Bách Việt Hùng Đồ

Quyển 2: Giáo

Chương 16: Đất Mới

Đăng: 08/10/2026 03:22 4,290 từ 3 lượt đọc

Chín năm trôi qua kể từ cái đêm Trang Công và mẹ ông đi lên khỏi đường hầm. Chín năm ấy trôi đi theo một cách mà về sau Nam Kha không kể lại được thành chuyện, bởi nó không có cao trào cũng không có bước ngoặt, chỉ có mùa nối mùa, lúa gặt rồi lại gieo, người mới đến rồi người cũ đi. Cái nhóm hơn chục người ngày nào lớn dần thành hai mươi ba người bằng những lần cứu lẻ một hai mạng ở bến sông, ở rìa những đoàn buôn mà Doãn Phúc chỉ chỗ, ở mấy cái chợ nhỏ mà Cao Cát biết tên.

Chín năm ấy cũng đủ để phương bắc đổi chủ. Chu Bình Vương chết vào năm thứ ba và cái chết ấy kéo theo một chuyện mà Nam Kha đã đọc trong sách rồi ngồi nghe người ta kể lại ngay trước mặt mình. Chuyện kể rằng triều Chu định giao quyền cho Quắc Công, rằng Trịnh biết và rằng Tế Túc dẫn người sang cắt lúa mạch ở đất Ôn vào tháng tư đầu mùa hè, rồi mùa thu quay lại lấy nốt lúa Thành Chu. Nam Kha nghe tin ấy bên bếp lửa, tay vẫn cầm bát cháo. Anh nhớ dòng chữ trong giáo trình gọi chuyện đó là chỗ nhà Chu bắt đầu mất mặt với chư hầu, nhưng ở đây nó chỉ là một tin ở chợ, kể xong thì người ta quay sang bàn giá muối.

Trong nhà thì chín năm đo bằng người chứ không đo bằng sự kiện. An từ đứa bé vẽ thỏ trên đất thành thiếu niên biết vác, biết đếm, biết ngồi im khi người lớn bàn việc. A Phúc cao vượt Nam Kha nửa cái đầu mà đi rừng vẫn không tạo ra tiếng nào. Bà Cả phải chống gối mới đứng dậy được và bà chống gối bằng vẻ mặt bực bội của người không chịu thừa nhận mình đang già. Nghĩa từ cậu thiếu niên tập giáo vụng về thành một người đàn ông hai mươi lăm tuổi vai dày và cao hơn cha nửa cái đầu. Còn Nam Kha thì vẫn thế và cái vẫn thế ấy chưa ai nói ra thành lời, dù đã có người nhìn anh lâu hơn mức cần thiết rồi quay đi.

Rồi mùa hè năm thứ mười, lính Trịnh đi đánh Tống. Không phải trận lớn, không phải đại chiến, chỉ là một trong vô số cuộc chinh phạt nhỏ mà các nước chư hầu tiến hành với nhau đều đặn như mùa vụ. Hôm nay đánh qua, ngày mai đánh lại, giành một ấp biên, mất một ấp biên, lính chết vài chục, tướng lập chút công, rồi rút về, rồi lại đánh. Cả vùng Trung Nguyên sống trong cái nhịp ấy đã bao đời, đánh nhau như thở, quen đến mức gần như nhàm chán.

Nhưng lần này khác vì lần này trong đoàn quân tuần biên phía nam có một nhóm lạ mặt mà phần lớn lính Trịnh không biết gọi bằng gì. Họ da ngăm hơn người Trịnh, nói Nhã ngữ còn lơ lớ, tóc buộc kiểu khác, giáp mặc không giống ai. Khi đi rừng thì lặng lẽ đến mức lính hậu cần đi phía sau nhiều lúc quên mất có họ ở phía trước.

