Chương 33: Bản Trát Ba Dấu Mộc
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Gió bấc rít qua những khe nẹp của gian chái trọ nghe như tiếng rên rỉ nghẹn ứ của một người đang hấp hối dưới lòng mương.
Khi tiếng mõ canh năm vừa buông những tiếng rời rạc ngoài điếm canh đầu đê, rặng nhãn già đầu xóm mới bắt đầu hiện ra những hình thù xơ xác, đen đúa giữa màn sương muối mùa đông. Ánh sáng của ngày mới chưa thực sự tới; nó chỉ là một thứ ánh bạch nhờ nhờ, lạnh lẽo, hắt qua những lỗ thủng trên mái rạ, rọi xuống nền đất nện ẩm ướt đầy những vết chân ngựa đóng váng phèn.
Vương Quang ngồi bất động trên mép chõng tre suốt nửa canh giờ.
Hắn biết rõ, nếu cứ để cánh tay này nguyên trạng mà bước vào tàng thư lầu, hắn sẽ chẳng trụ nổi qua hai ngày nữa. Cơn đau không còn là những nhát chém buốt giá của đêm qua; nó đã chuyển sang một thứ nhiệt lượng âm ỉ, hâm hấp nóng, giật từng nhịp phập phồng từ các khớp xương cổ tay lan dần lên bả vai. Dưới lớp vải sô cáu bẩn, một mùi tanh lờ lợ bắt đầu bốc lên.
Ở chốn quan nha này, phu dịch chết vì mủ xanh hay sốt rét rừng chẳng phải chuyện hiếm. Một khi vết thương bốc mùi thối, người ta chỉ việc khiêng cái xác quẳng ra bãi cồn cát ven sông trước giờ điểm danh buổi sớm, rồi gạch một nét mực đen vào sổ nhật trình là xong một kiếp người.
Hắn dùng bàn tay trái lành lặn chống xuống đầu gối, chậm rãi đứng dậy.
Khớp xương sống kêu lên những tiếng rắc... rắc khô khốc. Mỗi cử động nhỏ ở bả vai đều kéo giật vào phần thịt mềm quanh cổ tay phải, làm hắn phải nghiến chặt răng nén một cơn choáng váng. Vương Quang vịn vào vách đất, lết từng bước ra ngoài cửa nách.
Gian bếp nấu nước của đám phu trạm ngựa nằm ngay bên cạnh, khói trấu om từ đêm qua vẫn âm ỉ tỏa ra qua kẽ liếp, nồng nặc mùi tro ướt và mồ hôi gia súc. Trên chiếc kiềng sắt ba chân cáu muội than, một chiếc nồi đồng sứt quai đang đặt nghiêng, nước mưa đun sôi từ sớm để đám lính cơ pha trà đặc đang bốc hơi nghi ngút. Gã phu ngựa già ngồi xổm bên đống rơm khô ngái ngủ, hai tay ôm khư khư lấy chiếc điếu cày bằng tre đực đã lên nước bóng lộn.
Vương Quang không nói gì. Hắn bước lại gần, thò bàn tay trái móc từ túi áo ra ba đồng kẽm vụn — ba đồng trong số tiền công mà lão Đỗ nhả lại hôm qua — đặt lên mặt cối đá giã cua bên cạnh lò trấu.
"Bác cho cháu xin bát nước sôi, với nửa chén rượu cúng thừa."
Gã phu ngựa già liếc nhìn ba đồng tiền kẽm nằm trên mặt đá, rồi đảo mắt nhìn sang cánh tay bọc vải sô đẫm máu của Vương Quang. Đôi mắt kèm nhèm của lão khẽ co rút lại khi thấy thanh gá bằng đồng đen lấp ló dưới mép áo nâu rách bươm. Lão không hỏi một lời. Ở cái xó xỉnh này, ba đồng kẽm đủ mua một ấm trà tươi và hai mẩu thuốc lào; còn lai lịch hay thương tích của một tên chép mướn thì chẳng đáng để bận tâm.
Lão già vớ chiếc gáo dừa múc một gáo nước sôi sùng sục đổ vào chiếc âu sành của Vương Quang, rồi tiện tay nhấc chai rượu nếp cất dở giấu dưới đống rơm khô, rót chừng lưng chén thứ rượu đục ngầu, sặc mùi men mốc. Đoạn, lão với tay bốc một nhúm lá trầu không khô cùng mấy mẩu vôi tôi đã bở trên xà bếp ném vào chiếc rế tre:
"Cầm lấy. Muốn rửa thì dùng rượu với nước nóng. Đừng nghe người ta đắp tro bếp hay rắc thuốc lào bậy bạ, ròi nó rúc vào tủy thì chỉ có nước cưa xương."
