Quyển 2: Giáo
Chương 14: Hạt Giống
Bách Việt Hùng Đồ
Mục lục
46 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 46/46 chương
Mộ A Sơn nằm ở sườn đồi phía nam ấp Dĩnh, dưới một gốc cây lá rộng mà Nam Kha không biết tên, có cành thấp che nắng. Nhưng cậu không nằm ở đó ngay từ đầu. Lần chôn thứ nhất là ở góc đông nam thành Yên, được chôn vội, chôn nông, chôn bằng tay và bằng giáo giữa lúc trận chiến vừa kết thúc. Khi quân Trịnh rút khỏi Yên thì Lĩnh xin theo toán hậu quân và quay lại đếm đúng số bước cậu đã đếm hôm ấy từ chân tường. Rồi Lĩnh đào A Sơn lên, bọc lại, rồi cõng A Sơn về suốt quãng đường mấy ngày mà không để ai đỡ hộ một lần nào.
Chỗ này là Lĩnh chọn, chọn vì hướng nam, vì A Sơn nói muốn quay mặt về phương nam. Lĩnh nhớ từng chữ dù lúc A Sơn nói thì Lĩnh chỉ gật đầu mà không đáp vì cậu ta không bao giờ đáp những thứ nặng quá bằng lời. Lĩnh chỉ đáp bằng tay, bằng hành động, bằng cái cách cậu ta đào huyệt sâu hơn cần thiết rồi đắp mộ kỹ hơn cần thiết. Sau đó Lĩnh ngồi xuống trước mộ, rút bông lúa khô ra khỏi giáp. Cậu tuốt lấy mấy hạt bằng hai đầu ngón tay, vùi xuống lớp đất mới, ấn nhẹ cho đất lấp kín, rồi giắt phần còn lại trở vào giáp mình.
Nam Kha đến lúc sáng sớm khi sương chưa tan, cỏ ướt dưới chân. Anh mang theo một bát cơm nóng và một bát rượu nhỏ mà anh xin từ bếp bà Cả. Lĩnh đã ở đó ngồi trước mộ, vai gồng, không nói gì, bông lúa khô ở giáp vẫn giắt đúng chỗ cũ. Khi Nam Kha đến, Lĩnh không quay lại mà chỉ hơi nghiêng đầu, cái nghiêng đầu mà Nam Kha đã học được là cách Lĩnh nói "ta biết ngươi ở đây".
Nam Kha đặt bát cơm xuống trước mộ, rót rượu ra đất. Rượu ngấm vào đất nhanh rồi biến mất. Anh nghĩ rằng đây là lần đầu tiên anh rót rượu viếng mộ trong đời. Vì ở thế kỷ 21 anh chưa mất ai đủ gần để phải đứng trước mộ, ông bà mất khi anh còn nhỏ, anh chỉ nhớ mẹ khóc chứ không nhớ mình cảm thấy gì. Bây giờ, ở đây, anh đứng trước mộ một người mà anh quen chưa lâu, một cậu trai trẻ tay nắm bông lúa khi chết. Anh cảm thấy rõ ràng đến mức ngực đau và anh hiểu rằng mất mát không đo bằng thời gian quen nhau mà đo bằng khoảnh khắc cùng nhau.
Anh đứng trước mộ, im lặng một lúc rồi nói nhỏ bằng tiếng Việt hiện đại, giọng Sài Gòn, giọng sinh viên hai mươi hai tuổi, giọng mà không ai trong bán kính ba nghìn năm hiểu được ngoài anh.
"Trong sách sử, không ai biết tên cậu. Nhưng tôi biết."
Câu đó ra khỏi miệng anh nhẹ hơn anh tưởng, nhẹ như gió sáng, nhẹ như sương trên cỏ. Nhưng nó nặng, nặng vì nó đúng, nặng vì trong tất cả những cuốn sách lịch sử mà anh đã đọc ở đại học thì không cuốn nào, không một dòng nào, nhắc đến một cậu trai người Lạc Việt bị bắt làm nô lệ dìu đồng đội khi bị thương, tay nắm bông lúa khi chết và quay mặt về phương nam. Sử chép về vua, chép về tướng, chép về nước mất thành mất, chép "quân Trịnh tổn thất nhẹ". Và A Sơn nằm trong hai chữ "tổn thất" đó gọn ghẽ và sạch sẽ.
