Quyển 1: Bến Vạn Chài & Sóng Gió Tiêu Trang
Chương 36: Ruộng Đá Khởi Sinh, Mộc Linh Huyết Đằng
Nam Thiên Tu Tiên Truyện
Mục lục
50 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 50/50 chương
Gió núi chớm đông từ rặng đá tai mèo phía bắc Thiết Sơn thốc xuống, mang theo hơi lạnh buốt giá và mùi hanh hao của bụi quặng sắt. Vạt đồi Bát Trượng nằm trơ trọi ở rìa ngoài cùng Thanh Trúc Môn, dốc đứng như sống trâu, cỏ tranh mọc lơ thơ chen lẫn những vỉa đá ong xám xịt nhô lên nham nhở. Trên đỉnh dốc, một căn chòi tranh vách nứa xiêu vẹo đứng run rẩy trước từng cơn gió thốc, mái rạ đã mục nát non nửa, để lộ những nan tre đen đúa như bộ xương sườn của loài dã thú gục chết chốn hoang ngàn.
Lý Quân — nay mang thân phận tán tu Lý Giang Điền — vác trên vai cây cuốc sắt hoen rỉ nặng trịch, bước từng bước vững chãi trên con đường mòn lổn nhổn sỏi cuội. Đôi hài vải thô nhuộm màu chàm đã bạc thếch nơi đầu mũi, nhưng từng bước chân đặt xuống mặt đất đều trầm ổn, không một chút xao động. Hắn áp chế khí tức ở Luyện Khí tầng một, hô hấp nông và hơi thở mang theo vẻ mệt nhọc của một kẻ nông phu quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, nhưng đôi mắt giấu dưới vành nón lá lại sáng quắc, quét qua từng khe đá, từng mạch nước ngầm đang rỉ rả dưới lớp đất sỏi khô cằn.
Đây chính là ba sào ruộng đá mà quản sự Trần Đại Cương đã "ưu ái" phân cho hắn. Một mảnh đất chết đúng nghĩa, nơi quặng hắc thiết phong hóa lẫn vào thổ nhưỡng khiến rễ cây bị nghẹt thở, tính kim quá thịnh khắc chế mộc khí, chưa kể nguồn nước tưới phải gánh từ con suối cạn dưới chân đồi cách xa hơn nửa dặm. Hơn mười đệ tử ngoại môn trước hắn từng nhận vạt đồi này đều ngậm đắng nuốt cay bỏ mạng hoặc bị phế bỏ tu vi, trục xuất khỏi tông môn vì không nộp đủ chỉ tiêu linh dược sau ba tháng.
Lý Giang Điền dừng bước trước căn chòi nứa. Bên chái chòi có một vại sành sứt miệng dùng hứng nước mưa rỉ rả từ máng tre, đáy vại bám rêu xanh mướt. Dưới chân chòi, một cội thị cổ thụ thân gồ ghề u bướu vươn những cành khẳng khiu chắn ngang ngọn gió bấc từ phương bắc đổ về, rải xuống khoảng sân đất nện vài chiếc lá vàng khô khốc.
Hắn không vội vàng ra ruộng. Đạo của người làm ruộng muôn đời vẫn vậy: muốn yên nghiệp trước hết phải an cư.
Lý Giang Điền hạ cây cuốc sắt, xắn tay áo nâu sồng, bắt tay vào dọn dẹp nơi trú ngụ. Hắn tìm mấy đoạn tre đực già còn sót lại sau vạt đồi, chẻ lạt giang, thoăn thoắt dặm lại những chỗ vách nứa thủng gió. Đôi bàn tay thon dài từng vẽ phù lục, từng vung Thanh Trúc Kiếm chém đầu tà tu, lúc này cầm dao rựa đan nứa lại vô cùng thuần thục, dẻo dai. Chẳng mấy chốc, căn chòi rách nát đã kín gió, nền đất được quét tước sạch sẽ tinh tươm, chiếc chõng tre ọp ẹp được kê lại ngay ngắn bằng mấy hòn đá cuội phẳng lì. Từ một phế tích hoang tàn, nơi đây đã thoang thoảng hơi ấm của bàn tay con người, giản dị mà đượm vẻ thanh bình.