Vương Quang cúi đầu cảm tạ, dùng tay trái cẩn thận bưng âu nước nóng và bát rượu quay trở lại gian chái trọ tăm tối.
Hắn đặt âu nước lên mặt chiếc hòm gỗ mục.
Việc đầu tiên, hắn rút con dao rọc giấy bản nhỏ bằng ngón tay út, mũi dao mài mỏng dính cài bên hông cuốn sổ địa bạ. Hắn hơ mũi dao qua ngọn lửa đĩa đèn dầu lạc cho đến khi muội than bám đen kịt, rồi dùng một mẩu vải sạch lau khô.
Hắn nhét một mẩu tre khô vào giữa hai hàm răng, cắn chặt lại.
Bàn tay trái cầm mũi dao, Vương Quang cẩn trọng luồn lưỡi thép mỏng vào mép lớp vải sô đã khô cứng như mo nang. Lớp vải bết chặt vào miệng vết thương ở hai ngón tay dập nát từ đêm ở bãi sông.
Xoạt...
Lưỡi dao rạch một đường dứt khoát.
Vải rách toạc ra, kéo theo mảng vảy máu đen sì và những sợi xơ vải bám sâu trong thớ thịt. Máu đỏ tươi hòa lẫn với dịch vàng lập tức ứa ra, rỉ thành dòng qua kẽ tay. Cơn đau nhói buốt như ngàn mũi kim châm xộc thẳng lên đỉnh đầu khiến toàn thân Vương Quang co rút lại, mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa trên trán. Nhưng hai hàm răng hắn cắn chặt thanh tre, không để lọt ra một tiếng kêu nào.
Dưới lớp vải rách, hai đốt ngón tay trỏ và ngón giữa đã sưng húp, mép da thâm tím nham nhở, rỉ ra một thứ dịch nhờn dính nhớp vào lớp da trâu lót bên trong thanh gá đồng. Hai con đinh tán bằng đồng thau ép chặt nẹp kim loại cấn sâu vào thịt mềm, tạo thành hai vết loét tròn đỏ ửng quanh cổ tay.
Vương Quang hít một hơi sâu, dùng bàn tay trái dội thẳng nửa bát rượu nếp đặc vào vết thương.
Xèo...
Rượu cay nồng táp vào miệng thịt rách toạc làm da thịt hắn giật nảy lên bần bật. Hắn cắn nát vụn thanh tre trong miệng, vị chát đắng hòa cùng mùi máu tanh nồng xộc lên cuống họng. Rượu rửa trôi lớp dịch bẩn, làm lộ ra phần thịt đỏ lòm và những mẩu xương ngón tay bị dập méo mó.
Hắn dùng mũi dao cẩn thận gạt sạch những mảng bám nhờn dính quanh mép da chết, rồi nhúng miếng vải sạch vào âu nước sôi, vắt ráo nước để lau quanh cổ tay.
Hắn xé một dải vải thô sạch gấp lại làm ba, cẩn thận chêm vào giữa phần thịt mềm và thanh nẹp đồng đen. Miếng đệm vải ngăn không cho mép kim loại tiếp tục nghiến thẳng vào màng xương mỗi khi cử động. Đoạn, hắn dùng một dải vải khác quấn chặt hai ngón tay tàn phế lại, chỉ để lộ ra ngón tay cái và hai ngón út còn cử động được.
Thanh gá đồng đen giờ đây được cố định chắc chắn trên cổ tay, lớp vải băng trắng ôm sát lấy phần nẹp kim loại, không còn lỏng lẻo hay cọ xát trực tiếp vào miệng vết loét như trước.
Xử lý xong cánh tay, Vương Quang thở dốc từng cơn dài, trán tì vào mép hòm gỗ để lấy lại hơi thở.
Hắn nhúng góc chiếc khăn sạch vào bát nước ấm còn lại, đưa lên chấm nhẹ vào khóe mắt phải.
Vệt máu khô từ đêm qua bám quanh mi mắt bị nước ấm làm mềm ra, tan dần thành những vệt nâu nhạt trên nền vải thô. Hắn nhẹ nhàng miết sạch bờ mi, lau đi lớp gỉ mắt bết dính ở đuôi mắt. Khi lớp máu khô bong ra, mí mắt phải của hắn đã có thể chớp mở dễ dàng hơn.
Cơn nhức buốt sâu trong hốc mắt vẫn còn đó, âm ỉ và nặng trịch như có một hòn đá chôn dưới màng óc, nhưng ít nhất, hắn không còn phải nheo mắt hay gượng gạo mỗi khi nhìn vào ánh sáng ngày đông.