Nhưng Nam Kha biết tên, biết mặt, biết cậu hay dìu người, biết cậu nắm lúa khi chết. Và anh tự hứa bằng tiếng Việt hiện đại mà chỉ trời nghe rằng anh sẽ nhớ, nhớ A Sơn, nhớ tất cả những người không có tên trong sử. Vì nếu anh không nhớ thì không ai nhớ cả. Nếu không ai nhớ thì họ chết tận hai lần.
Lĩnh vẫn ngồi đó, không nghe hiểu tiếng Nam Kha nói nhưng cậu ta nghe giọng, nghe cái run nhẹ trong giọng. Cậu ta không hỏi vì Lĩnh không bao giờ hỏi những thứ thuộc về lòng người.
Nam Kha quay đi bước xuống đồi. Mắt anh nóng và anh không lau, để nắng lau cho.
Ấp Dĩnh sau trận Kinh khác đi, khác ở chỗ không ai nói ra nhưng ai cũng thấy. Lính Trịnh nhìn nhóm Việt khác. Trước trận, họ là "đám người lạ của Dĩnh Khảo Thúc", một nhóm nô lệ trốn được nhặt về, nói tiếng lạ, ăn lạ, đi đứng lạ. Lính Trịnh nhìn họ bằng con mắt nửa tò mò nửa khinh, kiểu nhìn con chó hoang mà tướng quân mang về nuôi. Sau trận, họ là "nhóm đã đánh ở Kinh", đã đổ máu, đã mất người. Cái "đã mất người" ấy, ở quân đội, ở bất cứ thời đại nào, là tấm vé vào cửa mà không gì thay thế được, vì lính chỉ tôn trọng người lính đã chôn đồng đội.
A Phúc nhận ra đầu tiên vì cậu nhạy với ánh mắt người hơn bất cứ ai trong nhóm. Cậu nói với Nam Kha vào buổi sáng, khi hai người đi lấy nước ở giếng đầu ấp:
"Mấy tên lính kia không còn nhìn mình bằng mắt nhìn chó nữa."
Nam Kha suýt bật cười vì cách A Phúc diễn đạt thẳng thắn đến mức tàn nhẫn. Nhưng nó đúng và anh nói:
"Vì mình đã đánh cùng họ."
"Vì anh Sơn chết."
A Phúc nói nhỏ hơn. Cậu nhìn xuống mặt nước trong giếng, nhìn bóng mình lung linh ở đáy. Nam Kha thấy cái gì đó trong mắt cậu mà anh chưa thấy trước đây, một thứ cứng hơn, già hơn, kiểu mắt của người đã hiểu rằng tôn trọng trong thế giới này phải mua bằng máu. Cái hiểu ấy ở một cậu bé mười ba tuổi khiến Nam Kha buồn hơn bất cứ điều gì anh đã buồn trong tuần này.
Mị Linh không nói gì về sự thay đổi ấy nhưng nàng bắt đầu dẫn đội cung thủ nhỏ của mình ra sân tập chung với lính Trịnh. Nàng không xin phép ai mà chỉ đi ra. Binh lính Trịnh nhìn, liếc, vài người khoanh tay kiểu chờ xem trò gì. Mị Linh không nhìn họ mà chỉ giương cung bắn, ba phát liên tiếp, cả ba trúng bia cọc gỗ đầu sân, cắm gần nhau đến mức từ xa trông như một chùm. Lúc này tên lính khoanh tay lúc nãy buông tay xuống, quay sang nói gì đó với người bên cạnh mà Nam Kha không nghe rõ nhưng đoán được. Vì cái cách hắn nhìn Mị Linh đã đổi từ "con bé này làm gì ở đây" thành "con bé này bắn hơn mình". Mị Linh vẫn không nhìn họ. Nàng chỉ quay sang đội cung thủ, chỉnh tay một người rồi bắn tiếp. Cái không nhìn ấy mới là thứ khiến lính Trịnh nể, vì nó nói rằng nàng không cần ai công nhận, nàng chỉ cần mũi tên trúng đích.