Gió bên ngoài bắt đầu rít từng hồi dài qua khe đá. Trời ngả dần về chiều, ráng đỏ quạch như máu chim rải trên những ngọn núi xa tít tắp. Sau nửa ngày dọn dẹp, bụng Lý Giang Điền khẽ réo lên cồn cào. Hắn mỉm cười, ngồi xếp bằng trên bậc thềm đá trước chòi, đón lấy ngọn gió lạnh đầu mùa rồi thò tay vào đáy chiếc túi nải thô sơ, cẩn thận lấy ra một gói bọc lá chuối khô buộc lạt giang hình chữ thập.
Mở lớp lạt giang mềm mại, lớp lá chuối tiêu khô màu nâu sẫm mở ra, để lộ bốn chiếc bánh gai vuông vức, bóng bẩy như những phiến huyền thạch đen óng.
Đây là món bánh gai Tứ Trụ trứ danh xứ Thanh mà hắn đã mua dự trữ từ chuyến ghé qua phường thị trước khi nhập môn. Bánh gai không chỉ là thức quà tao nhã chốn nhân gian, mà với linh nông nghèo khó, đây là món lương khô tuyệt hảo có thể giữ được cả chục ngày mà không ôi thiu. Lớp vỏ bánh đen tuyền óng ánh, dẻo quánh và mịn màng được làm từ bột nếp nhung giã nhuyễn cùng lá gai khô đồ chín, phảng phất hương thơm ngai ngái, nồng nàn của cây cỏ đồng quê.
Lý Giang Điền cắn một miếng nhỏ.
Vỏ bánh dẻo quánh bám nhẹ nơi đầu răng, vị ngọt đậm đà của mật mía hòa quyện ngay tức khắc với vị bùi ngậy của nhân đậu xanh vàng ươm được đồ tơi xốp. Ẩn sâu bên trong lớp đậu mịn màng là những sợi cùi dừa nạo giòn sần sật, vài hạt sen bở tơi thơm bùi như gói trọn hương vị phù sa mùa hạ, cùng chút thịt mỡ lợn ướp đường trong vắt tan chảy béo ngậy mà không hề ngấy. Trên bề mặt bánh, những hạt vừng rang vàng ruộm lách tách vỡ ra, tỏa hương thơm lừng xộc thẳng lên cánh mũi, đánh thức mọi giác quan đang mỏi mệt.
Để làm dịu vị ngọt đậm của mật mía, Lý Giang Điền với lấy chiếc ấm đất nung bên cạnh. Hắn vừa đun một ấm nước vối từ những chiếc lá vối bánh tẻ hái vội nơi bờ suối cạn. Nước vối đỏ au như hổ phách, bốc khói nghi ngút trong chiếc bát sành thô mộc. Hắn bưng bát nước áp vào hai lòng bàn tay để sưởi ấm, phả nhẹ làn khói mỏng rồi nhấp một ngụm sâu.
Vị chát nhẹ thanh tao ban đầu lướt qua đầu lưỡi, ngay sau đó chuyển hóa thành một dòng dư vị ngọt mát lắng sâu nơi cuống họng. Hơi ấm của nước vối quyện cùng vị ngọt bùi của bánh gai lan tỏa khắp lồng ngực, thẩm thấu xuống tỳ vị, xua tan hoàn toàn cái lạnh cắt da cắt thịt của vùng núi đá mạt pháp.
Ngồi nhai chậm rãi từng miếng bánh gai, nhấp từng ngụm nước vối ấm, Lý Giang Điền nhìn ra ba sào đồi trọc trơ trọi sỏi đá trước mặt. Trong lòng hắn không hề có chút phẫn uất hay oán hận đối với sự chèn ép của Trần Đại Cương. Ở đời, phàm là kẻ đi tìm đại đạo mà tâm tính dễ bị ngoại cảnh lay động thì khó lòng đi xa. Người nông dân Việt Nam từ thuở hồng hoang mở cõi, đối mặt với bão dông lũ lụt, thú dữ rừng thiêng nước độc, có bao giờ chịu khuất phục trước đất đai? Đất cằn thì bón phân, đá nhiều thì nhặt đá. Tấc đất tấc vàng, mồ hôi rơi xuống thì sỏi đá cũng phải mềm lòng mà nảy mầm trổ hạt.
Ăn xong chiếc bánh gai, uống cạn bát nước vối, Lý Giang Điền đứng dậy vươn vai. Hắn cầm lấy cây cuốc sắt, sải bước xuống ruộng.