Nam Kha đứng trên mỏm đất cao nhìn xuống con đường mòn xuyên rừng nơi đoàn tuần biên đang dừng nghỉ. Anh nghĩ rằng nếu có ai ở thế kỷ 21 nhìn cảnh này từ trên cao, họ sẽ thấy một nhúm người nhỏ xíu lẫn trong một nhúm người lớn hơn một chút, giữa một cánh rừng rộng đến mức nhìn từ vệ tinh chắc cũng chỉ là một vệt xanh vô nghĩa. Nhúm người nhỏ xíu ấy đang cố gắng tồn tại bằng cách đi trinh sát vùng biên cho quan đại phu Công Tôn Hoạch, một công việc mà không lính Trịnh nào muốn làm vì rừng rậm, muỗi nhiều, đường đi khó và công trạng ghi được chẳng bao nhiêu.

Nhưng Nam Kha muốn làm và Nam Kha xin làm. Và để xin được, anh đã ngồi trước mặt Dĩnh Khảo Thúc ba buổi sáng liên tiếp.

Buổi đầu tiên, anh nói:

"Nhóm Việt cần danh, ông đã nói chỗ đứng không tự đến, phải đi lấy và cách lấy nhanh nhất ở thời đại này là chiến trường."

Dĩnh Khảo Thúc gãi cằm không đáp. Ông ta uống nước, nhìn ra sân tập nơi Nghĩa đang luyện giáo một mình dưới nắng sớm.

Buổi thứ hai, Nam Kha quay lại, mang theo một bản đồ vẽ tay mà Cao Cát dựng, ghi rõ các ấp biên phía nam Trịnh giáp Tống. Anh đánh dấu vùng rừng nơi nhóm Việt có thể trinh sát hiệu quả hơn lính Trịnh vì họ quen rừng, quen địa hình, quen cách đọc dấu chân trên lá mục. Dĩnh Khảo Thúc nhìn bản đồ, gãi cằm, rồi nói:

"Ngươi không xin đánh dưới cờ của ta?"

Nam Kha lắc đầu.

"Không. Xin đánh dưới danh nghĩa riêng."

Dĩnh Khảo Thúc nhìn Nam Kha lâu, lâu đến mức Nam Kha suýt nghĩ ông sẽ từ chối. Rồi ông cười, tiếng cười trầm ngắn, kiểu người vừa nghe ai nói đúng thứ mình muốn nghe nhưng không chắc người nói có đủ sức làm hay không.

"Tự bay à?"

"Vẫn dưới cánh của ông."

Nam Kha đáp.

"Nhưng bay bằng cánh của mình."

Buổi thứ ba, Dĩnh Khảo Thúc không nói gì về chuyện đó nữa. Ông chỉ gọi Nam Kha đến, đặt bát cháo trước mặt, rồi nói trong lúc ăn với giọng bình thản như đang bàn chuyện thời tiết:

"Công Tôn Hoạch cần người trinh sát vùng biên phía nam. Cao Cát nói với ta rồi. Ngươi đi đi. Đánh mà sống về thì tự có danh."

Câu ấy gọn và thẳng, đúng kiểu Dĩnh Khảo Thúc: không hứa, không dặn, không khen, chỉ mở cửa rồi để người bước qua tự lo.

Công Tôn Hoạch là đại phu giữ ấp biên phía nam, năm mươi tuổi, gầy, mặt dài, tính cẩn thận đến mức gần như keo kiệt. Ông ta nhìn nhóm Việt lần đầu bằng đôi mắt mà Nam Kha quen thuộc lắm rồi, đôi mắt của người đang tính toán xem nhóm này có giá trị gì cho mình hay chỉ là thêm mồm ăn.

Cao Cát đã chuẩn bị cho cuộc gặp này kỹ hơn cả Nam Kha tưởng. Trước khi Nam Kha đến, Cao Cát đã gửi tin cho người quen ở ấp Công Tôn Hoạch, kể về nhóm Việt trinh sát giỏi, quen rừng, ít ăn làm nhiều. Quan trọng nhất là họ không tranh công với lính Trịnh mà chỉ muốn lập danh riêng. Câu "không tranh công" là câu Cao Cát biết Công Tôn Hoạch muốn nghe nhất, vì bất cứ đại phu nào cũng sợ nhất chuyện lính lạ về ấp mình rồi lấy mất công trạng của quân mình. Cao Cát hiểu điều đó vì Cao Cát hiểu người, hiểu từ cái cách ông ta quản lý hậu cần cho cả nhóm mà không ai thấy ông ta quản lý.