Vừa lúc Vương Quang buộc chặt mối vải cuối cùng, bên ngoài sân huyện nha, tiếng trống điểm mão bắt đầu vang lên rền rĩ.
Tùng... tùng... tùng... tùng...
Ba hồi chín tiếng trống đanh gọn, uy nghiêm dội qua các mái ngói rêu phong, xé toạc màn sương muối buổi sớm. Giờ làm việc của nha môn đã điểm.
Cửa liếp gian chái trọ bỗng bị ai đó gõ mạnh từ bên ngoài.
Rầm! Rầm!
"Vương Quang! Có mặt ở đấy không?"
Giọng nói the thé của một viên câu kê cất lên, sắc lạnh và gắt gỏng:
"Đàm đại nhân và quan Đốc Vận thăng đường thụ lý hồ sơ bãi Cổ Miễu. Mang theo bút mực, lập tức lên gian tả vu trình diện! Chậm một khắc, xử theo luật giải trễ công vụ!"
Vương Quang không vội vã. Hắn chỉnh lại vạt áo nâu rách bươm, kéo ống tay áo bên phải phủ kín bộ gá đồng vừa được băng bó cố định. Hắn thò tay vào đáy hòm gỗ, nhét mảnh gỗ dâu mục nát và tờ giấy dập văn bia đình làng Hạ vào sâu trong túi áo ngực, rồi cài chiếc ống tre rỗng bên hông.
"Dạ, con lên ngay."
Hắn cất tiếng đáp, giọng khàn đặc nhưng đã có lại chút hơi ấm của người sống.
Hắn bước ra khỏi gian chái trọ. Không khí lạnh buốt của sân nha môn táp thẳng vào mặt. Từng bước đi vẫn làm cổ tay phải nhói buốt từng cơn, nhưng nhờ lớp đệm vải giữ chặt nẹp đồng, bước chân của hắn không còn xiêu vẹo như đêm hôm trước.
Gian tả vu của huyện nha nằm ngay bên cạnh công đường lớn.
Nơi đây không dùng để xét xử thường dân, mà là nơi các quan lại đối chiếu sổ sách, ký phát văn thư và phân định những việc hệ trọng liên quan đến đê điều, thuế khóa liên hạt. Khác với vẻ ẩm mốc, tối tăm của phòng tàng thư bốc mùi dầu lạc, gian tả vu rộng rãi, sàn lát gạch Bát Tràng đỏ au được lau chùi bóng loáng.
Giữa phòng, một chiếc bàn dài bằng gỗ gụ chạm trổ hoa văn mây cuộn đặt sừng sững. Trên bàn thắp bốn cây nến sáp ong to bằng cổ tay, tỏa ra thứ ánh sáng vàng rực và mùi hương thanh khiết, xua tan cái lạnh giá của buổi sớm.
Ngồi sau chiếc bàn dài không chỉ có một người.
Ở vị trí chủ tọa bên tả là Đàm Thông phán. Lão mặc áo bào lục nẹp chỉ vàng, đầu đội mũ ô sa cánh chuồn ngay ngắn. Khuôn mặt vuông vức của lão phẳng lặng như mặt nước giếng, hai tay đan vào nhau đặt trên mặt bàn, chiếc nhẫn ngọc cẩm thạch ở ngón tay cái ánh lên vẻ quyền quý lạnh lùng. Ánh mắt lão nhìn chằm chằm vào khoảng không trước mặt, tuyệt nhiên không thèm liếc nhìn Vương Quang lấy nửa mắt khi hắn bước qua ngưỡng cửa.
Ngồi ở vị trí bên hữu là viên quan áo lục đêm qua — Lưu Đôn, quan Đốc Vận. Chiếc ống đồng niêm phong sáp đỏ đêm qua đã được mở ra, đặt ngay ngắn bên cạnh nghiên mực đá đoan khổng lồ.
Và ở chiếc ghế đầu hồi bên cạnh, một bóng người nữa đang ngồi co ro trong chiếc áo dài lương thâm cáu bẩn.
Lão Đỗ.
Đỗ Văn Cương ngồi nép mình ở mép ghế, hai bàn tay béo múp míp giấu chặt trong ống tay áo, đầu cúi gằm xuống sát ngực, trán lấm tấm mồ hôi dù trong phòng gió bấc không lọt qua được cửa liếp. Thấy bước chân của Vương Quang bước vào, bả vai lão Đỗ khẽ giật bắn lên một cái, nhưng lão cắm chặt mắt xuống sàn gạch, không dám hó hé lấy một hơi thở mạnh.