Ba sào ruộng Bát Trượng là một triền dốc thoai thoải bị xói mòn nghiêm trọng. Đất ở đây có màu xám xịt pha lẫn nâu gỉ, bên dưới lớp bụi mặt là những tầng đá ong sắc lẹm và vụn quặng hắc thiết cứng như sắt nguội. Nếu là một linh nông thông thường, chỉ cần cuốc vài nhát là mẻ lưỡi cuốc, bàn tay bật máu, linh lực tiêu tán mà chẳng xới nổi nửa thước đất.
Lý Giang Điền đứng lặng ở đầu bờ, khẽ nhắm mắt lại. Thần thức của một tu sĩ Luyện Khí tầng bốn — nhờ tu luyện Ngũ Hành Hỗn Độn Quyết cùng căn cơ vững chắc từ quả Thanh Mộc mà thâm hậu sánh ngang Luyện Khí hậu kỳ — âm thầm tản ra, len lỏi qua từng thớ đất, dò xét cấu trúc của tầng đá ngầm.
Hắn phát hiện ra rằng, mảnh đất này tuy bề mặt khô cằn độc hại vì vụn sắt, nhưng sâu dưới ba trượng lại có một mạch nước ngầm nhỏ tí tách chảy từ khe núi cao xuống. Hơn nữa, những vỉa đá ong tuy cứng nhưng lại có thớ nứt tự nhiên do chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm.
"Phải phá đá, lọc quặng, dẫn thủy nhập điền." — Hắn thầm tính toán.
Hắn không dùng pháp thuật cuồng bạo để cày xới, bởi dao động linh lực mạnh mẽ sẽ lập tức kinh động đến thần thức của các chấp sự tuần tra trên không trung. Lý Giang Điền nắm chặt cán cuốc bằng gỗ nghiến, điều động luồng linh lực Ngũ Hành Hỗn Độn chuyển hóa thành Nhu Thủy kình, rót đều vào lưỡi cuốc sắt.
Keng!
Lưỡi cuốc bổ xuống một tảng đá ong to như chiếc cối xay. Âm thanh vang lên không chát chúa mà trầm đục. Kình lực vi tế của Thủy linh lực men theo khe nứt của tảng đá chạy dọc vào tâm, tạo nên một chấn động cộng hưởng âm ỉ. Tảng đá ong khẽ rùng mình, lập tức vỡ vụn thành từng mảng nhỏ tơi xốp mà không làm mẻ một góc lưỡi cuốc!
Lý Giang Điền khom lưng, hai bàn tay thoăn thoắt nhặt từng viên đá lớn xếp thành bờ kè kiên cố dọc theo triền dốc để ngăn đất trôi khi có mưa rào. Những mảnh vụn quặng hắc thiết sắc nhọn được hắn gom lại một góc — thứ này tuy độc với cây cỏ thường, nhưng sau này có thể dùng luyện chế trận bàn hoặc bẫy rập phòng thân.
Từng nhát cuốc bổ xuống đều đặn như nhịp thở. Đất đá lật lên ngổn ngang. Bàn tay của hắn, dù có kình lực bảo vệ, nhưng để che giấu thân phận và thích nghi với lao động thực thụ, hắn cố ý để lớp da lòng bàn tay cọ xát với cán gỗ thô ráp cho đến khi phồng rộp, rỉ ra những giọt máu tươi đỏ thắm. Máu quyện vào đất nâu sẫm, mồ hôi mặn chát từ trán nhỏ xuống rãnh cày vừa xới, bốc lên mùi ngai ngái đặc trưng của đất mẹ vừa được đánh thức sau ngàn năm ngủ vùi.
Một giọt mồ hôi, một nhát cuốc, Lý Giang Điền cảm nhận được một mối liên kết kỳ lạ giữa bản thân và mảnh đất này. Đây không phải là sự nô dịch của lao động khổ sai, mà là sự giao hòa nguyên sơ nhất giữa con người và thiên nhiên — cái gốc rễ của Thủy Mộc tương sinh mà bấy lâu nay hắn chỉ ngộ được trên kinh văn sách vở.
Đến khi trăng non nhô lên khỏi đỉnh ngọn Thiết Sơn, ba sào ruộng đá đã được hắn cày xới xong một sào đầu tiên. Đất được đánh luống cao ráo, bờ kè đá vững chãi như bờ thành thu nhỏ, rãnh thoát nước uốn lượn nhịp nhàng sẵn sàng đón dòng thủy khí.