Bà Cả vẫn nấu cơm, vẫn chia phần, vẫn đều tay, nhưng bây giờ bà nấu nhiều hơn, vì có thêm vài tên lính Trịnh trẻ bắt đầu ghé lán nhóm Việt ăn cơm. Ban đầu vì tò mò, sau vì cơm bà Cả ngon hơn cơm doanh trại. Bà không từ chối ai, chỉ xới thêm trong im lặng, kiểu người đã nuôi cả đời và không cần lý do để nuôi thêm.
Buổi chiều, Lý Trực đến tìm Nam Kha. Mặt ông ta bình thường nhưng bước chân nhanh hơn thường lệ, cái nhanh mà Nam Kha đã học được là dấu hiệu ông ta có tin tức.
"Tử Đô nói chuyện với mấy đại phu tối qua."
Lý Trực nói. Ông ngồi xuống cạnh Kha ở góc lán, giọng thấp, tiếng Nhã ngữ xen tiếng Lạc Việt cổ kiểu chỉ hai người hiểu.
"Ta nghe được qua người hầu nhà Tế Túc."
"Nói gì?"
"Nói rằng Khảo Thúc can gián là hay nhưng ai giao cho ông ấy quyền can gián. Ông ấy là tướng, việc ông ấy là đánh trận, không phải dạy chúa công làm gì."
Nam Kha nghe mà bụng lạnh, không phải vì câu nói sai mà vì câu nói đúng. Đúng về mặt nguyên tắc, đúng ở chỗ Dĩnh Khảo Thúc thật sự không có quyền can gián vua vì ông là tướng không phải gián quan. Cái đúng ấy mới nguy hiểm, vì nó cho Tử Đô một lớp vỏ hợp lý để bọc cái ghen bên trong. Khi ghen được bọc trong lý thì nó sắc hơn ghen trần trụi gấp mười lần.
"Mấy đại phu nói gì?"
Nam Kha hỏi.
"Có người gật đầu."
Lý Trực đáp, mắt nheo.
"Không nhiều, nhưng có."
Nam Kha im lặng. Anh nghĩ đến Tử Đô đứng trong triều hôm Trang Công thề Hoàng Tuyền, mắt khô nhìn Khảo Thúc và cân đo. Nghĩ đến Tử Đô đứng ngoài hầm hôm đoàn tụ, mắt không nhìn hầm mà nhìn Dĩnh Khảo Thúc. Và bây giờ Tử Đô bắt đầu nói, bắt đầu gieo, bắt đầu trồng. Mọi thứ anh đều biết vì đã đọc, rằng hạt giống ấy sẽ lớn, sẽ ra quả. Và quả ấy là một mũi tên bay từ sau lưng ở trận Hứa mười năm nữa.
Sáng nay, trên sườn đồi phía nam, Lĩnh cũng đã vùi mấy hạt xuống đất. Hai đầu ngón tay cậu ấn nhẹ, lấp cho kín. Cậu ta không nói gì khi làm, không giải thích cho ai và cũng không định cho ai thấy.
Mười năm, Nam Kha có mười năm. Nhưng anh không biết làm gì với mười năm ấy vì Tử Đô chưa phạm tội, chưa làm gì sai. Hắn chỉ mới nói, mới ghen, mới cân đo. Ở thời đại này, nói xấu tướng quân khác sau lưng không phải tội chém đầu, nó là chính trị, là bình thường, là thứ mà mọi triều đình đều có. Anh không thể chạy đến Dĩnh Khảo Thúc nói "Tử Đô sẽ giết ông" vì bằng chứng ở đâu, vì tại sao anh biết, vì câu hỏi "sao ngươi biết" sẽ lại dẫn đến cái hố sâu mà anh không có cách nào lấp.
