Nam Thiên Tu Tiên Truyện

Quyển 1: Bến Vạn Chài & Sóng Gió Tiêu Trang

Chương 35: Thiết Sơn Phường Thị, Sơ Thức Môn Quy

Đăng: 14/09/2026 03:59 4,522 từ 1 lượt đọc

Gió bấc rít qua những khe đá tai mèo nhọn hoắt, kéo theo từng đợt sương mù trắng xóa cuộn trào như sóng cuộn trên đỉnh dốc Thiết Sơn.

Lý Quân khẽ kéo vành chiếc nón mê đan bằng nứa cũ sụp xuống trán, che bớt luồng gió buốt giá đang táp từng cơn rát buốt vào mặt. Dưới chân hắn, con đường mòn cheo leo luồn lách giữa rừng vầu và rặng trúc gai xào xạc. Những tảng sa thạch đen thẫm phủ đầy rêu mốc ẩm ướt trơn tuột như bôi mỡ, chỉ cần một bước sẩy chân là có thể rơi thẳng xuống vực thẳm mù sương sâu vạn trượng.

Thế nhưng, đôi chân thiếu niên làng chài mười ba tuổi bước đi trên đá sắc lại vững chãi lạ thường.

Mỗi khi lòng bàn chân bọc trong lớp giày vải chàm thô sơ chạm vào mặt đá, luồng Thủy Linh Chân Khí trong đan điền liền biến chuyển nhịp nhàng, dung hòa cùng Mộc Linh Chân Khí từ mầm cây Thanh Mộc Long Đằng. Khí tức của hắn hòa quyện tự nhiên với cây cỏ rừng già, bước chân lướt đi êm ru không một tiếng động, thoắt ẩn thoắt hiện tựa hồ một chiếc lá khô trôi theo làn gió rít.

Men theo những nét vẽ gồ ghề trên tấm bản đồ da dê mà anh em Bùi Văn Dũng trao lại, Lý Quân đã vượt qua ba ngọn đèo hiểm trở, đi trọn hai ngày hai đêm xuyên rừng thẳm. Hắn dùng kỹ năng thu liễm khí tức học từ Mộc Linh Dưỡng Hồn Kinh, cẩn thận ém chặt toàn bộ dao động linh lực của cảnh giới Luyện Khí tầng 4, chỉ để lộ ra một luồng khí tức mong manh, yếu ớt tựa như một kẻ vừa chập chững bước qua ngưỡng cửa Luyện Khí tầng 1.

Trên con đường tu tiên đầy rẫy lang sói rình rập, một thiếu niên mười ba tuổi không môn phái nâng đỡ mà để lộ tu vi Luyện Khí tầng 4 chẳng khác nào mang vàng đi giữa chợ đêm, tự rước lấy họa sát thân. Ẩn mình tuyệt đối, dĩ nhu thắng cương — đó là đạo sinh tồn của loài tre nứa mà hắn khắc cốt ghi tâm.

Đi hết khúc quanh cuối cùng bên sườn núi đá vôi dựng đứng, không gian mù mịt bỗng bừng mở ra trước mắt hắn.

Một lòng chảo tự nhiên rộng chừng vài chục mẫu đất nằm lọt thỏm giữa bốn bề vách đá sừng sững của đỉnh Thiết Sơn hiện ra. Khói sương lượn lờ bao phủ lấy hàng trăm mái lều bạt dựng tạm bợ bằng thân cây nứa, vỏ cọ và da thú rừng. Tiếng người ồn ào huyên náo, tiếng kim loại khua lách cách, tiếng trả giá cãi cọ bằng cả tiếng Kinh miền xuôi lẫn tiếng Mường, tiếng Thái miền ngược hòa cùng tiếng gầm gừ đè nén của những loài linh khuyển, linh miêu theo chân chủ nhân...

Đây chính là Thiết Sơn Phường Thị — chợ phiên tu chân bí mật của vùng rừng núi mạn tây Thanh Hóa và Hòa Bình, mỗi tháng chỉ nhóm họp đúng một lần vào ngày rằm!