Lý Giang Điền lau mồ hôi trên trán, khẽ thở dài một hơi sảng khoái. Hắn quay trở về căn chòi nứa, cài then cửa gỗ cẩn thận.
Đã đến lúc giải quyết bài toán hóc búa nhất: Mộc Linh Huyết Đằng.
Hắn ngồi xếp bằng trên chiếc chõng tre, phất tay gieo bốn lá bùa cách ly cấp thấp quanh bốn góc chòi để ngăn ánh sáng và dao động tản mác ra ngoài. Đoạn, hắn mở chiếc hộp gỗ sơn đen cũ kỹ mà Trần Đại Cương đã giao cho.
Bên trong hộp lót một lớp rơm khô mốc meo, nằm rải rác ba mươi hạt giống hình bầu dục, to bằng đốt ngón tay cái. Vỏ hạt có màu đen sì pha lẫn những đốm mốc trắng xám, cứng quắc như đá sỏi, không hề tỏa ra một tia sinh cơ nào. Thậm chí có vài hạt đã teo tóp, nứt nẻ vì bị quặng khí xâm lấn lâu ngày.
"Trần Đại Cương, ngươi quả thực thâm độc. Hạt giống chết thế này, đừng nói ba tháng, dẫu mười năm cũng chẳng thể nảy mầm." — Khóe miệng Lý Giang Điền đanh lại, ánh mắt thoáng nét cười nhạt.
Nhưng hắn không phải là linh nông tầm thường. Hắn là truyền nhân của Thượng Cổ Thần Nông Đạo Đình, kẻ nắm giữ bí mật của trống đồng Lạc Việt.
Lý Giang Điền khẽ vỗ vào ngực áo. Một vầng hào quang lam sắc mờ ảo lóe lên, Mảnh Trống Đồng thứ nhất (Lôi Thủy) chậm rãi hiện ra, lơ lửng trên lòng bàn tay hắn. Những hoa văn chim Lạc sải cánh và vòng tròn đồng tâm khắc họa sấm sét, sóng nước cổ xưa khẽ rung động, phát ra những tiếng ngân nga trầm hùng như tiếng sấm đầu mùa vọng lại từ cõi hoang sơ.
Hắn lấy một chiếc bát sành sạch, múc vào đó một bát nước suối trong vắt từ vại nước mưa. Kế đó, hắn bấm một đạo pháp quyết, ngón tay trỏ khẽ chạm vào tâm điểm của Mảnh Trống Đồng.
Tách.
Một giọt chất lỏng lấp lánh ánh lam quang, trong vắt như ngọc tủy và ngưng tụ lôi đình sinh cơ ngàn năm, từ rãnh hoa văn chim Lạc chậm rãi nhỏ xuống bát nước.
Vừa chạm vào nước suối, giọt linh dịch lập tức tan biến, biến cả bát nước thành một dung dịch tỏa ra sương mù mờ ảo, hương thơm thanh khiết như mầm non vừa đâm chồi sau cơn mưa rào mùa xuân. Lôi khí ẩn chứa trong giọt dịch không mang tính hủy diệt, mà là "Xuân Lôi kích phát vạn vật", chuyên phá vỡ lớp vỏ phong ấn và tịch diệt của hạt giống cổ xưa.
Nhưng Lý Giang Điền không lập tức thả hạt giống vào. Người nông dân Việt Nam ngâm ủ lúa giống muôn đời nay đều nằm lòng quy tắc: ba sôi hai lạnh.
Hắn dùng một ngọn lửa linh hỏa nhỏ đun ấm bát nước linh dịch đến độ ấm vừa phải — độ ấm tương đương với hơi thở của đất mẹ vào tiết lập xuân. Tiếp đó, hắn cẩn thận nhặt từng hạt Mộc Linh Huyết Đằng, dùng một chiếc dũa sắt nhỏ nhẹ nhàng mài mỏng lớp vỏ cứng nơi đầu cuống hạt, giúp linh dịch dễ dàng thẩm thấu mà không làm tổn thương phôi mầm bên trong.
Sau khi chuẩn bị xong, ba mươi hạt giống được thả vào bát nước ấm linh dịch Lôi Thủy.
Xèo xèo...