Công Tôn Hoạch giao cho nhóm Việt dải rừng phía nam, nơi lính Trịnh ngại vào vì rậm rạp, nhiều thú dữ, đường đi khó. Ngoài ra quân Tống cũng thỉnh thoảng cho toán nhỏ vào thăm dò.

"Các ngươi giữ rừng ấy cho ta."

Công Tôn Hoạch nói gọn, không khách sáo, kiểu người coi đây là giao kèo chứ không phải ân huệ.

"Gặp quân Tống thì đánh. Gặp thú thì tránh. Chết thì chôn, sống thì về báo."

Nam Kha gật đầu. Anh nghĩ rằng ở thế kỷ 21, cuộc đàm phán này sẽ cần hợp đồng dài mười trang, điều khoản trách nhiệm, bảo hiểm nhân mạng, quy định bồi thường. Nhưng ở đây, thế kỷ bảy trước Công nguyên, chỉ cần một câu giao việc, một cái gật đầu nhận. Và cả hai bên đều hiểu là nếu ngươi làm tốt thì ta ghi nhận, nếu ngươi chết thì ta không nợ, luật chơi rõ ràng đến mức tàn nhẫn. Cái tàn nhẫn ấy lạ thay lại minh bạch hơn bất cứ bản hợp đồng nào anh từng đọc trong giáo trình luật kinh doanh năm ba.

Nhóm Việt vào rừng, mười bảy người lúc đầu. Đăng đi trước, rìu trên vai, bước chân nặng nhưng đều, lưng rộng, vai hơi gù bên phải nơi cán rìu hay tì vào. Khi ông ta bước qua tán rừng rậm, cành gãy dưới chân nghe rõ mồn một trong cái tĩnh lặng ẩm ướt của rừng buổi sáng. Mồ hôi ướt lưng áo ông dù trời chưa nóng vì đi rừng rậm không có gió và hơi ẩm bám vào da như một lớp màng mỏng không cách nào phủi. Mùi lá mục và mùi đất ướt quyện lại thành một thứ mùi mà Nam Kha đã quen đến mức gần như thương, vì mùi rừng là mùi đầu tiên anh ngửi khi tỉnh dậy ở thời đại này, là mùi của nơi anh gặp A Phúc. Còn bây giờ, mỗi lần ngửi lại, nó không còn lạ mà gần, gần kiểu một người bạn cũ mà anh đã quá quen để còn nhận ra mình đang nhớ.

A Phúc đi cạnh Nam Kha, hai mươi hai tuổi rồi mà vẫn nhanh nhẹn kiểu con sóc, mắt liên tục quét hai bên đường, thỉnh thoảng quay lại nhe răng cười với Nam Kha rồi lại quay đi. Cái cười ấy ngắn và rộng, không giữ lại gì, vẫn là thứ khiến Nam Kha yên tâm nhất trong cả đoàn vì A Phúc cười nghĩa là chưa có gì nguy hiểm. Còn khi A-Phúc ngừng cười thì mọi người tự biết phải im lặng.

Đi được chừng nửa buổi, A- húc dừng lại ngửi, rồi quay sang Nam Kha và nói bằng tiếng Lạc Việt cổ nhanh, giọng phấn khích nhẹ:

"Có nước gần đây."

"Gần là bao xa?"

Nam Kha hỏi.

A Phúc nghiêng đầu suy nghĩ, rồi giơ hai ngón tay. Nam Kha không biết hai ngón tay nghĩa là hai trăm bước hay hai quả đồi, nhưng anh đã học được rằng khi A Phúc nói "gần" thì đúng là gần. Vì cậu ta không bao giờ nói sai về rừng, cậu sai về rất nhiều thứ khác nhưng về rừng thì không bao giờ.

"Đi."

Nam Kha nói. A Phúc cười rồi quay đầu chạy trước.