Vương Quang dừng lại cách mép bàn ba bước chân.
Hắn quỳ xuống một đầu gối, hai tay chắp lại trước ngực theo đúng quy củ của kẻ dưới:
"Bẩm các quan lớn, tên chép mướn Vương Quang vâng lệnh trình diện."
Lưu Đôn không ngẩng đầu lên. Bàn tay thon dài của hắn khẽ lật một tờ văn bản lớn trải dài trên mặt bàn gỗ gụ.
Đó là một bản trát lệnh khổ lớn làm bằng loại giấy lệnh bản màu vàng ngà dày dặn, viền chung quanh vẽ hoa văn mây lửa cuộn sóng nước — loại văn thư chỉ dùng khi có sự phối hợp công vụ giữa các cơ quan hành chính.
Bên cạnh tờ trát là bản lưu chiếu bãi bồi thời Cảnh Hưng đêm qua vừa thu hồi.
Đàm Thông phán khẽ động ngón tay trên mặt bàn, bờ môi mỏng mấp máy như toan mở miệng nói điều gì. Nhưng khi ánh mắt lão chạm phải dòng chữ ký nháy bằng mực son cũ kỹ nằm đè trên mép dán của tờ lưu chiếu, ngón tay lão bỗng khựng lại giữa chừng. Lão Đàm nuốt nghẹn một hơi thở, rồi từ từ khép miệng lại, tiếp tục ngồi im như một pho tượng gỗ.
Lưu Đôn đưa tay miết phẳng mép tờ trát lệnh, cất giọng trầm đục, khô khốc:
"Cọc Trấn Hà đã đóng xuống bãi Cổ Miễu. Từ đó hồ sơ địa giới không còn khớp với thực tế dòng chảy."
Hắn dừng lại nửa nhịp, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên mặt giấy lệnh:
"Văn bia đình làng Hạ ghi nhận ba mươi tám tên đinh trôi sông trong trận lụt mười năm trước. Nhưng trong sổ địa bạ lưu trữ của huyện lỵ, chỉ có ba mươi bảy suất đinh được khấu trừ. Một tên đinh bị cạo sạch dấu vết, kéo theo diện tích công điền bãi bồi bị lệch sổ, thuế má bến đò mười năm nay không thể quyết toán dứt điểm."
Lưu Đôn ngước mắt lên, ánh nhìn sắc như dao lướt qua bàn tay phải đang quấn vải trắng của Vương Quang:
"Công vụ không có chỗ cho kẻ vô dụng. Ngươi còn tay thì còn phải viết."
Hắn đẩy tờ trát lớn về phía mép bàn, hướng thẳng về phía Vương Quang.
Vương Quang ngước mắt lên nhìn vào tờ trát.
Và ngay vào khoảnh khắc ấy, hốc mắt phải của hắn bỗng nhiên giật mạnh một cái nhói buốt.
Một luồng hơi lạnh từ đáy mắt tràn lên con ngươi, khiến tầm nhìn bên mắt phải của hắn mờ đục đi như nhìn qua một lớp nước phù sa sông Đáy.
Trên mặt tờ trát lệnh khổ lớn bằng giấy bản màu vàng ngà, ba dấu mộc hiện lên, mang theo những trạng thái hoàn toàn dị thường:
Dấu mộc thứ nhất nằm ở góc trên cùng bên tả. Đó là một con dấu vuông vức bằng son đỏ tươi, khắc bốn chữ triện sắc sảo, nét cắt sâu hoắm vào thớ giấy. Dưới con mắt phải của hắn, con dấu ấy tỏa ra một vệt hơi nóng hầm hập, đỏ thẫm và đặc quánh như máu mới chảy. Mỗi lần nhìn thẳng vào tâm dấu son, hốc mắt phải của hắn lại giật lên một cơn nhức buốt khó tả, như thể đang ghé mắt sát vào miệng một lò nung kim loại đang rực lửa.
Dấu mộc thứ hai nằm ở góc dưới bên hữu, ngay cạnh dòng chữ ghi địa danh làng Hạ. Con dấu này đóng bằng thứ mực dầu màu xám xỉn, mép dấu bị mài mòn nham nhở. Đáng chú ý nhất là một vệt rạn nứt chạy chéo qua thân dấu, để lại một khoảng trắng đứt đoạn — vết nứt ấy giống hệt như đường rạn trên thân quả chuông đồng treo ở gian chái đình làng Hạ mà Vương Quang đã thấy hôm qua. Nhìn vào dấu mộc xám này, mắt phải hắn không thấy nóng, chỉ thấy một cảm giác khô khốc, nhạt nhòa như tro tàn của một nén hương cắm ngược.