Vừa chạm vào nước, những hạt giống mốc meo đen sì lập tức sủi lên những bọt khí li ti. Lớp mốc xám bên ngoài tan biến như tuyết gặp ánh mặt trời, lớp vỏ sỏi đá khô cằn dần mềm ra, để lộ những đường vân đỏ tía uốn lượn như mạch máu li ti trên thân hạt. Từng luồng sinh cơ mãnh liệt từ giọt linh dịch điên cuồng rót vào phôi mầm đang say ngủ. Hạt giống khẽ rung rinh trong lòng bát, tựa như những quả tim non nớt đang bắt đầu đập những nhịp đập đầu tiên sau giấc ngủ vùi trăm năm!
Ngâm trọn một đêm, đến khi nước trong bát nguội dần và chuyển thành màu hồng nhạt, Lý Giang Điền vớt ba mươi hạt giống ra. Lúc này, hạt nào hạt nấy đều căng tròn mọng nước, vỏ ngoài chuyển sang màu đỏ son bóng bẩy như những viên hồng ngọc quý giá.
Bước tiếp theo chính là ủ trấu.
Hắn lấy một chiếc nia tre nhỏ, rải một lớp tro bếp trộn lẫn vỏ trấu lúa nếp đã được hun khói khử trùng. Đặt ba mươi hạt Huyết Đằng lên trên, hắn phủ tiếp một lớp rơm mục ấm áp, rồi vẩy nhẹ vài giọt nước linh dịch còn sót lại. Hắn đem nia trấu đặt cạnh bếp than hồng âm ỉ trong góc chòi, duy trì nhiệt độ ấm áp liên tục.
Rơm rạ ủ hạt, tro trấu giữ nhiệt — đây là trí tuệ dân gian ngàn năm của nền văn minh lúa nước, kết hợp cùng tạo hóa huyền diệu của Thần Nông Thần Khí, tạo nên một lò ấp sinh mệnh hoàn hảo đến mức không một trận pháp ươm mầm đắt tiền nào của tu tiên giới có thể sánh bằng.
Liên tục ba ngày ba đêm, Lý Giang Điền không hề chợp mắt. Ban ngày hắn vác cuốc ra ruộng xới đất, nhặt đá, đắp mương dẫn nước; ban đêm hắn lại ngồi bên nia trấu, canh chừng nhiệt độ và độ ẩm, lặng lẽ vận chuyển Ngũ Hành Hỗn Độn Quyết để hấp thu linh khí thiên địa.
Hắn nhận thấy linh khí ở vùng mỏ Thiết Sơn tuy dồi dào Kim khí nhưng lại thiếu hụt Mộc và Thủy nghiêm trọng, nếu chỉ đơn thuần thổ nạp thiên địa linh khí thì tiến độ bồi tụ chân khí sẽ vô cùng chậm chạp. Nhớ lại những ngày dùi mài y lý nơi y quán của thầy Tuệ Ông và những ghi chép trong cổ thư Nam Dược Dị Thảo Chí, Lý Quân nảy ra một hướng đi táo bạo: mượn thảo dược thuốc nam bản địa để dưỡng đạo.
Lợi dụng đêm khuya thanh vắng, hắn lén lút dò dẫm quanh những hốc đá tai mèo và vách vực hiểm trở sau rặng núi, tìm đào những gốc thảo dược thuốc nam mọc hoang dại: rễ đinh lăng đá sần sùi bám sâu vào vách nứt ngậm sương đêm, củ sâm cau rừng già nua ẩn mình dưới thảm lá mục đỏ au, cùng những nhánh ngũ gia bì gai cứng cỏi trơ gan cùng tuế nguyệt. Hắn mang về giấu kín trong một khoảnh đất nhỏ sau vách chòi nứa, ban đêm dùng nước suối ngầm pha loãng từng giọt linh dịch Lôi Thủy từ Mảnh Trống Đồng thứ nhất để bí mật tưới bón.