Lĩnh đi phía sau, vai gồng, mắt hẹp, giáo cầm thấp, bông lúa khô vẫn giắt ở ngực giáp, đã héo quắt nhưng vẫn ở đó. Nam Kha nhìn bông lúa ấy mà nó kéo về A Sơn, kéo về trận Kinh, kéo về cái tên đầu tiên trong danh sách mà anh không viết ra giấy nhưng ghi nhớ trong đầu. Sáng nào anh cũng đọc thầm một lần vì anh đã tự hứa rằng nhớ tên người chết, nhớ cho đến khi nào anh không nhớ được nữa thì thôi.

Ở ấp Dĩnh, Mị Linh gửi tin qua Lý Trực rằng đội Sương đã thêm ba người, nàng huấn luyện họ mỗi sáng ở bìa rừng phía bắc. Lần cuối Lý Trực đến thấy nàng đang dạy một cô gái người Việt mới cách giương cung mà không run tay, kiên nhẫn sắc lạnh mà chính xác, kiểu người đã sống trong rừng đủ lâu để biết vội là chết.

Chuyến trinh sát đầu tiên kéo dài bảy ngày. Không có trận đánh lớn mà chỉ gặp một toán quân Tống mười người đang thăm dò biên giới. Nhóm Việt phục kích nhanh và gọn theo kiểu Nam Kha đã học từ trận cứu nô lệ và từ trận Kinh nhưng giờ đã khá. Bây giờ nhóm đã có nhịp, đã biết chờ, biết đánh đúng lúc thay vì xông vào rồi tính sau. Đăng chém ba người bằng ba nhát rìu, nhanh đến mức hai người còn lại trong toán Tống nhìn thấy mà chân cứng lại, không phải vì sợ mà vì không hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Vì lính Tống quen đánh lính Trịnh, quen kiểu đâm giáo đỡ khiên, nhưng chưa bao giờ thấy ai cầm rìu chiến mà chém kiểu ấy. Kiểu mỗi nhát như núi đổ, không nhanh nhưng không cách nào tránh vì khi đã thấy rìu rơi thì đã muộn.

Lính Tống sống sót bỏ chạy, Nam Kha không cho đuổi.

"Để họ về kể lại."

Anh nói với Lĩnh.

"Kể cho người Tống biết rừng này có người giữ."

Lĩnh nhìn Nam Kha rồi gật đầu. Trong mắt cậu, lần đầu tiên Nam Kha thấy một thứ gì đó mới. Không phải tin tưởng, Lĩnh đã tin từ lâu, mà là một sự thoải mái rất nhẹ, kiểu người bắt đầu hiểu rằng kẻ mình đi theo không chỉ biết đánh mà còn biết nghĩ. Và cái biết nghĩ ở chiến trường quan trọng hơn biết đánh rất nhiều.

Nam Kha báo Công Tôn Hoạch rằng rừng sạch, quân Tống rút, ba người chết phía Tống, nhóm Việt không mất ai.

Công Tôn Hoạch nghe và im lặng một lúc rồi gật đầu.

"Đi chuyến nữa. Rừng phía đông."

Không khen, không thưởng, chỉ giao thêm việc nhưng Nam Kha hiểu giao thêm việc là khen. Ở thời đại này, tin ai thì giao việc, không tin thì để ngồi không. Công Tôn Hoạch vừa nói bằng hành động rằng ông tin nhóm Việt giữ rừng được.

Ba chuyến, năm chuyến rồi bảy chuyến. Mùa hè qua rồi mùa thu đến, lá rừng chuyển vàng, mùi khói bếp từ ấp biên bay vào rừng mỗi chiều. Nhóm Việt đi về giữa rừng và ấp đều đặn như thuỷ triều. Nam Kha không đếm chuyến nữa mà chỉ đếm người.

Hai mươi ba.

Không phải hai mươi ba chiến binh, không phải hai mươi ba tay kiếm tay giáo mà là hai mươi ba người. Trong số sáu người mới, có hai người là thợ rèn Việt mà Lý Trực tìm được qua mạng lưới thương nhân cũ của Doãn Phúc. Họ sống ở ấp phía đông Trịnh, đã mấy chục năm đúc đồ cho quý tộc Trịnh mà vẫn bị gọi là "bọn man di". Khi Lý Trực đến hỏi "có muốn về với người mình không" thì họ nhìn nhau, nhìn lò rèn, nhìn đôi tay đầy vết bỏng rồi gật đầu không cần hỏi thêm, vì hai chữ "người mình" nặng hơn bất cứ lời hứa nào.