Lý Quân đứng trên mỏm đá cao, đôi mắt sáng chăm chú quan sát toàn cảnh bên dưới.

Nơi đây hoàn toàn không có vẻ xa hoa, tráng lệ hay thoát tục như những chốn thần tiên bồng lai trong truyền thuyết phàm trần. Trái lại, bức tranh tu tiên nơi biên viễn hiện lên vô cùng trần trụi, khắc nghiệt và nghèo nàn.

Hầu hết tu sĩ qua lại nơi phường thị đều là tán tu lang bạt. Họ khoác trên mình những bộ áo chàm bạc phếch lấm lem bùn đất, chân quấn xà cạp vải thô, vai đeo gùi nứa mòn vẹt. Trên gương mặt sạm nắng phong trần của họ, hầu như ai cũng chằng chịt những vết sẹo dữ tợn do móng vuốt yêu thú cào xé hoặc đao kiếm giang hồ để lại. Họ đi lại với ánh mắt cảnh giác, bàn tay luôn đặt hờ trên chuôi đao hoặc túi trữ vật bên hông.

Ở các sạp hàng trải manh chiếu rách ven đường đá, hàng hóa trao đổi cũng đậm chất thực dụng sinh tồn: vài nhánh củ mài rừng, dăm ba bó thảo dược tươi còn dính đất đỏ, những tấm da hươu sừng thú sứt sẹo, vảy cá lăng khổng lồ, hay những chiếc bùa chú sơ cấp vẽ bằng mực chu sa trên giấy dó thô ráp. Việc buôn bán ở đây chủ yếu là hàng đổi hàng: một xâu nanh heo rừng đổi lấy nửa túi muối trắng miền biển; năm củ tam thất đổi lấy mười lá bùa phòng thân hoặc vài viên đan dược cầm máu hạ phẩm.

Từng mẩu linh thạch vụn vỡ bé bằng hạt ngô ở nơi này quý giá đến mức có thể khiến hai kẻ vừa cười nói bằng hữu quay ngoắt lại rút đao chém giết lẫn nhau!

"Tài nguyên nghèo nàn, mỗi bước tiến lên đều là tranh đoạt đẫm máu..." Lý Quân khẽ lẩm bẩm trong miệng, ánh mắt càng thêm phần ngưng trọng.

Hắn khẽ siết chặt chiếc túi da trăn Càn Khôn giấu kỹ bên trong lớp áo chàm cũ, rồi cất bước đi xuống con dốc đá dẫn vào phường thị.

Đi dạo qua vài dãy lều bạt ồn ào, Lý Quân dừng chân trước một quán nước nhỏ dựng sát vách đá hoa cương xám xịt.

Quán chỉ có ba chiếc bàn tre con con và mấy khúc gỗ đẽo tròn làm ghế ngồi. Chủ quán là một lão tán tu trạc ngoài ngũ tuần, một bên chân bị khoèo phải chống gậy gỗ, da mặt đen nhẻm như da trâu, khóe mắt hằn sâu những vết chân chim khắc khổ. Trên bếp lò đắp bằng đất sét đỏ, một chiếc ấm đất nung to tướng đang sôi ùng ục, phả ra làn khói thơm nồng ngạt ngào mùi lá chè xanh rừng hòa lẫn mùi gừng nướng cay ấm.

"Tiểu đệ, vào làm bát nước chè tươi cho ấm bụng chứ? Đi đường sương gió buốt giá thế này, không có ngụm nước nóng thì đông cứng cả kinh mạch đấy!" Lão tán tu cất giọng khàn khàn đon đả, nhưng đôi mắt đùng đục lại kín đáo quét qua khắp người Lý Quân một lượt.

"Dạ, làm phiền đại thúc cho con xin một bát nước chè và có gì lót dạ không ạ?" Lý Quân bước vào, nở nụ cười rụt rè chất phác của một đứa trẻ nhà quê lần đầu ra tỉnh.