Dưới tinh hoa của Thần Nông Thần Khí, những cây thuốc nam vốn mang dược tính phàm trần ấy dần dần lột xác, mạch lá ánh lên sắc xanh ngọc bích, rễ củ phình to đẫy đà, tích tụ một lượng sinh cơ Mộc - Thổ thuần hậu và ôn hòa khôn xiết. Đêm đêm, sau khi chăm bón ruộng đằng, Lý Quân lại cẩn thận đào lấy rễ củ, rửa sạch bằng nước vối rồi dùng ấm đất sắc thành từng bát linh thang đậm đặc. Dược lực cay nồng, ngọt ấm của đinh lăng, sâm cau kết hợp cùng lôi thủy sinh cơ không chỉ đả thông từng nhánh kinh mạch nghẽn tắc, tống khứ cặn bã phàm tục, mà còn biến thành những luồng chân khí ấm áp cuồn cuộn rót thẳng vào đan điền, âm thầm bồi bổ linh lực cho hắn từng ngày từng giờ...
Đến rạng sáng ngày thứ tư.
Sương mù đặc quánh như sữa bò bao phủ vạt đồi Bát Trượng. Tiếng gà rừng le te gáy sáng từ hẻm núi xa xăm vọng lại.
Lý Giang Điền nhẹ nhàng lật lớp rơm mục bên trên nia trấu ra.
Một cảnh tượng kỳ diệu đập vào mắt hắn:
Tất cả ba mươi hạt Mộc Linh Huyết Đằng đều đã nứt toác lớp vỏ cứng! Từ đầu cuống hạt, những mầm non hình mũi giáo đỏ rực như ngọn lửa non kiêu hãnh vươn mình lên cao chừng nửa tấc. Đầu mầm đọng lại một giọt sương mai trong vắt lấp lánh ánh hào quang ngũ sắc, tỏa ra một làn sóng linh khí Mộc hệ nồng đậm, ngọt ngào làm thơm ngát cả căn chòi tranh!
"Thành công rồi!" — Đôi mắt Lý Giang Điền lóe lên tia sáng rực rỡ. Ba mươi hạt giống phế phẩm, dưới bàn tay của hắn và linh dịch Trống Đồng, đã đã sống sót trọn vẹn cả ba mươi hạt, mười phần không hao hụt một, thậm chí phẩm chất sinh cơ còn vượt xa hạt giống thượng phẩm của tông môn!
Hắn cẩn thận bọc nia mầm giống lại, chuẩn bị mang ra ruộng hạ thổ khi ánh mặt trời đầu tiên xua tan sương giá.
Vừa mở cửa chòi bước ra sân, Lý Giang Điền chợt nghe thấy tiếng bước chân khập khiễng cùng tiếng ho sù sụ từ con dốc bên dưới vọng lên.
Một bóng người gầy guộc, lưng còng rạp như con tôm luộc đang chống chiếc gậy tre khó nhọc bước từng bước lên đồi. Đó là một lão tu sĩ già nua, tóc tai bạc trắng bù xù búi vội bằng một chiếc trâm gỗ gãy, mặc chiếc áo đạo bào ngoại môn vá chằng vá đụp, màu vải xanh đã phai thành màu cháo lòng. Trên vai lão vác một đôi thùng gỗ cũ kỹ mòn vẹt mép.
Lý Giang Điền nhận ra người này. Đây là Lão Đậu, một tán tu già năm nay đã ngoài sáu mươi tuổi, tu vi chỉ dừng lại ở Luyện Khí tầng ba. Lão đã làm linh nông ở sườn đồi Thất Trượng kế bên hơn hai mươi năm, quanh năm câm lặng như một hòn đá, không giao thiệp với ai, mặt mũi lúc nào cũng cau có, khắc khổ.
Lão Đậu dừng bước ở ranh giới giữa hai mảnh ruộng, đôi mắt đục ngầu kèm nhèm lén liếc nhìn sang mảnh ruộng đá của Lý Giang Điền. Khi nhìn thấy mảnh đất hoang tàn nham nhở ngày nào giờ đã được dọn sạch đá tảng, lên luống ngay ngắn thẳng tắp như bàn cờ, bờ kè đá xếp lớp lớp vững chãi ngăn xói mòn, khóe mắt Lão Đậu khẽ giật giật, trong đáy mắt xẹt qua một tia kinh ngạc tột cùng.
Nhưng vẻ kinh ngạc ấy lập tức bị thay thế bằng ánh nhìn cảnh giác và chua chát. Ở cái chốn tu tiên mạt pháp này, người ta giẫm đạp lên nhau mà sống. Ma mới đến cướp đất, tranh nước, cướp đoạt phân bón linh thổ của ma cũ là chuyện thường tình.