Hai người nữa là nông dân mất đất, người Việt lai, nói tiếng Lạc Việt cổ lơ lớ nhưng vẫn nhận ra nhau qua vài âm thanh mà chỉ người Việt mới phát hiện, kiểu như cách người Việt ở bất cứ đâu trên thế giới cũng nhận ra nhau qua một tiếng "dạ" hay một cái gật đầu. Nam Kha nghĩ rằng có lẽ đó là thứ không bao giờ mất, dù ba nghìn năm hay ba vạn năm, dù lưu lạc đến đâu, cái gốc ấy vẫn còn ở đâu đó trong thanh âm, trong nhịp thở, trong cách người ta gọi nhau khi đêm xuống.

Hai người cuối là lính Trịnh bỏ ngũ, không phải người Việt nhưng theo Đăng, vì Đăng đã cứu mạng họ trong một chuyến tuần biên khi toán của họ bị phục kích. Từ đó họ xin theo, không phải vì nghĩa lớn gì, chỉ vì ở thời đại này, mang ơn mạng sống thì phải trả. Họ trả bằng cách đi cùng người cứu mình, cách thức đơn giản, thẳng thắn, không cần ký hợp đồng.

Đăng không nói gì khi hai người lính ấy xin theo. Ông ta chỉ nhìn rồi gật đầu, rồi quay đi mài rìu. Từ hôm ấy hai người lính Trịnh ăn chung, ngủ chung, canh gác đêm chung với nhóm Việt. Không ai hỏi họ từ đâu đến, vì ở nhóm này, câu hỏi quan trọng không phải "ngươi từ đâu" mà là "ngươi có ở lại không".

Lính Trịnh bắt đầu gọi Đăng bằng một cái tên.

"Tên câm cầm rìu."

Lúc đầu là chế giễu vì Đăng gần như không bao giờ nói chuyện, Nhã ngữ của ông ta chỉ ở mức vài chục từ cơ bản. Ngay cả khi nói được ông ta cũng không thèm nói, chỉ gật đầu hoặc lắc. Cái rìu chiến trên vai ông ta lúc nào cũng ở đó, kể cả khi ăn, kể cả khi ngủ. Rìu nằm trong tầm tay cách đầu Đăng chừng một gang, như một phần cơ thể mà ai lấy đi thì ông ta thiếu. Binh lính Trịnh thấy thế thì cười, cười kiểu lính cười người lạ, cười ồn và thoáng, không ác nhưng cũng không tử tế.

Rồi sau ba chuyến tuần tra biên giới, sau khi lính Trịnh tận mắt thấy Đăng chém ba người Tống bằng ba nhát rìu mà không thay đổi nhịp thở, sau khi một tên lính trẻ hỏi "tên câm cầm rìu đánh giỏi vậy sao không nói gì". Một tên lính già đáp "nói gì, nói mà làm gì, rìu nói rồi" thì cái tên ấy bắt đầu đổi vị, từ chế giễu sang kính nể. Khi lính Trịnh nói "tên câm cầm rìu" thì giọng họ nhỏ hơn, nhanh hơn, kiểu người nói về thứ mình không hoàn toàn hiểu nhưng biết chắc không muốn đối mặt.

Nam Kha nghe cái tên ấy mà mỉm cười, vì Đăng đang làm đúng thứ mà ở thế kỷ 21 người ta gọi là branding mà không cần agency nào cả. Ông ta chỉ cần rìu, cần im lặng và cần mỗi nhát chém đều đáng nhớ.

"Lần sau tôi sẽ viết cho anh một tagline."

Nam Kha nói nhỏ bằng tiếng Việt hiện đại. Anh biết Đăng không hiểu, nhưng Đăng quay sang nhìn và thấy Nam Kha cười thì cũng cười. Nụ cười ngắn và hiếm, kiểu nứt nhẹ trên mặt đá, rồi lại quay đi mài rìu.