"Có cơm lam nếp nương nướng than hoa và măng rừng xào tóp mỡ lợn gác bếp đây! Toàn đồ tươi của bản người Mường mang lên sáng nay, thơm dẻo ngậy bùi lắm!"

Lão chủ quán thoăn thoắt dùng con dao bài sắc ngọt chẻ đôi một ống nứa bánh tẻ dài chừng một gang tay. Lớp vỏ nứa nứt ra, để lộ phần ruột cơm lam nếp cẩm màu tím thẫm bọc trong một lớp màng lụa mỏng mượt như nhung, tỏa ra làn khói nghi ngút thơm dẻo ngào ngạt mùi gạo nương hòa cùng mùi thơm của tre tươi và than củi.

Lão bưng ra cùng một đĩa măng đắng rừng xào tóp mỡ cháy cạnh vàng ruộm, rắc thêm chút hạt dổi nướng thơm lừng, và một bát nước chè xanh sóng sánh màu vàng mật ong.

"Của chú mày đây! Ăn đi cho nóng."

Lý Quân móc từ trong túi vải thô ra hai mẩu nanh thú cấp thấp đặt lên mặt bàn tre làm tiền trả: "Đại thúc xem ngần này có đủ không ạ?"

Lão chủ quán cầm lấy mẩu nanh thú, liếc nhìn rồi khẽ gật đầu, vẻ mặt hòa nhã hơn hẳn: "Đủ rồi, còn dư một chén nước nữa đấy! Nhìn chú mày lạ mặt, mới từ mạn Mường Lát vượt đèo sang đây à?"

"Dạ, con tên là Lý Giang Điền, người làm ruộng ở vùng chân núi ven sông, cha mẹ mất sớm. Con theo mấy chú thợ săn trong bản đi hái thuốc rừng kiếm củ khoai củ sắn, nghe đồn trên đỉnh Thiết Sơn hôm nay có chợ phiên nên mới liều mình trèo lên xem mở mang tầm mắt." Lý Quân đáp lời mạch lạc, giọng nói mộc mạc mang âm hưởng phù sa chân lấm tay bùn, tuyệt đối không để lộ nửa chữ về gốc tích làng chài hay Động Từ Thức.

"Lý Giang Điền... Tên mộc mạc mà chắc chắn đấy!" Lão chủ quán cười ha hả, nhấp một ngụm nước chè rồi thở dài: "Nơi này nhìn thì nhộn nhịp thế thôi, nhưng toàn là đám tán tu cùng khổ bám víu lấy nhau mà kiếm miếng ăn qua ngày. Tu tiên ở đất phương Nam này nghèo lắm chú mày ơi! Linh khí thì loãng như nước ốc, linh dược trăm năm bị đào bới sạch sành sanh. Lũ tán tu chúng ta cả đời lội suối trèo non, bán mạng cho yêu thú, may mắn lắm thì kiếm được vài mẩu linh thạch còm cõi, tích cóp cả chục năm trời chưa chắc mua nổi một viên Tụ Khí Đan hạ phẩm!"

Lý Quân vừa nhai miếng cơm lam dẻo quẹo chấm chút muối vừng bùi ngậy, vừa lắng tai nghe từng lời của lão. Miếng măng đắng rừng giòn sần sật, vị đắng gắt ban đầu xộc lên mũi nhưng khi nuốt xuống cuống họng lại đọng lại một vị ngọt thanh kỳ lạ, hòa cùng vị béo ngậy của tóp mỡ lợn rừng gác bếp làm bừng sáng mọi giác quan. Hắn húp một ngụm nước chè xanh nóng rẫy, vị chát ngọt đậm đà lan tỏa làm tan biến hoàn toàn cảm giác lạnh buốt của hai ngày lội suối băng rừng.

"Thế... trong chợ phiên hôm nay có môn phái lớn nào về tuyển đệ tử không đại thúc?" Lý Quân làm bộ tò mò hỏi nhỏ.