Lão Đậu gằn một tiếng qua kẽ răng, toan gánh đôi thùng nước cắm cúi bước tiếp.
Lý Giang Điền hiểu rất rõ tâm lý ấy. Hắn không hề tỏ ra xa cách hay đề phòng, mà nở một nụ cười hồn hậu, chất phác của người cùng chung cảnh ngộ cày thuê cuốc mướn. Hắn đặt chiếc nia mầm giống trong bóng râm dưới mái hiên, bưng chiếc ấm đất nung bước lại gần ranh giới bờ ruộng:
— Đậu lão ca! Trời sớm sương muối lạnh buốt thế này mà bác đã đi gánh nước rồi sao? Tiểu đệ vừa mới đun được ấm nước vối rừng nóng hổi, mời bác uống một bát cho ấm bụng rồi hẵng làm!
Lão Đậu khựng lại, ngẩng đầu lên nhìn Lý Giang Điền bằng ánh mắt đầy nghi hoặc:
— Ngươi gọi ta là gì? Ở cái Thanh Trúc Môn này, lũ đệ tử trẻ tuổi chỉ gọi ta là 'Lão Đậu Điếc' hay 'Lão Cẩu làm ruộng'. Ngươi đừng có giở trò ngon ngọt. Ruộng của ngươi ở đồi Bát Trượng, ruộng của ta ở đồi Thất Trượng, nước suối dưới khe ai đến trước thì múc trước, đừng hòng mở lời xin ta nhường rãnh nước!
Lý Giang Điền bật cười xua tay, nụ cười sáng trong không một chút tì vết:
— Bác đa nghi quá rồi. Nước suối là của trời đất, ai siêng năng thức khuya dậy sớm thì người ấy được hưởng, đệ nào dám tranh đoạt. Đệ chỉ thấy bác trạc tuổi phụ thân đệ ở quê nhà, sáng sớm dầm sương gió lạnh hại đến kinh mạch tỳ vị, nên có chút lòng thành mời bát nước ấm mà thôi. Nếu bác không chê, xin hãy nếm thử chút phong vị thôn dã.
Nói đoạn, Lý Giang Điền rót một bát nước vối đỏ au, bốc khói thơm lừng, hai tay kính cẩn đưa qua ranh giới bờ đá.
Lão Đậu nhìn đôi bàn tay trầy xước, chai sần rỉ máu vì cuốc đá của Lý Giang Điền, lại nhìn vào ánh mắt chân thành, ấm áp của hắn, lớp phòng bị gai góc dựng lên suốt hai mươi năm qua bỗng chốc rạn nứt. Mùi hương ngai ngái ngọt mát của nước vối xộc vào mũi, gợi nhớ lại những ngày tháng xa xưa nơi quê nhà trước khi lão dại dột dấn thân vào con đường tu tiên đầy máu và nước mắt này.
Bàn tay gầy guộc như cành củi khô của Lão Đậu run run vươn ra, đón lấy bát sành. Lão nhấp một ngụm nhỏ, hơi ấm lan tỏa khắp lồng ngực làm đôi vai còng rạp của lão khẽ run lên.
— Nước vối... ngon lắm... — Lão Đậu lẩm bẩm, giọng khàn đặc như nghẹn lại. Lão uống một hơi cạn sạch bát nước, thở ra một làn khói trắng xóa.
Đặt chiếc bát xuống phiến đá bờ ranh, Lão Đậu nhìn Lý Giang Điền hồi lâu, rồi thở dài một tiếng nặng trĩu:
— Ngươi... quả là một đứa trẻ có tâm tính tốt. Nhưng ở cái chốn ăn thịt người không nhả xương này, tâm tính tốt đôi khi lại là cái án tử. Ngươi có biết vì sao Trần quản sự lại ép ngươi nhận mảnh ruộng đá này không?
— Tiểu đệ nông cạn, chỉ biết vâng mệnh tông môn mà thôi. — Lý Giang Điền khiêm tốn đáp.
