành. Người giữ kho là bên vận chuyển, không phải hiệu thuốc. Lối ra đi qua cổng nam, lối về chưa ghi.”
Có người đã gom được thuốc bằng tiền và giấy đúng lệ. Những người chạy việc không cần biết ai trả tiền. Một quầy có thể chuyển lời mà không giữ người. Kẻ mua có đường đưa hàng ra khỏi thành, nhưng vẫn phải dùng cổng, sổ xe và dấu của người bán. Lâm Uyên thấy rõ giới hạn ấy trên tờ giấy: họ không thể rút thuốc từ Tế Sinh Viện, cũng không thể tự vào phòng Trần Dực. Bởi vậy mới có phong thư và cái giá đặt ở Nam Phố.
Từ phía hành lang vang lên tiếng bước chân khác. Chấp sự mang thư trở lại, đi cùng một người của Tông Sảnh cầm ống tre niêm đỏ. Tô Nguyên Chấn đã ký lệnh kiểm tra quầy và thẻ xe. Dưới dấu của đại trưởng lão có một dòng bổ sung: mọi lời khai phát sinh ngoài Tô gia từ đêm nay phải đưa về Tông Sảnh, không ai tự giữ bản riêng.
Tô Trạch đọc xong, không giấu vẻ mệt. Lão đưa ống tre cho hai chấp sự rồi nhắc họ cần người của cổng thành đi cùng. Một người hỏi nếu quầy giao hàng trống thì sao.
“Lấy sổ. Hỏi người gác. Đừng đuổi theo xe khỏi phạm vi lệnh.”
“Thuốc ở trên xe,” Lâm Uyên nói.
“Có thể.” Tô Trạch chỉ vào dấu đỏ. “Lệnh này chưa cho chúng ta qua cổng nam. Nếu người của ta vượt ra ngoài rồi gặp chuyện, Tô gia sẽ mất người và mất cả chứng cứ rằng xe từng đi qua.”
Lâm Uyên muốn đáp rằng Trần Dực cũng sắp hết thời gian, nhưng hắn nhìn hai cổ tay quấn vải của lão. Ở Hắc Phong Sơn, họ đã từng lao xuống một lối không biết có đường lên hay không. Tô Lạc vẫn ở lại đó. Hắn giữ câu nóng nảy trong miệng, xin viện chủ cho biết có cách nào kéo dài tới sáng. Viện chủ nói một nửa gói còn lại phải dùng vào nửa đêm. Sau đó ông chỉ có thể giữ tim và làm chậm cơn lạnh, không thể đẩy nó ra khỏi xương.
Đội ra quầy Nam Phố trở về trước canh ba. Họ mang theo sổ giao hàng, một hòm gỗ rỗng và người coi quầy, một lão già có móng tay đen vì buộc dây thừng tẩm dầu. Ông ta không biết tên khách. Hôm qua, ông đã cho xe chở cả ba hòm ra cổng nam theo đúng phiếu gửi. Chiều nay, có người mang chiếc hòm rỗng trở lại, nói chủ hàng muốn dùng nó để đựng dược liệu khác. Người ấy để hòm trên quầy, không lấy lại.
“Ta thấy lạ,” lão già nói. “Nhưng hòm là của họ. Ta còn ghi vào sổ một dòng.”
Bên trong hòm có một mảnh giấy hẹn bị dán dưới lớp giấy lót. Người của Tô gia tìm thấy nó lúc kiểm tra vết bột còn sót. Mép dưới mảnh giấy dính sáp trắng mới, giống phong thư gửi Tế Sinh Viện. Chữ ghi địa điểm nhận là một bến nước ngoài cổng nam. Không có giờ. Nếu họ đi ngay, có thể tới đó trước người nhận thật; cũng có thể chỉ đến một chỗ trống do đối phương viết để buộc họ rời thành.
Lâm Uyên đứng cạnh bàn, nghe viện chủ từ gian trong gọi người hâm thuốc. Mùi Xích Tủy Tán mới tan trong nước nóng làm hắn nghĩ đến nửa gói cuối. Ba hòm đã ra khỏi thành; một hòm rỗng được cố ý đưa trở lại. Hai hòm còn lại có thể đang ở đâu đó ngoài cổng nam, nơi giấy của Tô Nguyên Chấn chưa với tới.
Hắn nhìn lão coi quầy. “Ông có thấy thứ gì trong hòm rỗng không?”
“Có giấy lót. Ta để nguyên.”
Bên trong hòm, giấy lót đã dính bột thuốc màu đỏ ở bốn góc. Viện chủ bước ra, lấy một chút bằng đầu kim. Ông thử trên đĩa đồng, chờ màu chuyển rồi mới nói đây là bột Xích Tủy Tán thật, lẫn bụi gỗ. Dưới lớp giấy còn có một sợi chỉ gai đỏ buộc nút đôi. Nút ấy không nói thuốc ở đâu, nhưng có thể nhận ra hòm nếu họ tìm được chiếc còn nguyên.
Người của Tông Sảnh định ghi bột và sợi chỉ vào sổ vật chứng. Lâm Uyên giữ mép hòm bằng tay trái. “Một hòm rỗng cũng đủ để đối chiếu với số hàng đã qua quầy. Xin để viện chủ giữ bột đối chiếu. Phần giấy và dây niêm lại.”
Người kia nhìn Tô Trạch. Lão chỉ nói: “Ghi ai giữ cái gì. Lần này đừng để người khác phải đoán.”
Mọi thứ được làm dưới đèn. Viện chủ ký nhận ít bột thuốc, người Tông Sảnh đóng dấu lên giấy lót, lão coi quầy nhận lại một bản ghi những lời mình đã nói. Động tác chậm, từng tờ phải chờ mực khô. Trong gian bệnh, Trần Dực nuốt nửa gói thuốc cuối mà không tỉnh. Lâm Uyên nghe tiếng chén đặt xuống, nhẹ đến mức chỉ người đang đợi mới nhận ra.
Tô Trạch bảo người dẫn lão coi quầy về Tông Sảnh, không khóa như phạm nhân. Khi sân vắng, lão đặt trước mặt Lâm Uyên một bản sao của tờ giấy hẹn.
“Địa điểm là bến nước,” lão nói. “Sáng mai ta sẽ xin người ra ngoài cổng. Có thể thuốc đã đi xa.”
“Cũng có thể họ còn chờ lời khai.”
“Nếu vậy, người chờ sẽ phải để lại thêm dấu.”
Lâm Uyên gấp bản sao, nhưng Tô Trạch không buông ngay. Dòng cuối tờ giấy hẹn không phải tên bến. Nó ghi số hòm sẽ giao: hai.
Ba hòm đã được mua. Một hòm rỗng được gửi lại quầy; hai hòm được hẹn đưa tới bến nước, vừa đúng số gói Trần Dực còn thiếu. Người mua biết họ cần loại thuốc gì. Nếu mảnh giấy không phải một trò dẫn đường, kẻ ấy còn tính cả phần thuốc Tế Sinh Viện giữ trong kho và thời gian bệnh nhân có thể chờ.
Ngoài cửa sổ, mưa đã tạnh. Bến nước ở ngoài tường thành, không xa tới mức không thể đi, nhưng giữa nó và gian bệnh có cổng nam, lệnh quản thúc và một đêm vừa cạn. Lâm Uyên đặt bản sao xuống, nhìn bàn tay phải không thể nắm lại. Sáng mai, hắn sẽ phải quyết định có thể trả giá nào để đưa hai hòm thuốc ấy trở về mà không giao lời khai của người khác.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.