Lão chủ quán hạ thấp giọng, chỉ tay về phía bãi đất rộng nhất ở giữa chợ, nơi có một cột cờ bằng tre đực cắm một lá cờ lụa màu xanh thẫm thêu hình ba nhánh trúc đan vào nhau:

"Có đấy! Đằng kia là chỗ của Thanh Trúc Môn — tông môn tu tiên bản địa lớn nhất vùng núi rừng mạn tây này. Nghe bảo vụ mùa linh điền năm nay thiếu người, bọn họ đang dựng cờ tuyển mộ một đợt đệ tử ngoại môn phụ trách việc cày cấy, trồng trọt và chăm sóc lúa linh Huyết Đằng trên sườn núi Thiết Sơn."

Lão tán tu chép miệng, ánh mắt thoáng vẻ xót xa:

"Nhưng mà khó nhằn lắm chú mày ạ! Đệ tử ngoại môn của Thanh Trúc Môn trên danh nghĩa là tu sĩ, nhưng thực chất chẳng khác nào tá điền làm thuê cho địa chủ phàm trần! Môn phái giao cho đất cằn đá sỏi, bắt nộp tô linh thóc đến tám phần, chỉ giữ lại được hai phần còm cõi để tu luyện. Đã thế, đám đệ tử bản địa có gốc gác gia tộc thường xuyên chèn ép, bòn rút những kẻ từ nơi khác đến. Nhưng khổ nỗi, nếu không vào tông môn để mượn linh mạch tu luyện và có pháp trận che chở, thì tán tu ở ngoài rừng chỉ cần gặp một con yêu thú cấp hai là mất mạng như chơi!"

Lý Quân khẽ gật đầu, trong lòng đã tính toán thông suốt.

Đó chính là cánh cửa hẹp mà hắn đang tìm kiếm!

Hắn không cần sự đãi ngộ nhung lụa, cũng không cần ai phải nâng niu chiều chuộng. Hắn cần một thân phận hợp pháp để ẩn thân, cần một mảnh đất cằn cỗi để gieo trồng hạt giống, và quan trọng nhất: hắn có trong tay bí mật Mảnh Trống Đồng Lưỡng Nghi — cội nguồn của linh dịch có thể biến sỏi đá cằn cỗi thành đất đai màu mỡ phi thường!

"Đa tạ đại thúc chỉ lối!" Lý Quân chắp tay cảm tạ, uống cạn bát nước chè xanh rồi đứng dậy bước về phía cột cờ Thanh Trúc Môn.

Dưới lá cờ xanh hình ba nhánh trúc, một chiếc lều bạt bằng lụa xanh biếc được dựng lên trang trọng.

Phía trước lều kê một chiếc bàn gỗ lim dài. Ngồi sau bàn là một vị trung niên đạo nhân trạc bốn mươi tuổi, mặc áo bào xanh viền trắng thêu hoa văn trúc thanh nhã, gương mặt vuông chữ điền lạnh lùng như sắt, trên ngực áo cài một chiếc huy hiệu bằng đồng hình lưỡi liềm — đó là Hoàng Chấp Sự, phụ trách ngoại vụ và linh điền của Thanh Trúc Môn.

Đứng hầu hai bên là hai tên đệ tử nội môn trẻ tuổi, lưng đeo thanh kiếm bọc vỏ da trăn, ánh mắt kiêu ngạo nhìn đám người nghèo rách đang chen chúc xếp hàng bên dưới.

"Người tiếp theo!" Một tên đệ tử nội môn cất giọng quát lớn.

Một gã thanh niên vạm vỡ trạc mười tám tuổi bước lên, run rẩy chắp tay: "Thưa Chấp sự, con là thợ săn vùng sông Bưởi, có sức khỏe nâng được tảng đá năm trăm cân, đã đạt Luyện Khí tầng 1 đỉnh phong, xin được nhập môn làm việc linh điền!"