Và dấu mộc thứ ba...
Nó nằm ngay chính giữa tờ trát, đè lên khoảng trống phân định giữa danh sách đinh tịch và địa bạ bãi bồi.
Bằng con mắt trái bình thường, nơi đó hoàn toàn trống rỗng, chỉ có thớ giấy dó màu vàng ngà trơ trụi.
Nhưng dưới con mắt phải đang đau buốt của Vương Quang, khoảng trống ấy không hề sạch sẽ.
Ở đó lờ mờ một vùng giấy lạnh buốt đến rợn người. Một vết mờ màu tro đen bám chặt dưới thớ giấy, hình thù không rõ ràng, chỉ loáng thoáng một nét móc cong gãy khúc như một chiếc móc sắt bị vùi dưới bùn sâu. Vùng giấy ấy tỏa ra một luồng khí lạnh thấu xương; chỉ nhìn lướt qua trong chớp mắt, khóe mắt phải của hắn đã ứa ra một giọt nước mắt cay xè, lạnh ngắt như băng tan.
Ba dấu mộc.
Một dấu nóng rực như lửa nung.
Một dấu xám xịt và rạn nứt như đồ đồng điếc.
Một vùng lạnh ngắt câm lặng ở giữa trang giấy.
Vương Quang không hiểu những dấu tích ấy rốt cuộc đại diện cho những thứ gì. Hắn chỉ nhận ra một điều rành rọt: ba dấu vết này hoàn toàn xa lạ với nhau, không thuộc về cùng một nơi, nhưng chúng đang cùng bị ép phải nằm chung trên một tờ giấy bản mỏng manh.
Lưu Đôn rút một chiếc bút lông cán đồng đen từ trong ống đựng bút trên bàn, đặt lên mép tờ trát:
"Bảy ngày. Ba mươi tám suất đinh trong sổ. Đối chiếu với sổ dương, địa bạ và văn bia. Đỗ thư lại cùng làm."
Nghe điểm tên mình, lão Đỗ ngồi bên cạnh giật bắn người, hai hàm răng va vào nhau kêu cầm cập. Lão run rẩy toan đứng dậy, miệng lắp bắp:
"Bẩm... bẩm quan lớn... việc bãi bồi mười năm trước... con già yếu mắt mờ..."
"Câm mồm." Đàm Thông phán bỗng nhiên cất tiếng. Giọng lão sắc lạnh, chặn đứng họng tên thư lại già: "Quan Đốc Vận đã định việc, nha môn chỉ có việc tuân hành. Nhận trát rồi lui ra ngoài."
Lão Đỗ nghẹn ứ nơi cổ họng, mặt mày xám ngoét như người ngâm nước, chỉ biết vâng dạ rồi thụt lùi ra sau.
Vương Quang nhìn tờ trát đặt trước mặt.
Hắn chậm rãi vươn bàn tay trái lành lặn ra, các đầu ngón tay chạm vào mép giấy bản. Tờ giấy mỏng manh nhưng khi chạm vào, hắn cảm giác như đang chạm vào một tảng đá lạnh ngắt kéo trĩu cả khớp vai.
Khi hắn nhấc tờ trát lên, thanh gá bằng đồng đen trên cổ tay phải vô tình va nhẹ vào mép bàn gỗ gụ.
Keng.
Một tiếng kim loại đanh gọn vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch.
Vương Quang nhìn thanh gá đồng đang nẹp chặt cổ tay mình.
Rồi hắn nhìn tờ trát ba dấu mộc trong tay trái.
Hắn cúi rạp đầu xuống mặt sàn gạch Bát Tràng, cất giọng khô khốc:
"Bẩm, phụng mệnh."
Hắn đứng dậy, cẩn thận cuộn tròn bản trát lại, nhét sâu vào chiếc ống tre đeo bên sườn.
Dưới ánh sáng vàng rực của những cây nến sáp ong, Vương Quang không nhìn Đàm Thông phán, không nhìn Lưu Đôn, cũng chẳng buồn đoái hoài đến lão Đỗ đang lấm lét đi thụt lùi phía sau.
Hắn quay người, bước từng bước nặng nề qua ngưỡng cửa gỗ lim, đi thẳng ra ngoài sân huyện nha ngập tràn sương muối. Gió bấc từ sông Đáy lại thổi thốc lên triền đê, buốt giá và hoang lạnh. Con mắt phải của hắn nhức buốt từng cơn dưới ánh sáng ban ngày, nhưng hắn không che lại nữa; hắn cứ thế mở mắt, lầm lũi bước đi trên con đường đất mấp mô dẫn về phía bãi bồi.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.