Anh nghĩ đến những cuốn tiểu thuyết xuyên không anh đọc ở thế kỷ 21, những cuốn mà nhân vật chính biết trước tất cả và thay đổi lịch sử dễ dàng như lật trang sách. Hiện giờ anh nghĩ tất cả sai, sai hết. Biết trước mà không có bằng chứng thì biết để làm gì. Biết ai sẽ giết ai mà không thể nói thì biết để mà đau. Và đau mà không làm gì được thì đau ấy giống y như đọc sách, biết nhân vật sẽ chết, muốn nhét tay vào trang giấy kéo nhân vật ra, nhưng giấy chỉ là giấy và nhân vật chỉ là nét mực.
Chỉ có điều, ở đây, nhân vật không phải mực. Dĩnh Khảo Thúc là người thật, bát cơm là thật, vỗ vai là thật. Và mũi tên, khi nó bay, cũng sẽ thật.
Chạng vạng, có một tên lính Trịnh trẻ ngồi ăn ở lán nhóm Việt, chừng mười tám tuổi, tóc buộc cao, ăn nhanh như người sợ hết phần. Ăn xong gã không đi ngay mà ngồi lại, xỉa răng bằng một cọng cỏ rồi nói, không nhắm vào ai, kiểu người nói cho có chuyện.
"Nghe bảo Khảo Thúc tướng quân dạo này hay nói chuyện triều đình."
Nam Kha đang chia củi thì anh dừng tay.
"Ai bảo?"
"Không biết."
Tên lính nhún vai.
"Người ta bảo. Trên bảo xuống."
Gã cười, cái cười của người không biết mình vừa mang giúp ai cái gì.
"Mà tướng quân thì việc gì phải nói chuyện triều đình nhỉ. Đánh là đánh thôi."
Gã vét nốt miếng cơm cháy dưới đáy nồi, sau đó gật đầu chào bà Cả rồi đi.
Nam Kha ngồi xuống với bó củi còn trong tay. Câu ấy anh vừa nghe chiều nay từ miệng Lý Trực trong một cái lán khác, gói trong mấy lớp dè dặt của người biết tin là thứ nguy hiểm. Bây giờ nó ra khỏi miệng một tên lính mười tám tuổi, trần trụi, gọn lỏn, giữa lúc gã xỉa răng. Khoảng cách giữa hai lần nghe chưa đầy một buổi.
Và tên lính không nhớ nổi ai đã nói câu ấy trước. Đó mới là chỗ đáng sợ, vì một câu mà người nhắc lại không còn nhớ nguồn thì nó đã thôi là lời của ai, nó thành thứ người ta biết.
Tối đến, Cao Cát đến tìm Nam Kha. Ông ngồi xuống cạnh Nam Kha ở bậc cửa lán, không chào, không hỏi han, vì giữa hai người đã lâu không cần mở đầu bằng lời. Rồi ông nói gọn và khô, giọng Cao Cát luôn luôn như thế:
"Ta nghe Tử Đô đang kết bè."
Nam Kha nhìn ông.
"Lý Trực nói với ông?"
"Không. Ta có tai mắt riêng."
Cao Cát đáp. Nam Kha nhận ra rằng Cao Cát đã xây mạng lưới tin tức riêng trong ấp từ bao giờ mà anh không biết. Cái "không biết" ấy không phải Cao Cát giấu mà là ông không nói vì chưa cần nói, vì Cao Cát là kiểu người chỉ đưa thông tin ra khi thông tin ấy cần được dùng, không sớm hơn, không muộn hơn.
"Ông nghĩ hắn sẽ làm gì?"
Nam Kha hỏi.
Cao Cát im lặng một lúc. Mắt ông ta nhìn ra sân tập tối, nơi Đăng đang ngồi canh đêm, lưng dựa cột, giáo bên cạnh. Cái bóng kiên nhẫn, yên lặng và luôn ở đó. Rồi Cao Cát nói chậm, cân đo từng chữ:
"Chưa biết. Nhưng kẻ ghen ghét mà có tài thì nguy hơn kẻ ghen ghét mà ngu ngốc."
Nam Kha nhìn Cao Cát và Cao Cát cũng nhìn Nam Kha. Và trong mắt hai người, không cần nói thêm vì có cùng một thứ là lo lắng. Lo cho Khảo Thúc, lo cho nhóm, lo cho cái mong manh của mọi thứ họ đang có, vì tất cả đều dựa trên Dĩnh Khảo Thúc. Hiện tại Dĩnh Khảo Thúc đang bị một kẻ có tài, có ghen, có kiên nhẫn nhắm.