Một buổi chiều cuối thu, nắng nghiêng vàng trên mặt sân doanh trại, Nam Kha vừa dẫn nhóm trở về từ chuyến tuần biên thứ bảy thì lính canh nói Dĩnh Khảo Thúc cho gọi.

Nam Kha rửa mặt, thay áo, đi lên lán tướng.

Dĩnh Khảo Thúc ngồi ở bậc gỗ trước lán, không phải trong lán, mà ở ngoài, chỗ ông hay ngồi khi trời đẹp. Lưng ông dựa cột, chén nước trên tay, trường mâu dựng bên cạnh. Ông nhìn Nam Kha đi tới bằng đôi mắt mà Nam Kha đã quen, đôi mắt vừa đánh giá vừa ấm, kiểu người vừa nhìn con dao mình rèn vừa muốn biết nó đã sắc chưa.

"Mấy chuyến rồi?"

Dĩnh Khảo Thúc hỏi, dù ông biết, ông hỏi là để nghe Nam Kha nói.

"Bảy."

"Mất ai chưa?"

"Chưa."

Dĩnh Khảo Thúc gãi cằm, nhấp nước, rồi gật đầu. Cái gật nhẹ của người hài lòng nhưng không muốn tỏ ra hài lòng. Vì ở cạnh Dĩnh Khảo Thúc, khen sớm là giết người, khen khi họ chưa đủ giỏi thì họ sẽ ngừng cố gắng. Ông không khen vì ông muốn Nam Kha cố gắng thêm.

"Ngươi có người tốt."

Ông nói. Câu ấy nghe bình thường nhưng Nam Kha biết nó nặng, vì Khảo Thúc ít khi nhận xét về người của ai khác.

"Nhưng người tốt mà không có tướng giỏi giữ thì dễ tan. Ngươi biết không?"

Nam Kha biết. Anh biết rõ đến mức cổ họng thắt lại. Vì câu ấy từ miệng Dĩnh Khảo Thúc, vừa là lời dạy vừa là lời tiên tri mà ông không hề hay biết. Vì chính ông, người tốt nhất mà Nam Kha gặp ở thời đại này, cũng sẽ không có ai giữ khi mũi tên Tử Đô bay đến. Anh đang ngồi đây nghe ông dạy về sự tan rã mà ông chính là minh chứng sắp tới và anh không nói được mà chỉ gật đầu, nuốt lời vào bụng rồi giữ ở đó.

"Biết."

Nam Kha đáp gọn.

Dĩnh Khảo Thúc nhìn anh một lúc, kiểu ông nhìn lúc ở miệng hầm Hoàng Tuyền, kiểu nhìn thấy gì đó sâu hơn câu trả lời. Rồi ông quay đầu về phía sau lán gọi to:

"Vào đi."

Một người bước ra. Dáng cao gầy, mặt xương, da sạm nắng đến mức gần như đồng, tóc búi chặt, giáp cũ nhưng sạch sẽ đến mức mỗi miếng đồng trên giáp đều phản chút ánh chiều. Tay phải ông ta cầm một cây giáo dài, cầm không phải kiểu đang cần mà kiểu đã cầm cả đời, ngón tay ôm cán tự nhiên như cán giáo mọc ra từ bàn tay. Bước chân người này đều và nặng, kiểu bước chân của kẻ đã đi trên rất nhiều chiến trường mà không vội về bất cứ đâu.

"Phó tướng ấp Dĩnh."

Dĩnh Khảo Thúc nói, giọng bình thường, không giới thiệu long trọng. Vì ở quân ngũ, giới thiệu long trọng là cho người ngoài, còn người trong chỉ cần biết nhau mặt là đủ.

"Ta giao ông ấy dẫn ngươi mấy chuyến tới."

Người ấy nhìn Nam Kha và Nam Kha nhìn lại.