Hoàng Chấp Sự liếc mắt nhìn qua gã thanh niên, lạnh lùng phất tay áo:

"Thanh Trúc Môn tuyển đệ tử trồng trọt linh điền chứ không tuyển phu khuân vác cửu vạn! Linh thảo, linh thóc là vật có linh tính, cần người am hiểu tính chất thảo mộc, biết phân biệt độ ẩm của đất và dòng chảy chân khí, chứ kẻ chỉ có sức trâu thì làm chết cả mầm thuốc! Loại! Người kế tiếp!"

Gã thanh niên mặt mày xám ngoét, lủi thủi cúi đầu bước ra ngoài trong tiếng xì xào của đám đông. Liên tiếp bốn năm người sau đó bước lên đều bị Hoàng Chấp Sự lạnh lùng loại bỏ vì không vượt qua được những câu hỏi hóc búa về thuộc tính thảo dược.

Không khí trước lều bạt trở nên vô cùng căng thẳng. Đám tán tu ai nấy đều e dè, không dám tiến lên.

Chính lúc đó, một bóng người nhỏ nhắn khoác áo chàm bước tới trước bàn gỗ.

"Vãn bối là Lý Giang Điền, mồ côi cha mẹ từ nhỏ ở vùng rẻo cao ven sông Mường Lát, xin bái kiến Hoàng Chấp Sự và hai vị sư huynh!"

Lý Quân bước lên, hai tay ôm quyền cúi đầu hành lễ đúng phép tắc của kẻ hậu học. Bộ quần áo chàm của hắn tuy bạc màu nhưng giặt giũ sạch sẽ, ống quần túm gọn gàng, hai bàn tay chai sạn lấm chút bụi đất nhưng mười ngón tay thon dài vững chãi.

Hoàng Chấp Sự nhướng mày, ánh mắt sắc bén đảo qua thân hình thiếu niên:

"Mười ba tuổi? Tu vi mới chỉ là Luyện Khí tầng 1 sơ kỳ, đan điền linh lực yếu ớt còm cõi thế này mà cũng đòi vào Thanh Trúc Môn?"

"Bẩm Chấp Sự, vãn bối tư chất bình thường, lại sống nơi rừng thiêng nước độc nghèo nàn, không có đan dược bồi bổ nên tu vi tiến chậm. Nhưng từ nhỏ vãn bối đã theo học nghề thuốc dân gian của một vị danh y trong vùng, từng lội suối tìm rễ cây, biết cách ủ phân xanh từ lá mục, biết nhìn màu lá đoán sâu bệnh, và biết nếm vị đất để đo độ màu mỡ." Giọng nói của Lý Quân điềm đạm, khiêm nhường nhưng rành rọt từng lời, ánh mắt trong veo không hề né tránh cái nhìn áp chế của vị chấp sự Trúc Cơ.

"Ồ? Biết nhìn màu đất đoán tính thảo mộc?" Hoàng Chấp Sự thoáng hiện lên một tia hứng thú. Lão phất nhẹ tay áo, trên mặt bàn gỗ lim lập tức xuất hiện ba chiếc đĩa gốm nhỏ đựng ba loại đất khác nhau: một đĩa đất sét đỏ quánh, một đĩa đất cát pha sỏi vụn, và một đĩa đất đen mùn lá cây.

"Ngươi thử nói xem, nếu muốn gieo hạt giống Lúa Huyết Đằng của môn phái ta, thì dùng loại đất nào trong ba đĩa này? Và làm sao để hạt nảy mầm trong mùa đông giá rét này?"

Câu hỏi vừa đưa ra, đám tán tu đứng xem xung quanh đều lắc đầu ngao ngán. Lúa Huyết Đằng là linh thực đặc trưng của Thanh Trúc Môn, người ngoài làm sao biết được tập tính của nó?

Thế nhưng, Lý Quân không hề bối rối.