Và Nam Kha nghĩ, lần đầu tiên nghĩ thật rõ: nhóm Việt không thể dựa mãi vào một người. Dù người ấy là Dĩnh Khảo Thúc, dù Dĩnh Khảo Thúc đáng tin hơn bất cứ ai Nam Kha từng gặp ở cả hai thời đại, thì dựa vào một người vẫn là đặt tất cả lên một cái trụ. Kết quả sẽ trụ gãy thì sập hết. Anh cần chỗ đứng riêng cho nhóm, không phải chỗ đứng ai cho mà chỗ đứng tự xây, có danh, có phận, có thứ gì đó mà dù Dĩnh Khảo Thúc không còn thì nhóm vẫn đứng được. Anh chưa biết chỗ đứng ấy là gì, chưa biết xây bằng cách nào, nhưng anh biết mình phải bắt đầu tính toán.
Gió đêm thổi qua sân mang theo mùi cỏ khô và mùi lửa tàn. Ở xa xa, trong bóng sáng của bếp lửa, bà Cả đang kể chuyện cho Mây. Giọng bà trầm đều, kể về Văn Lang, về trống đồng, về những người đi trên sông bằng thuyền dài. Mây ngồi nghe, mắt tròn. Bên cạnh Mây, Nghĩa cũng ngồi, lần đầu tiên cậu nghe chuyện bằng tiếng Lạc Việt cổ mà cậu không hiểu hết nhưng vẫn nghe. Vì giọng bà Cả có cái gì đó không cần hiểu mà chỉ cần nghe, kiểu giọng ru con vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ.
An ngồi cạnh bếp lửa, vẽ trên đất bằng que. Nam Kha nhìn từ xa, nhìn bức tranh An vẽ trong ánh lửa chập chờn. Anh thấy có thêm một người trong tranh, cao hơn An, có thể là Nghĩa. Va bớt một người, một chỗ trống mà trước đây có ai đó đứng và bây giờ trống. An không vẽ lại, chỉ để trống, vì đôi khi cách một đứa trẻ nhớ ai là không vẽ thêm mà để chỗ đó trống cho họ.
Đăng ngồi ngoài vòng sáng, ông ta canh gác đêm, lưng dựa cột, giáo bên cạnh, mắt mở, tai nghe. Cái bóng ấy vẫn kiên nhẫn, yên lặng, đã ở đó từ ngày đầu tiên Nam Kha gặp ông ta và sẽ ở đó cho đến ngày cuối cùng. Nam Kha nhìn Đăng mà nghĩ rằng có những người không cần nói thương để thương, không cần nói bảo vệ để bảo vệ. Họ chỉ cần ngồi đó, ngồi canh mỗi đêm và cái đều đặn ấy sau đủ lâu sẽ trở thành thứ không ai có thể sống thiếu.
Nam Kha nhìn tất cả, nhìn lửa, nhìn nhóm, nhìn bầu trời sao. Anh không nghĩ gì lớn lao, không nghĩ về lịch sử, không nghĩ về Tử Đô, không nghĩ về mười năm. Anh chỉ nhìn, nhìn những người này, cảm thấy ấm, và cảm thấy sợ. Anh sợ vì ấm, vì mỗi lần anh ấm ở thời đại này thì một phần nào đó trong anh biết rằng cái ấm ấy sẽ bị lấy đi, sẽ bị tước, sẽ bị một mũi tên hoặc một cuộc chiến hoặc một cái chết phá vỡ. Anh sẽ lại đứng trước mộ, rót rượu, nói tên người chết rồi đi tiếp.
Nhưng hôm nay, đêm nay, lửa còn cháy, bà Cả còn kể, An còn vẽ, Đăng còn ở canh và anh còn ở đây.
Anh sờ túi chạm vào dây thun đỏ. Nó đã phai hơn nữa, mỏng hơn nữa, nhưng vẫn còn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.