Không lạnh, không nóng, chỉ là một cái nhìn thẳng, kiểu hai người đang cân nhau trên một cái cân vô hình. Nam Kha thấy trong mắt người ấy không có gì ngoài một sự kiên nhẫn rất lạ, kiểu kiên nhẫn của người đã chờ quá nhiều lệnh, đã dẫn quá nhiều chuyến, đã theo quá nhiều người. Bây giờ được giao thêm một người nữa để dẫn, người đó không vui không buồn, chỉ nhận, rồi đi. Vì đó là việc của ông ta và ông ta chỉ làm việc của mình.

"Chào."

Nam Kha nói bằng Nhã ngữ, lịch sự và đúng phép.

Người ấy không đáp, chỉ gật đầu, một cái gật ngắn hơn cả gật của Đăng. Rồi ông quay sang nhìn Dĩnh Khảo Thúc chờ lệnh.

Dĩnh Khảo Thúc vỗ đùi mình rồi đứng dậy cười:

"Ông ấy ít nói hơn cả thằng cầm rìu của ngươi. Nhưng ba trăm lính ấp Dĩnh nghe ông ấy như nghe sấm. Ngươi chịu khó nhé."

Rồi Dĩnh Khảo Thúc đi vào lán, để hai người đứng lại với nhau. Nắng chiều rải trên sân, mùi cơm bếp lính bay nhẹ từ phía doanh trại, tiếng lính hậu cần gọi nhau ăn cơm vọng lại lẫn trong tiếng gió.

Nam Kha nhìn người ấy, người ấy nhìn Nam Kha. Trong cái im lặng dài giữa hai người xa lạ, Nam Kha nghĩ: ba trăm lính tinh nhuệ, một phó tướng đã theo Khảo Thúc hai mươi năm. Mình vừa được giao thứ mà ở thế kỷ 21 gọi là "team lead với team senior hơn mình gấp mấy lần". Kiểu thực tập sinh được CEO giao quản lý bộ phận cứng nhất công ty. Nếu anh không chứng minh được mình xứng đáng thì cái gật đầu kia sẽ là cái gật duy nhất anh nhận. Còn ba trăm lính ấy sẽ nghe phó tướng chứ không nghe anh. Đúng thôi, vì họ đã đi cùng ông ta hai mươi năm còn anh thì mới đến.

Người ấy nói câu đầu tiên bằng giọng khàn ngắn và phẳng:

"Sáng mai ta đi. Ngươi sẵn sàng chưa?"

Nam Kha gật đầu.

"Sẵn sàng."

Người ấy gật lại rồi quay đi, bước chân vẫn đều, vẫn nặng, về phía khu lính ấp Dĩnh ở rìa doanh trại. Nam Kha nhìn theo tấm lưng gầy nhưng thẳng ấy khuất dần trong nắng chiều. Tay ông ta cầm giáo, giáp ông ta sạch, bước chân ông ta không vội. Nam Kha nghĩ rằng cái cách ông ta đi giống Dĩnh Khảo Thúc đến lạ, cùng kiểu bước nặng đều, cùng kiểu lưng thẳng dù vai đã mỏi, cùng kiểu người đã đi theo ai đó lâu đến mức bước chân cũng học theo mà không biết. Nó giống cách Nghĩa gãi cằm giống cha, giống cách những người ở cạnh nhau đủ lâu thì dần giống nhau từ những chỗ nhỏ nhất mà không ai để ý.

Trời chuyển tím ở phía tây, mùi cơm đậm hơn. Tiếng Nghĩa gọi Nam Kha ăn cơm vọng từ bếp. Nam Kha đứng thêm một lúc nhìn nắng tắt, rồi đi về phía tiếng gọi. Anh suy nghĩ trong lúc bước đi, rằng ván cờ đang mở rộng, nhóm Việt đang lớn, đất mới đang mở, nhưng đất mới nào cũng có giá. Cái giá ấy anh biết, nó nằm ở phía trước, nơi mũi tên Tử Đô đang chờ, nơi Dĩnh Khảo Thúc sẽ ngã, nơi anh sẽ phải đứng bằng chân mình trên mảnh đất mà ông đã dọn cho anh. Anh chưa biết mình có đứng nổi hay không, chỉ biết rằng phải cố gắng vì không có lựa chọn nào khác.

Được rồi, cứ ăn cơm đã rồi tính sau.

0