Những tháng ngày cặm cụi đọc cuốn Thanh Trúc Tạp Ký thu được từ chiếc thuyền đắm, cùng những bài học sâu sắc về y thuật và thảo mộc của thầy Tuệ Ông bên bờ sông Mã lập tức hiện rõ mồn một trong tâm trí hắn.

Hắn tiến lên một bước, đưa ngón tay khẽ miết lên từng đĩa đất, đưa lên mũi ngửi nhẹ mùi ngai ngái, rồi trầm tĩnh thưa:

"Bẩm Chấp Sự! Người ngoài nhìn vào thường nghĩ đĩa đất đen mùn thứ ba là tốt nhất vì nhiều dưỡng chất. Nhưng thực chất, rễ của lúa Huyết Đằng mang thuộc tính Thủy Mộc tương sinh pha lẫn chút Hỏa tính, ưa đất thoáng khí nhưng lại sợ ứ nước làm thối rễ non. Nếu dùng đất mùn đen, mùa đông sương muối tích tụ sẽ làm lạnh buốt rễ cây mà chết khô. Đất sét đỏ thì quá cứng, rễ non không đâm xuyên qua được."

Ánh mắt thiếu niên lóe lên sự tự tin:

"Lựa chọn đúng nhất là đĩa đất cát pha sỏi vụn thứ hai! Tuy cằn cỗi ít màu mỡ, nhưng loại đất này thoát nước cực tốt. Muốn hạt nảy mầm giữa mùa đông rét buốt, chỉ cần trộn tro bếp rơm rạ ủ ấm với bột xương cá suối nướng nghiền mịn, tưới bằng nước giếng ngầm ấm áp vào lúc sáng sớm khi sương chưa tan. Tro rơm giữ ấm chân gốc, bột xương bổ sung can khí, rễ cây sẽ bám sâu vào kẽ sỏi mà vươn lên đón nắng!"

Lời vừa dứt, không gian trước lều bạt bỗng chốc im phăng phắc!

Hai tên đệ tử nội môn trố tròn mắt ngạc nhiên. Còn Hoàng Chấp Sự thì sững sờ trong giây lát, rồi bỗng ngửa mặt lên trời bật cười sảng khoái:

"Khá lắm! Khá lắm! Nói trúng không sai một chữ! Đúng là đứa trẻ có gốc rễ nghề nông, lại có mắt quan sát tinh tường!"

Vị chấp sự gật đầu lia lịa, ánh mắt nhìn Lý Quân tràn đầy vẻ hài lòng:

"Người tu tiên phương Nam ta từ ngàn đời nay vốn lấy hạt lúa ngọn rau làm gốc rễ! Kẻ chỉ biết sức trâu cày cuốc hay kẻ chỉ biết ngâm thơ vịnh cảnh đều không giữ nổi linh điền. Ngươi tuy tu vi thấp kém, nhưng tâm tính cẩn trọng, am hiểu quy luật trời đất. Được! Bản chấp sự đặc cách nhận ngươi vào Thanh Trúc Môn làm đệ tử ngoại môn phụ trách linh điền!"

Nói đoạn, lão phất tay, một tấm thẻ gỗ khắc chữ "Thanh Trúc Ngoại Môn — Lý Giang Điền" cùng một bộ đạo bào vải thô màu xanh xám bay tới trước mặt Lý Quân.

"Đa tạ Hoàng Chấp Sự đã rủ lòng thâu nhận!" Lý Quân cung kính đón lấy thẻ gỗ, cúi đầu tạ ơn.

Một quân cờ quan trọng trên bàn cờ tu chân đã được hắn đặt xuống một cách hoàn hảo, không một tì vết!

Chiều muộn.

Sau khi chợ phiên Thiết Sơn vãn người, Lý Quân theo chân một toán đệ tử mới được dẫn về khu linh điền của Thanh Trúc Môn nằm ở sườn phía bắc dãy núi.