Lão Đậu khẽ liếc mắt nhìn quanh quất, thấy bốn bề sương mù bảng lảng không một bóng người, mới hạ giọng thì thào, trong thanh âm lộ rõ vẻ sợ hãi:
— Trần Đại Cương có một đứa cháu họ tên là Trần Tam Bưu, tu vi Luyện Khí tầng bốn, cai quản khu chuồng nuôi linh thú phía chân núi. Thằng ranh con ấy nuôi một bầy Thiềm Độc Thử — loài chuột độc chuyên đào hang dưới lòng đất để gặm nhấm rễ mầm linh thảo. Hễ có đệ tử mới nào nhận ruộng mà không chịu nộp linh thạch 'bảo kê' cho thúc cháu nhà nó, đêm xuống nó sẽ thả lũ chuột độc sang cắn phá sạch sẽ chân mầm. Khi linh thảo chết héo, quản sự sẽ khép vào tội hủy hoại tài sản tông môn, vừa thu hồi đất, vừa bắt đền linh thạch, ép người ta vào đường cùng để bán thân làm nô lệ đào quặng!
Lý Giang Điền nghe xong, đáy mắt xẹt qua một tia hàn mang sắc lạnh, nhưng nét mặt vẫn giữ vẻ bàng hoàng lo sợ:
— Có chuyện tàn độc như vậy sao? Đa tạ Đậu lão ca đã chỉ điểm! Nếu không có bác nhắc nhở, đệ quả thực không biết phải xoay xở thế nào!
Lão Đậu lắc đầu chua chát, đặt đôi thùng gỗ lên vai:
— Ta sống từng này tuổi, thấy quá nhiều đứa trẻ như ngươi phải vùi xác nơi hốc đá rồi. Hạt Mộc Linh Huyết Đằng là loại khó nảy mầm nhất, vỏ cứng như thép, nếu ngươi không ươm nổi mầm thì nên sớm gom góp vài viên hạ phẩm linh thạch đến dập đầu tạ tội với Trần quản sự xin đổi việc tạp dịch khác đi, may ra còn giữ được cái mạng...
Nói rồi, Lão Đậu lầm lũi quay lưng gánh nước bước về phía ruộng của mình, bóng lưng còng gầy guộc chìm dần vào màn sương sớm.
Lý Giang Điền đứng lặng nhìn theo bóng lưng già nua ấy. Nhân tình thế thái nơi tu tiên giới quả thực tàn nhẫn khôn cùng, nhưng sâu thẳm trong bùn lầy của sự tha hóa, ngọn lửa trắc ẩn của tình đồng loại vẫn le lói cháy. Một bát nước vối đổi lấy một lời cảnh báo sinh tử — cái đạo nhân quả của sự tử tế, ở đâu và bao giờ cũng tồn tại.
"Thiềm Độc Thử sao?" — Lý Quân khẽ cười thầm, trong lòng đã có đối sách. Loài chuột độc thích ăn rễ thảo mộc, nhưng quặng hắc thiết hắn vừa gom lại dưới bờ kè chính là khắc tinh của loài gặm nhấm dưới lòng đất. Chỉ cần bố trí một tầng sát trận lôi hỏa vi mô kết hợp bột quặng, lũ chuột ấy đến bao nhiêu sẽ làm mồi cho đất bấy nhiêu.
Mặt trời bắt đầu nhô lên, xé toạc màn sương mù dày đặc. Những tia nắng sớm ấm áp rọi xuống ba sào ruộng đá Bát Trượng.
Lý Giang Điền bưng chiếc nia tre ra ruộng, quỳ một gối xuống luống đất nâu mềm mại vừa cày xới. Bằng tất cả sự nâng niu và kính cẩn của một người con sinh ra từ cái nôi nông nghiệp lúa nước, hắn nhẹ nhàng đặt từng mầm non Mộc Linh Huyết Đằng đỏ rực vào lòng đất mẹ, phủ lên một lớp đất mịn pha mùn tro ấm áp.
Từng mầm sống kiêu hãnh cắm rễ vào lòng đá cằn, hứa hẹn một ngày vươn mình phá tan mọi xiềng xích áp bức, mở ra nấc thang đầu tiên trên con đường chinh phục đỉnh cao tiên đạo.
THƠ KẾT CHƯƠNG:
Tác giả: Xuân Hội
Rẻo đá cằn khô mở luống điền,
Đêm khuya cuốc bổ cạnh bên hiên.
Tro nồng ủ mộng nhen mầm sống,
Vỏ cứng ngâm sương giữ tấc kiên.
Sỏi quặng chan hòa dòng máu nóng,
Phù sa tưới dạt đậm căn duyên.
Đời tu chước quỷ tranh hư vọng,
Gốc rễ bền gan bước đạo tiên.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.