Men theo những bậc đá gồ ghề trơn trượt, hiện ra trước mắt hắn là hàng trăm mẫu ruộng bậc thang uốn lượn theo sườn dốc hiểm trở. Từng dải ruộng bậc thang tầng tầng lớp lớp như những phím đàn khổng lồ vắt ngang sườn núi mờ sương. Trên mặt ruộng, những thân lúa Huyết Đằng khẳng khiu cao chừng nửa thước đang run rẩy trước những cơn gió bấc buốt giá, từng chiếc lá màu tím thẫm đọng lại những giọt sương muối buốt rát.

Dưới chân một mỏm đá nhô ra, có một dãy nhà lán lợp bằng nứa và lá cọ khô xơ xác dành cho đệ tử ngoại môn cư ngụ.

"Dừng lại hết cho ta!"

Một tiếng quát the thé vang lên từ căn lán đầu hồi.

Một gã thanh niên gầy gò, nước da đen đúa, mặt quắt tai dơi trạc hai lăm, hai sáu tuổi chống chiếc xẻng sắt bước ra. Hắn mặc bộ đạo bào ngoại môn màu xanh xám nhưng đã sờn rách ở gấu áo, trên tay cầm một cuốn sổ da dê cũ kỹ.

Đó chính là Trần Đại Cương — sư huynh quản sự khu linh điền số 7.

Trần Đại Cương đưa cặp mắt ti hí đảo qua mấy người mới đến, ánh mắt dừng lại trên người Lý Quân nhỏ tuổi nhất, cất giọng hách dịch:

"Lũ người mới chúng mày nghe cho rõ đây! Ở cái khu linh điền này, lời của Trần Đại Cương ta chính là luật! Mỗi đứa được phân ba sào ruộng, đến vụ thu hoạch phải nộp đủ cho tông môn tám phần mười linh thóc. Còn hai phần giữ lại, chúng mày phải trích ra nửa đấu nộp cho ta gọi là 'phí bảo hộ' và tiền dầu đèn canh gác! Đứa nào dám làm hao hụt linh thóc hay cãi lời, ta liền bẩm báo Chấp Pháp Đường phế bỏ tu vi, đuổi cổ về quê bốc đất mà ăn!"

Mấy tên đệ tử mới đến nghe vậy đều run rẩy cúi đầu, không ai dám ho he nửa lời.

Trần Đại Cương hừ một tiếng gằn qua mũi, rồi chỉ tay về phía góc xa nhất của sườn núi — nơi có ba sào ruộng bậc thang toàn sỏi đá khô cằn, rãnh nước dẫn vào đã bị đất lở lấp kín, đất đai nứt nẻ xám xịt:

"Thằng nhóc Lý Giang Điền kia! Mày nhỏ con nhất, nhận ba sào ruộng góc núi đó cho ta! Ruộng đó đất hơi cằn một tí, nhưng bù lại yên tĩnh, tha hồ mà tu luyện!"

Mấy tên đệ tử bên cạnh liếc nhìn Lý Quân với ánh mắt vừa thương hại vừa cười thầm. Ai cũng biết mảnh ruộng góc núi đó nổi tiếng là "ruộng chết", đất pha đá vôi cằn cỗi lại thiếu nước tưới, vụ trước đã làm cho hai đệ tử ngoại môn vì không đủ sản lượng nộp tô mà bị phạt đánh đòn roi roi gãy xương sườn!

Đứng trước sự chèn ép trắng trợn và bất công tột cùng, Lý Quân không hề nổi giận, cũng chẳng hề biểu lộ một tia bất mãn nào trên gương mặt.

Hắn nhớ tới lời dạy của cha Lý Chấn bên bếp lửa nhà ngói: "Cây tre trước bão thì uốn mình sát đất, đợi gió qua rồi lại vươn thẳng lên trời".

Lý Quân khẽ mỉm cười chất phác, bước tới trước mặt Trần Đại Cương, vòng tay cúi đầu thật sâu:

"Dạ, tiểu đệ là người mới đến, tay chân vụng về, được Đại Cương sư huynh chỉ bảo là phúc phận lớn. Tiểu đệ xin nhận mảnh ruộng đó, nhất định sẽ dốc sức chăm sóc, không để sư huynh phải bận tâm."

Vừa nói, Lý Quân vừa kín đáo móc từ trong túi áo ra một mẩu răng nanh lợn rừng nhỏ xíu bóng loáng nhét nhẹ vào lòng bàn tay Trần Đại Cương:

"Tiểu đệ đi rừng nhặt được mẩu nanh thú này, không đáng là bao, xin biếu sư huynh làm đồ gọt bút."

Trần Đại Cương khẽ siết bàn tay lại, cảm nhận độ cứng cáp và trơn nhẵn của chiếc nanh thú cấp một trung kỳ, khóe miệng bất giác giật giật, ánh mắt cau có bỗng dịu đi đôi chút. Hắn liếc nhìn Lý Quân, thầm nghĩ: "Thằng nhóc này tuy nhà quê nhưng biết điều, biết trước biết sau!".

"Hừ, biết điều thế là tốt! Thôi, cầm lấy cuốc với chìa khóa lán xép góc đồi mà dọn dẹp đi. Ngày mai bắt đầu xuống đồng tháo nước làm đất!" Trần Đại Cương hất cằm, phất tay cho qua.

"Dạ, cảm ơn sư huynh!"

Lý Quân vác chiếc cuốc sắt cùn lên vai, lẳng lặng quay người bước về phía góc đồi xa xôi.

Đêm Thiết Sơn lạnh như cắt thịt.

Gió ngàn rít từng hồi u u qua vách đá, luồn qua những khe nứa của căn lán xép nhỏ xiêu vẹo.

Bên trong căn lán, Lý Quân thắp một ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên khúc gỗ mục. Hắn cởi chiếc áo chàm lấm bụi, ngồi xếp bằng trên manh chiếu rách trải trên sàn nứa gập ghềnh.

Dưới ánh trăng mờ chiếu qua kẽ lá cọ, thiếu niên mười ba tuổi rút thanh Long Văn Cổ Kiếm đặt ngang trên đầu gối. Thân kiếm bằng đồng thau màu vàng sẫm phảng phất một luồng kiếm ý lạnh buốt, phản chiếu đôi mắt đen láy trong suốt và sâu thẳm như giếng nước ngàn năm.

Hắn thò tay vào ngực áo, chạm nhẹ vào Mảnh Trống Đồng Lưỡng Nghi đang tỏa ra hơi ấm dịu dàng.

Ba sào ruộng cằn cỗi đầy sỏi đá kia, đối với người khác là nấm mồ chôn vùi tiền đồ tu tiên. Nhưng đối với một đứa trẻ mang trong mình Thủy Mộc Chân Khí và dòng linh dịch thần thánh của Trống Đồng, đó lại là nơi ẩn mình hoàn hảo nhất giữa chốn giang hồ hiểm ác!

Nơi đây hẻo lánh, không ai dòm ngó, không ai để ý. Hắn sẽ âm thầm ươm mầm Huyết Đằng, tôi luyện thể phách, chuẩn bị từng bước vững chắc cho chuyến hành trình tiến vào rừng già Cúc Phương tiếp theo!

Gió bấc bên ngoài vẫn gầm réo rít từng cơn, nhưng bên trong căn lán nhỏ, ngọn lửa đèn dầu vẫn đứng im, tỏa sáng một vùng ấm áp kiên cường.

THƠ KẾT CHƯƠNG:

Tác giả: Xuân Hội

Đỉnh biếc mù sương phủ bóng thanh,
Chợ phiên họp núi khói mờ quanh.
Đồi thông đá dựng reo đầu nhánh,
Ruộng lúa bùn non đọng nước xanh.
Áo vải rèn tâm soi lẽ thẳng,
Đồng môn giấu tiếng giữ lòng lành.
Rừng sâu đợi gió vươn ngàn dặm,
Bản lĩnh Giang Điền rạng chí anh.

0